Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

Sự chuyển biến của giáo dục trung học phổ thông tỉnh Bình Dương thời kỳ đầu tách tỉnh (1997-2006)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (351.34 KB, 6 trang )

SỰ CHUYỂN BIẾN CỦA GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG THỜI KỲ ĐẦU TÁCH TỈNH (1997 - 2006)
Phạm Thị Thanh Nga1, Lê Thị Cẩm Nhung2
1. Trường THCS Lai Uyên. Email:
2. Trường THCS Tân Phước Khánh. Email:
TÓM TẮT
Trong thời gian đầu sau khi tách tỉnh (1997), mặc dù còn bộn bề với nhiều việc phải làm
nhưng được sự quan tâm và đầu tư thích hợp của các cấp chính quyền tỉnh Bình Dương nên
giáo dục phổ thơng nói chung và giáo dục THPT nói riêng trong 10 năm đầu của thời kỳ đã đạt
được nhiều thành tựu cả về quy mô, chất lượng, đội ngũ cũng như cơ sở vật chất thiết bị dạy
học. Những thành tựu đó góp phần khơng nhỏ và đặt nền tảng cho sự phát triển giáo dục và
đào tạo của Bình Dương sau này.
Từ khóa: Giáo dục Trung học phổ thơng, giáo viên, học sinh…
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong chiến lược phát triển giáo dục, phát triển nguồn nhân lực của mỗi quốc gia, mỗi
dân tộc bao giờ cũng đề cập tới giáo dục phổ thơng bởi giáo dục phổ thơng có vị trí hết sức
quan trọng, là cầu nối, nền tảng cơ bản của hệ thống giáo dục quốc dân, là cơ sở đem đến chất
lượng cho cả hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục THPT là bậc học cuối cùng của hệ thống
giáo dục phổ thông (Giáo dục phổ thông bao gồm cấp tiểu học, THCS và THPT). Mục tiêu của
cấp học này là “nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS và
có hiểu biết thơng thường về kĩ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân
để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, học nghề đi vào cuộc sống lao
động” (Luật giáo dục, 1998). Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, giáo dục THPT cung
cấp cho xã hội nhiều thế hệ trẻ, thơng minh, sáng tạo, có tri thức, giàu lịng nhân ái, có niềm tự
hào và tự tơn dân tộc, sẵn sàng hy sinh vì tổ quốc...Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng hệ thống
giáo dục phổ thông nói chung và cấp THPT nói riêng có những vấn đề bất cập trong sự chuyển
đổi để thích nghi với hoàn cảnh lịch sử mới của dân tộc và thời đại biểu hiện như sự xác định
về hình thức đào tạo, nội dung dạy học, sách giáo khoa, tổ chức dạy và học...
Cũng giống như các địa phương khác trong cả nước những năm đầu của thời kỳ đổi mới giáo
dục phổ thơng của tỉnh Bình Dương nói chung, giáo dục THPT nói riêng trong 10 năm đầu của thời
kỳ đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, đó là sự phát triển mạnh quy mơ, mạng lưới trường


lớp, số lượng và chất lượng giáo viên, học sinh, ngày càng tăng nhanh, số học sinh giỏi cấp tỉnh,
cũng như tỉ lệ học sinh đỗ đại học, cao đẳng ngày càng tăng. Bên cạnh, những chuyển biến tích cực
đó, giáo dục THPT tỉnh Bình Dương cịn có những bất cập ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng
giáo dục và đào tạo. Tuy nhiên, trong giới hạn tham luận này tác giả chỉ xin trình bày những chuyển
biến cơ bản của giáo dục Trung học Phổ thơng tỉnh Bình Dương trong thời kỳ đầu tách tỉnh.
35


2. VÀI NÉT VỀ GIÁO DỤC THPT BÌNH DƯƠNG TRƯỚC 1997
Theo Nghị quyết của kỳ họp Quốc hội nước CHXHCNVN ngày 02/7/1976, tỉnh Sông Bé
được thành lập và chính thức hoạt động. Tỉnh Sông Bé được hợp nhất từ hai tỉnh Thủ Dầu Một
và Bình Phước, tỉnh Sơng Bé có 1 thị xã; 7 huyện và 134 xã phường với số dân 937.000 người
(01/4/1989). Sự nghiệp phát triển GD&ĐT giai đoạn 1986 - 1996 cũng gặp những khó khăn và
hạn chế khi đất nước bắt đầu bước vào thời kỳ đổi mới với biến động.
Là tỉnh bị tàn phá nặng nề sau 2 cuộc chiến tranh với đế quốc, nền kinh tế - xã hội chậm
phát triển. Cơ sở vật chất nghèo nàn và xuống cấp nghiêm trọng, mạng lưới trường lớp hạn chế,
mất cân đối và thiếu đồng bộ. Năm 1986, trên địa bàn tồn tỉnh chỉ có 3080 phòng học, chủ yếu
là phòng học tạm thời, vách ván, mái tơn, nền đất hoặc xi măng, phịng tranh tre để đáp ứng
yêu cầu học sinh hàng năm (Sở GD&ĐT Bình Dương, 1996). Cùng với địa bàn rộng lớn có
nhiều dân tộc sinh sống, tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên và gia tăng cơ học lớn đã gây sức ép lớn
đối với sự phát triển giáo dục, cơ sở vật chất, qui mơ đội ngũ giáo viên cịn thiếu nhiều, trình
độ và năng lực cịn hạn chế, đời sống CBGV thời kỳ này gặp rất nhiều khó khăn. Cụ thể như
sau: Năm học 1986 - 1987 là 348 giáo viên; năm 1990 - 1991 là 445 giáo viên; năm 1995 1996 là 445 giáo viên. Như vậy trong 10 năm đầu sau đổi mới, đội ngũ giáo viên có nhiều biến
động và nghỉ bỏ việc hoặc chuyển ngành.
Về hệ thống trường lớp giai đoạn đổi mới toàn tỉnh có 22 trường THPT. Về mạng lưới
trường học chỉ tập trung ở những địa bàn có điều kiện thuận lợi, những vùng có điều kiện phát
triển kinh tế - xã hội, sự phát triển trường lớp không đồng bộ của các ngành và cấp học. Sách, thư
viện và trang thiết bị. Về sách năm 1985 - 1986 phát hành 917.156 bản sách, năm 1985 chỉ có 54
trường có thư viện, về kinh phí đầu tư thiết bị trường học giai đoạn 1986 là 5.713 triệu đồng.
Như vậy, trong thời kỳ đầu khi bước vào thời kỳ đổi mới tình hình giáo dục THPT đã có

những chuyển biến, tuy nhiên về cơ bản cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học cũng như quy mơ
về giáo dục cịn nhiều hạn chế.
3. NHỮNG CHUYỂN BIẾN CƠ BẢN CỦA GIÁO DỤC THPT BÌNH DƯƠNG TRONG
10 NĂM ĐẦU TÁCH TỈNH
Những năm đầu của thời kỳ đổi mới, khi tỉnh Bình Dương chưa tách khỏi tỉnh Sơng Bé
thì giáo dục THPT chưa có những chuyển biến lớn, nhưng từ sau khi được tách tỉnh - sau năm
1997 được sự quan tâm đầu tư mạnh mẽ của các cấp chính quyền tỉnh Bình Dương thực sự đã
có những chuyển biến cơ bản, cụ thể ở các mặt sau đây:
Về quy mô phát triển giáo dục THPT Bình Dương: Năm 1997, tỉnh Bình Dương được tái lập
trên cơ sở tách tỉnh Sông Bé thành hai tỉnh (Bình Dương và Bình Phước). Cũng như các ngành kinh
tế - xã hội khác, ngành giáo dục và đào tạo Bình Dương phát triển dựa trên nền tảng của Ngành
Giáo dục và Đào tạo Thủ Dầu Một và Sông Bé trước đây. Những ngày đầu mới tái lập, tỉnh Bình
Dương đã xác định “Phát triển giáo dục - đào tạo là mục tiêu hàng đầu, là động lực thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế”. Đồng thời với nhiệm vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa, mục tiêu nâng cao dân trí
trở thành nhiệm vụ hàng đầu của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương và ngành GD&ĐT.
Sự nghiệp GD&ĐT của tỉnh Bình Dương trong những năm qua đã đạt được nhiều thành
tích và có bước phát triển về nhiều mặt. Năm học 1975-1976 tồn tỉnh Sơng Bé có 4 trường
36


phổ thông cấp 3 và 8 trường phổ thông cấp 2-3 với 103 lớp và 3996 học sinh. Đến năm học
1997-1998 tồn tỉnh có 28 lớp (Sở GD&ĐT Bình Dương, 1996), trường trung học phổ thông
với 12.310 học sinh tăng gấp 3 lần với ngày giải phóng. Về quy mơ phát triển giáo dục trung
học phổ thông không ngừng gia tăng về số lượng học sinh và lớp học cho thấy sự chuyển biến
tích cực trong giai đoạn tái thành lập tỉnh. Quy mô phát triển giáo dục sau 4 năm 1997 - 2001,
học sinh trung học phổ thông tăng 87,02%. Số trường lớp tăng 8 trường Phổ thông, 1 Trung
tâm giáo dục thường xuyên. Năm 2000 đến năm 2003 số lượng học sinh tiếp tục tăng, nhưng
đến năm học 2005 số học sinh đã tăng lên nhanh chóng với số lượng 28.962/28.800 đạt 100,56%
tăng 2.200 học sinh (Sở GD&ĐT Bình Dương, 2005).
Về mạng lưới trường lớp đã phát triển hoàn chỉnh ở 100% xã phường trong toàn tỉnh.

100% huyện, thị có trường THPT, mỗi huyện có từ 2-5 trường THPT. Đặc biệt huyện Phú Giáo
trong 4 năm đã thành lập thêm 2 trường THPT ở địa bàn xa xôi (THPT: Nguyễn Huệ, Tây Sơn),
các trường THPT: Lai Uyên, Tây Nam (huyện Bến Cát), Thường Tân (huyện Tân Uyên) cũng
được thành lập sau khi thành lập tỉnh. Về tỷ lệ học sinh nghỉ bỏ học đã có tiến bộ rõ rệt, năm
học 1997 tỷ lệ lưu ban bỏ học là 5,3% ở bậc Trung học, đến năm 2000 tỷ lệ học sinh bỏ học ở
bậc THPT là 1,5%. Theo báo cáo tổng kết năm học 2000 - 2003 thì số học sinh nghỉ, bỏ học
bậc THPT là 499 học sinh, tỉ lệ 2%. (Sở GD&ĐT Bình Dương, 2003)
Như vậy, trong 10 năm đầu thực hiện đổi mới quy mô trường lớp và sĩ số học sinh của
các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bình Dương tăng mạnh. Chỉ trong một thời gian ngắn, ngành
GD&ĐT Bình Dương đã đạt được những thành tựu nổi bật nhất là sự phát triển nhanh chóng
về quy mơ giáo dục và chất lượng giáo dục có những chuyển biến rõ rệt. Khắp các địa bàn của
tỉnh mạng lưới trường học phát triển rộng khắp đến các huyện xã vùng sâu, vùng xa.
Về chất lượng giáo dục THPT Bình Dương: Triển khai các nghị quyết của của Trung
ương, tại Đại hội Đảng bộ Bình Dương lần thứ VI cũng đã xác định rõ: “Coi phát triển giáo dục
- đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của toàn Đảng và toàn dân”. Mặc dù cịn nhiều
khó khăn về cơ sở vật chất và đội ngũ CBGV nhưng nghành đã vượt khó và đã thu được những
kết quả to lớn về chất lượng giáo dục.
Về chất lượng bậc THPT có chuyển biến tích cực: Xếp loại học lực học sinh THPT năm
1996 - 1997 đạt giỏi 1,7%; khá 22,6%; trung bình 53%; yếu - kém 22,7%. Xếp loại học lực học
sinh THPT năm 2003 - 2004 đạt giỏi 5,0%; khá 29,3%; trung bình 47,6% và yếu - kém 18%
(Sở GD&ĐT Bình Dương, 1997). So với năm học 1996 - 1997: Học sinh THPT tỷ lệ yếu kém
giảm từ 22,7% xuống 18% (Sở GD&ĐT Bình Dương, 1996). Như vậy, chất lượng giáo dục có
chuyển biến tiến bộ rõ rệt, hằng năm học sinh đạt học lực khá giỏi tăng lên. Nguyên nhân những
tiến bộ về chất lượng giáo dục bảo đảm việc thực hiện chương trình bậc học ngày thêm hoàn
chỉnh, ổn định và áp dụng đổi mới về phương pháp giáo dục, tăng thêm được những thiết bị thí
nghiệm, đồ dùng dạy học cho các trường, trường lớp được nâng cấp, kỷ cương nề nếp tổ chức
quản lý nhà trường có tiến bộ.
Số học sinh tốt nghiệp THPT tăng nhanh: Năm 1997 tồn tỉnh có 1.697 học sinh tốt nghiệp
THPT (tỷ lệ 86,7%). Đến năm 2003 có 6.641 học sinh tốt nghiệp THPT (tỷ lệ 90,7%). Như vậy
trong vòng 7 năm số học sinh tốt nghiệp THPT của tỉnh Bình Dương tăng gấp 3 lần (291,5%).

Có 79/6.641 học sinh tốt nghiệp THPT loại giỏi đạt tỉ lệ 1,17%, tiêu biểu có 1 học sinh đạt điểm
thủ khoa: Học sinh Bùi Thị Kim Ánh, trường THPT Dĩ An, tốt nghiệp THPT đạt 57,50 điểm.
37


Ngoài ra học sinh Bùi Thị Kim Ánh cũng đạt giải ba mơn Hóa ở kỳ thi chọn lọc học sinh giỏi
cấp tỉnh bậc THPT (Sở GD&ĐT Bình Dương, 1997, 2003).
Từ năm 1997 đến năm 2002 đã có 144 học sinh đạt giải học sinh giỏi quốc gia bậc THPT.
Năm học 2002 - 2003, qua kỳ thi tuyển chọn học sinh giỏi bậc THPT cấp Quốc Gia, tỉnh Bình
Dương đạt 18 giải gồm: 05 giải ba và 13 giải khuyến khích. Năm học 2005 - 2006 thi học sinh
giỏi vòng tỉnh bậc THPT có 198/598 thí sinh đạt giải (02 giải nhất, 23 giải nhì, 63 giải ba và
110 giải khuyến khích); thi học sinh giỏi vịng tồn quốc bậc THPT đạt 14 giải (01 giải nhì, 07
giải ba và 06 giải khuyến khích); tham dự học sinh giải tốn trên máy tính Casio cấp khu vực
Cần Thơ đạt 03 giải khuyến khích; tham gia học sinh giỏi tốn trên máy tính Casio cấp tỉnh đạt
30 giải (03 giải nhất, 06 giải nhì, 15 giải ba, 06 giải khuyến khích).
Trong kỳ thi Tin học trẻ khơng chun tồn quốc năm 2003. Kết quả đội tuyển tỉnh Bình
Dương dự thi Hội thi Tin học trẻ khơng chun tồn quốc lần thứ IX - năm 2003 đạt 3 giải gồm:
1 giải nhì bậc tiểu học, 1 giải ba bậc THCS và 1 giải ba bậc THPT. Đặc biệt, đội tuyển Tin học
không chuyên tỉnh Bình Dương lần đầu xuất sắc đạt giải nhất đồng đội (trên 50 tỉnh thành và ngành
tham gia) và đạt giải dành cho đơn vị tổ chức tốt hội thi tại cơ sở. Tiếp nối truyền thống dạy tốt,
học tốt, ở các năm học tiếp theo tỉnh Bình Dương tiếp tục gặt hái được nhiều thành công trong các
công tác đào tạo mũi nhọn. Số học sinh thi đỗ vào đại học và cao đẳng không ngừng gia tăng: Năm
1997 là 1.284 học sinh; năm 1999 là 1.827 học sinh; năm 2001 là 1.961 học sinh; năm 2003 đối
với bậc đại học khơng tính cao đẳng đỗ 650 học sinh. (Sở GD&ĐT Bình Dương, 2003)
Như vậy với thành tích trên đã khẳng định chất lượng của học sinh thể hiện qua kết quả kỳ
thi chọn học sinh giỏi cấp Quốc Gia. Qua đó, nhận thấy năng lực, lịng say mê, kiên trì, tận tụy liên
tục với nghề của đội ngũ thầy cô giáo, không quản ngày đêm, miệt mài chăm chỉ thu hút sự say mê
của học sinh để khẳng định mình và đã thành cơng của 11 thầy cơ có cơng tác bồi dưỡng giỏi.
Để góp phần thúc đẩy sự phát triển giáo dục THPT và đào tạo bồi dưỡng lực lượng học
sinh giỏi cho tỉnh Bình Dương, từ năm học 1996 - 1997 trường THPT chuyên Hùng Vương được

xây dựng và đi vào hoạt động. Năm học 2002 - 2003 trường có 24 lớp với tổng 745 học sinh, cơ
sở vật chất của trường được đầu tư xây dựng với 42 phòng học và trang thiết bị khá đồng bộ, gồm
các phịng lab, vi tính, phịng thí nghiệm thực hành và phịng học, sân tập các bộ môn.
Về phát triển đội ngũ và xây dựng cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học: Mặc dù Bình
Dương mới mới được tách tỉnh, các cấp chính quyền còn bộn bề nhiều việc phải làm, tuy nhiên
được sự coi trọng đầu tư, chăm lo cho đúng mức cho giáo dục nói chung và giáo dục THPT nói
riêng của các cấp chính quyền tỉnh Bình Dương. Tỉnh đã dành nguồn kinh phí lớn cho giáo dục
trong đó có giáo dục THPT cụ thể: Kinh phí năm 1995 là 30,5 tỷ đồng; năm 1996 là 28,9 tỷ
đồng; năm 1997 là 28,875 tỷ đồng; năm 1998 là 46,948 tỷ đồng; năm 1999 là 76,366 tỷ đồng;
năm 2000 là 85,9 tỷ đồng; năm 2001 là 115,6 tỷ đồng; năm 2003 tăng lên 162,1 tỷ đồng; năm
2004 là 198,735 tỷ đồng; năm 2005 là 240,600 tỷ đồng (Sở GD&ĐT Bình Dương, 2005). Như
vậy, kinh phí đầu tư cho ngành giáo dục từ khi tái lập tỉnh đến 2005 tăng vọt là minh chứng cho
những cố gắng của tồn Đảng tồn dân trong cơng cuộc khắc phục khó khăn và đưa nền giáo
dục tỉnh nhà phát triển không ngừng.
Từ sự quan tâm và đầu tư thích hợp nên số lượng và chất lượng giáo viên ngày càng tăng
vọt, năm học 1996 - 1997 đội ngũ giáo viên của ngành giáo dục - đào tạo Bình Dương là 11.441
thầy cơ, trong đó trực tiếp giảng dạy là 8.155 thầy cô. Sau khi tái lập tỉnh năm 1997, Bình
38


Dương có 7.020 CB-NV, trong đó trực tiếp giảng dạy là 5.196 thầy cô. Đến năm học 2006, tổng
số CBGVNV tồn ngành có 11.305 thầy cơ, trong đó bậc THCS (Kể cả giáo viên cấp 2 trong
trường cấp 2-3 số đạt chuẩn trở lên có 2700/2735 cán bộ - giáo viên, đạt 98,72%, trên chuẩn có
1050/2735 chiếm 38,39%, trong đó có 01 Thạc sĩ. Đối với bậc THPT số đạt chuẩn trở lên có
1110/1224 cán bộ - giáo viên, đạt 90% chiếm 68%, trong đó số trên chuẩn 11 người chiếm
0,90%. (Sở GD&ĐT Bình Dương, 2006)
Tất cả các thầy cơ đều được đào tạo cơ bản theo chuyên ngành sư phạm. Bên cạnh đó,
cơng tác xây dựng đội ngũ giáo viên là mối quan tâm thường xuyên của ngành nhằm đáp ứng
nhu cầu phục vụ cho qui mô giáo dục phát triển hằng năm tăng nhanh. Đội ngũ của ngành tuy
chưa thốt khỏi tình trạng thiếu giáo viên, song tình hình đội ngũ của ngành có chiều hướng

ngày thêm tốt hơn. Công tác đào tạo, đào tạo lại để chuẩn hóa đội ngũ và đào tạo nâng cao trình
độ giáo viên của ngành được triển khai thực hiện đã đạt kết quả khá tốt, đối với bậc THPT đạt
80,5%, chất lượng đội ngũ ngày càng được nâng cao. Năm học 2003 có 63 giáo viên THPT thi
đạt giáo viên giỏi. Trường THCS Chu Văn An (Thị xã Thủ Dầu Một) là trường đầu tiên của
bậc THPT được công nhận đạt chuẩn quốc gia. Các trường THPT Bình Phú, Huỳnh Văn Nghệ,
Võ Minh Đức, Dĩ An, Dầu Tiếng và trường THCS Phước Hòa (Phú Giáo) được tặng Huân
chương lao động hạng III. Trường THCS Chu Văn An (Thị xã TDM) được Nhà nước tặng Huân
chương lao động hạng II.
Cùng với sự phát triển về quy mô số lượng, chất lượng giáo viên và CSVC được duy trì
và nâng cao. Năm 2005 tổng số CBQL trong ngành hiện có 773 trong đó bậc THPT có 97
người, đa số các đơn vị trường THPT, trường trực thuộc, các trung tâm có đủ số cán bộ quản lý
theo phân hạng trường, còn 02 đơn vị thiếu cán bộ quản lý (THPT bán công Dĩ An, THPT Tân
Bình). Trình độ chun mơn của các cán bộ quản lý hầu hết đều đạt chuẩn của cấp học, tỉ lệ cán
bộ quản lý có trình độ đào tạo trên chuẩn đạt tỷ lệ cao nhất THCS cấp 2-3 (78 người chiếm
3%). (Sở GD&ĐT Bình Dương, 2005)
Đi đơi với xây dựng thêm trường lớp, thư viện và thiết bị dạy học cũng được quan tâm đầu
tư. Theo thời gian, thư viện trường học được củng cố và phát triển, hàng năm có nhiều thư viện
đạt chuẩn. Thiết bị dạy học được đầu tư kinh phí mua sắm thường xuyên. Các trường THCS,
THPT được trang bị đồng bộ thí nghiệm lý, hóa, sinh. Giai đoạn này, phong trào giáo viên tự làm
đồ dùng dạy học trong các ngành học được duy trì, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục.
4. KẾT LUẬN
Thành tựu nổi bật nhất trong giai đoạn 10 năm tái thành lập tỉnh là sự phát triển nhanh chóng
về quy mơ và chất lượng giáo dục có những chuyển biến rõ rệt. Trên khắp các địa bàn tỉnh mạng
lưới trường học phát triển rộng khắp đến các xã vùng sâu, vùng xa. Từ khi tái lập tỉnh đến 2006 đã
xây dựng 42 đơn vị trường học mới, trong đó bậc THPT xây mới 8 trường chiếm tỷ lệ 40%.
Đầu tư cho GD&ĐT của tỉnh Bình Dương hàng năm ln vượt chỉ tiêu Bộ GD&ĐT giao,
đặc biệt Bình Dương là một trong những tỉnh quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và trang
thiết bị dạy học. Đến cuối năm 1997 trên địa bàn tỉnh đã xóa lớp học ca 3, phịng học tranh tre,
phịng tạm lớp mượn, như vậy bước đầu đáp ứng quy mô phát triển giáo dục với toàn bộ 100%
trường lớp của tỉnh kể cả vùng nông thôn đều là nhà cấp 4 trở lên.

39


Đội ngũ giáo viên không ngừng tăng nhanh về số lượng và chuẩn hóa về chất lượng. Từ
chỗ cịn thiếu giáo viên nghiêm trọng, trong 10 năm qua số lượng giáo viên tăng thêm hơn 3.000
người, khắc phục cơ bản tình trạng thiếu giáo viên và đáp ứng yêu cầu cho sự nghiệp phát triển
giáo dục tỉnh nhà. Về chất lượng giáo dục đã có những chuyển biến rõ rệt, tỷ lệ học sinh lưu
ban và nghỉ bỏ học hàng năm giảm đáng kể, tỷ lệ học sinh yếu kém giảm từ 22,7% xuống 18%.
Tuy nhiên tỷ lệ học sinh giỏi tăng mạnh từ 1,7% lên 5,0%; học sinh khá tăng từ 22,6% lên
29,3%, đây là dấu hiệu đáng mừng cho sự nghiệp phát triển giáo dục tỉnh nhà trong 10 năm đầu
tách tỉnh; về số lượng học sinh tốt nghiệp THPT tăng đáng kể cụ thể: Trước năm 1997 tồn tỉnh
có 1.697 học sinh đến 2003 có 6.641 học sinh. Như vậy, trong vòng 7 năm số học sinh tốt
nghiệp THPT của tỉnh tăng gấp 3 lần. Chuyển biến về chất lượng, cơng tác giáo dục tồn diện
được chú trọng, tăng cường giáo dục chính trị và tư tưởng, đạo đức, nâng cao chất lượng giáo
dục hướng nghiệp, giáo dục thể chất quốc phịng.
Có thể khẳng định rằng, Sự chuyển biến giáo dục THPT tỉnh Bình Dương trong thời kỳ
đầu tách tỉnh (1997 - 2006) cơ bản đã đáp ứng tốt nhu cầu học tập ngày càng tăng của tỉnh nhà,
chất lượng giáo dục mũi nhọn từng bước được khẳng định. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh,
cùng với sự góp sức của nhân dân, các thế hệ thầy và trị của ngành giáo dục Bình Dương đã
nổ lực phấn đấu “dạy tốt” và “học tốt”; đào tạo nên nhiều con ngoan, trị giỏi, đóng góp thiết
thực cho sự phát triển của tỉnh nhà.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Văn Hiệp (2007), Những chuyển biến kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương từ 1945 đến
2005, luận án tiến sĩ Đại học Quốc gia Tp. HCM.
2. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương (1995-2006), Báo cáo tổng kết năm học (1995; 1996 1997; 1997 - 1998; 1998 - 1999; 1999 - 2000; 2001 - 2002; 2002 - 2003; 2003 - 2004; 2005 - 2006).
3. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương, Báo cáo tổng kết 4 năm, thực hiện Nghị quyết Trung
Ương khóa 8.
4. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương, Báo cáo tổng kết công tác tuyển sinh năm 1998
5. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương, Đánh giá tình hình giáo dục tỉnh Bình Dương (Từ khi có
Luật giáo dục 1998 đến nay).

6. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương, Báo cáo kết quả học sinh giỏi năm học 2002 - 2003.
7. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương, Báo cáo về tình hình phát triển sự nghiệp giáo dục đào
tạo trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm học 1998 - 1999 tại kỳ họp lần thứ 7 - HĐND tỉnh khóa 5.
8. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương, Báo cáo tình hình xây dựng trường học 2001 - 2004. Định
hướng sắp xếp mạng lưới trường lớp và dự kiến kế hoạch đầu tư xây dựng CSVC trường học 2004
- 2005 - 2006 - 2010 sự nghiệp giáo dục tỉnh Bình Dương.
9. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương (2004), Lịch sử giáo dục Bình Dương (Từ đầu thế kỷ XX
đến 2003).

40



×