NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGUỒN NHÂN LỰC
GIÁO DỤC VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN 4.0
Nguyễn Văn Thắng1, Lưu Thế Thuật2
1. Khoa Đào tạo Kiến thức chung. 2. Lớp CH21LS01. Email:
TÓM TẮT
Cùng với sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội, những năm qua, giáo dục Việt Nam có
những chuyển biến tích cực về nhiều mặt. Những thành tựu to lớn về giáo dục không chỉ là động
lực thúc đẩy đất nước đi lên, mà còn góp phần làm cho diện mạo đời sống xã hội ngày càng khởi
sắc. Tuy vậy, bên cạnh những việc đã làm được, nguồn nhân lực giáo dục Việt Nam trong thời
đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư hay còn gọi là kỷ nguyên 4.0 đòi hỏi cần nâng cao hơn
nữa về tầm nhìn, nội dung, cũng như cách tiếp cận trước sự đổi mới không ngừng của xã hội. Bài
viết dưới đây đề cập đến một số nội dung cơ bản như: Thách thức đặt ra đối với nền giáo dục
Việt Nam trong kỷ nguyên 4.0; nguồn lực của nền giáo dục Việt Nam trong kỷ nguyên 4.0; một
số giải pháp căn bản nhằm phát triển nguồn nhân lực giáo dục Việt Nam trong kỷ nguyên 4.0.
Từ khóa: Giáo dục, kỷ nguyên 4.0, kỹ năng
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) đã và đang đặt ra cho ngành Giáo dục và Đào
tạo cần phải cải thiện nguồn nhân lực để có thể đáp ứng được các yêu cầu về kiến thức và kỹ năng
liên tục thay đổi trong môi trường lao động mới. Điều này cũng có nghĩa đặt ra cho Ngành giáo
dục và đào tạo một sứ mệnh to lớn là chuẩn bị đội ngũ nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của
đất nước. Các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng, đều xác định việc chuyển đổi từ một
nền giáo dục nặng về trang bị kiến thức, kỹ năng cho người học sang một nền giáo dục giúp phát
triển năng lực, thúc đẩy đổi mới và sáng tạo cho người học, đáp ứng những yêu cầu đặt ra cho
công dân trong thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vừa là xu hướng, vừa là yêu cầu tất
yếu của quá trình xây dựng và phát triển đất nước theo hướng văn minh và bền vững.
Cùng sự phát triển của khoa học công nghệ, các phương pháp giáo dục truyền thống chắc
chắn sẽ chịu nhiều thách thức. Một trong những điểm nổi bật là sự phân hóa đến từng đối tượng
người học. Mỗi học sinh có nhu cầu và khả năng học tập khác nhau. Các tiến bộ về công nghệ
cho phép các nhà giáo dục có thể thiết kế lộ trình học tập riêng biệt phù hợp với từng trường
hợp cụ thể. Các phần mềm giáo dục đã được đưa vào sử dụng có khả năng thích nghi với năng
lực của mỗi học sinh và cho phép học sinh theo học với tốc độ phù hợp với nhu cầu của bản
thân. Tại nhiều nước, các phần mềm học tập thích ứng này đã nhanh chóng thay thế từng phần
hoặc tồn bộ vai trò của sách giáo khoa trong lớp học.
Bên cạnh đó, việc tiếp cận thơng tin trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết dẫn đến một câu hỏi
mà các nhà giáo dục cần phải trả lời là xác định kiến thức cốt lõi mà người học cần được trang
bị trong tương lai. Trong khi các mơ hình giáo dục trong quá khứ tập trung vào việc cung cấp
24
cho người học các kiến thức, kỹ năng cần thiết để giúp họ trở thành những người có tay nghề
chuyên môn cao, các nhà giáo dục ngày nay quan tâm nhiều hơn đến việc dạy học sinh cách tự
học. Giáo dục dạy cho học sinh học cách tư duy, cách đánh giá các tình huống, các vấn đề phức
tạp trong cuộc sống, qua đó hình thành năng lực giải quyết vấn đề.
Cơng nghệ phát triển có ảnh hưởng lớn đến vai trò của người giáo viên trong lớp học. Hệ
thống quản lý trường học với sự hỗ trợ của công nghệ có thể cung cấp hệ thống dữ liệu giúp
giáo viên theo dõi sự tiến bộ của mỗi lớp học, qua đó có những phản hồi ngay lập tức với những
khó khăn mà học sinh đang gặp phải. Nhưng cơng nghệ dù hiện đại và quan trọng đến đâu cũng
không thay thế được vai trò của giáo viên hoặc biến người giáo viên thành rô-bốt. Bởi vậy, làm
thế nào để tận dụng và làm chủ công nghệ, để công cụ này hỗ trợ và tạo ra sự tự do, sáng tạo
trong giáo dục là một thách thức với mỗi giáo viên và cơ sở giáo dục.
Những thay đổi nói trên chính là sự gợi mở về cách các mơ hình giáo dục có thể vận hành
trong thời gian tới: các máy tính hoạt động như những công cụ hỗ trợ cá nhân trong lớp học với
nhiều lộ trình học tập đa dạng; giáo viên và cha mẹ học sinh được trang bị tốt hơn để hiểu quá
trình học tập của học sinh; lớp học được chia thành các nhóm nhỏ gồm các học sinh có trình
độ, kỹ năng phù hợp để làm việc cùng nhau.
2. MỘT SỐ THÁCH THỨC ĐẶT RA VỚI NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM TRONG KỶ
NGUYÊN 4.0
Ở nước ta, qua nhiều thập kỷ phát triển, đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh
vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ và công nghiệp đã được xây dựng và phát triển đông đảo.
Nhiều thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ đạt được đã thúc đẩy sự phát triển của đất nước
gắn liền với đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực này. Nhưng, trên nhiều bình
diện, đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao, trong đó có nhân lực giáo dục vẫn chưa đáp ứng
được những địi hỏi của cơng cuộc xây dựng và phát triển đất nước ở giai đoạn mới hiện nay.
Nhân tố quyết định trong việc vận dụng và phát triển cách mạng khoa học công nghệ hiện
đại trong kỷ ngun 4.0 khơng phải là nguồn lực tài chính, hệ thống máy móc thiết bị, cũng
khơng phải là điều kiện tự nhiên, lịch sử văn hóa, mà là nguồn lực con người và thể chế. Đó
chính là những lực lượng đầu tàu trong ngành giáo dục, họ vừa giữ vai trò định hướng, vừa giữ
vai trò động lực thúc đẩy việc xây dựng và phát triển tiềm lực khoa học, cơng nghệ và cơng
nghiệp của quốc gia. Khơng có nguồn nhân lực chất lượng cao này sẽ không thể vận dụng có
hiệu quả các thành tựu của cách mạng khoa học, công nghệ, càng không thể tiếp nhận cách
mạng khoa học công nghệ hiện đại, cách mạng công nghiệp 4.0 vào nước ta.
Mặt khác, việc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hố tập trung, hành chính, quan liêu,
bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước đòi hỏi bước chuyển biến thể
chế quản lý phải đồng bộ và thích hợp để tạo tiền đề cho sự phát triển của các lĩnh vực khác
nhau. Kỷ nguyên 4.0 và cách mạng khoa học cơng nghệ nói chung đang mang cơ hội đang đến
với đất nước và con người Việt Nam, nhưng nếu không tích cực, chủ động, tận dụng cơ hội và
khơng nắm bắt được thì cơ hội sẽ vụt mất, con người và đất nước Việt Nam sẽ tụt hậu xa hơn.
Thị trường đào tạo ngày càng có sự cạnh tranh gay gắt không chỉ giữa các trường đại học
với nhau mà cịn có sự cạnh tranh với chính những đơn vị sử dụng lao động có tự đào tạo nội
25
bộ. Một thách thức nữa đối với các trường đại học là khả năng “chảy máu chất xám”, hiện tượng
này đang diễn ra và sẽ có xu hướng tăng mạnh trong giáo dục hiện đại. Đó là lúc sự phân hóa
thị trường lao động diễn ra trên tồn cầu, sự cạnh tranh về nguồn lao động chất lượng cao diễn
ra trên phạm vi xuyên quốc gia và thị trường lao động trong nước có xu hướng giảm mạnh
nguồn lao động có chất lượng cao do dịch chuyển ra các nước phát triển hơn. Trong bối cảnh
thị trường lao động dịch chuyển liên tục thì đỏi hỏi người lao động phải có khả năng tự học, ý
chí học tập suốt đời và khơng ngừng nghỉ.
Sự thay đổi mang tính hiện đại của nền giáo dục Việt Nam trong kỷ nguyên 4.0 đòi hỏi
đội ngũ giảng viên các trường đại học cũng phải thay đổi và bắt kịp xu thế, nếu không thay đổi
sẽ bị tụt hậu và có nguy cơ thất nghiệp. Giảng viên trong kỷ nguyên 4.0 phải là người hướng
dẫn, hạn chế đứng lớp và thay vào đó là định hướng và trao đổi nhiều hơn với người học, theo
dõi và giám sát cũng như chịu trách nhiệm về sự tiến bộ của người học trong quá trình học.
Giảng viên phải quan tâm những nhu cầu kiến thức thực sự của người học, biết tạo động lực và
hỗ trợ người học đi tìm tri thức phù hợp cho bản thân mỗi người học. Bản thân giảng viên cũng
phải là người học không ngừng để nâng cao, bổ sung kiến thức cho mình, việc tự học phải được
mở rộng khơng chỉ trong nội bộ trong lớp, trong giáo trình bài giảng, trong trường mà cịn phải
học ở ngồi thực tế xã hội.
Với kỷ nguyên 4.0, người học cũng thay đổi, sinh viên các trường đại học có quyền nhiều
hơn trong việc chia sẻ thông tin cá nhân trên mạng xã hội, người học cảm nhận được cuộc sống
nhanh hơn, liên tưởng nhanh hơn giữa kiến thức hàn lâm với thực tiễn cuộc sống. Người học dễ
dàng truy cập vào kho dữ liệu khổng lồ, các thông tin, sự kiện sẽ hiện ra trước mặt chỉ một cái
nhấp chuột trên mạng. Kết nối xã hội cũng được mở rộng, người học có cơ hội tương tác khơng
chỉ với giảng viên, mà cịn tương tác với các chun gia trong và ngồi nước, cá nhân người học
có khả năng tự truyền thơng bản thân thông qua người khác và việc tiếp cận với các học giả nổi
tiếng trở nên dễ dàng hơn. Việc kết nối với bất kỳ ai, bất kỳ kiến thức gì vào bất kỳ thời điểm nào
và ở bất cứ đâu trở nên khá dễ dàng thông qua mạng xã hội. Mọi thứ sẽ thay đổi, kiến thức giáo
dục trở nên vô tận với bất cứ ai và mọi thứ trở nên nhỏ bé trong thế giới của từng con người…
3. NHỮNG THÁCH THỨC CỦA KỶ NGUYÊN 4.0 ĐẾN NGUỒN NHÂN LỰC GIÁO
DỤC VIỆT NAM
3.1. Về mơ hình
Kỷ ngun 4.0 là thời kỳ công nghệ kỹ thuật cao đã được tích hợp vào hầu hết các lĩnh
vực trong xã hội, do đó ngành giáo dục cần phải tiếp cận với một số mơ hình mang tính đổi mới
và phù hợp với xu thế phát triển chung dưới đây:
Công nghệ thông tin (Information Technology). Công nghệ thông tin hiểu theo nghĩa rộng
là việc sử dụng máy tính và phần mềm máy tính vào việc tạo ra, lưu trữ, xử lý và truyền dẫn
thông tin. Công nghệ thông tin là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên
quan đến thơng tin và các q trình xử lý thông tin gồm tri thức, sự kiện, số liệu âm thanh, hình
ảnh. Vì vậy, cơng nghệ thơng tin là hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương
tiện, cơng cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu
nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thơng tin trong
mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa… của con người. Ở Việt Nam, khái niệm công
26
nghệ thông tin được hiểu “Là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ
kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử
dụng có hiệu quả các nguồn tài ngun thơng tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực
hoạt động của con người và xã hội”[3]. Mạng internet ngày càng phổ biến và di động, bởi các
cảm biến nhỏ và mạnh mẽ hơn với giá thành rẻ hơn, và bởi trí thơng minh nhân tạo và máy học.
Cơng nghệ kỹ thuật số với phần cứng, phần mềm máy tính và hệ thống mạng trong cấu trúc của
nó đang làm biến đổi xã hội và nền kinh tế toàn cầu. Đây cũng chính là lý do Giáo sư Erik
Brynjolfsson và Andrew McAfee, Viện Công nghệ Massachusetts (MIT), lấy tên kỷ nguyên 4.0
làm tiêu đề của cuốn sách “thời đại máy tính thứ hai”;
Học thơng qua các thiết bị học điện tử (E-Learning, hoặc electronic-learning). ELearning có thể là tự học hoặc kết hợp có giảng viên hướng dẫn. E-Learning ở Việt Nam có thể
được gọi là đào tạo từ xa hoặc đào tạo trực tuyến, có thể kết hợp với giảng dạy trực tiếp giống
như Blended Learning;
Học thông qua các thiết bị di động (Mobile-Learning). Đó là việc sử dụng thiết bị di động
trong học tập. Người học có thể học ở mọi lúc, mọi nơi với một chiếc di động smartphone có
sự hỗ trợ của hệ thống quản lý học tập online trên hệ thống mạng;
Học theo ngữ cảnh, thông qua các thiết bị định vị (Collaborative learning). Nhờ các công
cụ công nghệ thông tin và các mạng xã hội, mơi trường học có tính tương tác cao, diễn ra khi
hai hoặc nhiều người cùng tham gia học hoặc cùng tìm hiểu một vấn đề. Mơi trường học tập
tương tác cung cấp những công cụ và hoạt động hỗ trợ bao gồm: Diễn đàn thảo luận; Công cụ
điều tra; Lịch; Từ điển Wikis tích hợp; Các cơng cụ blog và tag; podcast...;
Học thơng qua cơng nghệ Điện tốn đám mây (Cloud computing). Điện tốn đám mây
cịn gọi là điện tốn máy chủ ảo, là mơ hình điện tốn sử dụng các cơng nghệ máy tính và phát
triển dựa vào mạng Internet. Ở mơ hình điện tốn này, mọi khả năng liên quan đến công nghệ
thông tin đều được cung cấp dưới dạng các “dịch vụ”, cho phép người sử dụng truy cập các
dịch vụ công nghệ từ một nhà cung cấp nào đó “trong đám mây” mà khơng cần phải có các kiến
thức, kinh nghiệm về cơng nghệ đó, cũng như không cần quan tâm đến các cơ sở hạ tầng phục
vụ cơng nghệ đó. Theo tổ chức Xã hội máy tính IEEE “Nó là hình mẫu trong đó thông tin được
lưu trữ thường trực tại các máy chủ trên Internet và chỉ được lưu trữ tạm thời ở các máy khách,
bao gồm máy tính cá nhân, trung tâm giải trí, máy tính trong doanh nghiệp, các phương tiện
máy tính cầm tay..”. Điện tốn đám mây là cơng cụ tiên tiến, khi các mạng xã hội phát triển,
mọi hoạt động trước đây chúng ta làm trên máy tính thì giờ đây chúng ta có thể thực hiện trên
hệ thống Internet thông qua trang Web;
Học theo ngữ cảnh (Context aware learning). Khi các thiết bị di động thông minh phát
triển, một xu hướng phát triển khá toàn diện trong đào tạo là học theo ngữ cảnh. Học theo ngữ
cảnh, thuật ngữ hay được sử dụng là U-learning - học mọi lúc mọi nơi. U-learning cung cấp
cho người học nội dung phù hợp nhất ở bất cứ nơi đâu và bất cứ khi nào. Phát triển các ứng
dụng đào tạo E-Learning trên điện thoại di động, có thể tích hợp sử dụng với kính VR, 3D mang
lại hứng thú thực sự cho học viên. Học viên hồn tồn có được cảm quan và cảm xúc rõ rệt khi
sử dụng kính VR hoặc mũ “thơng minh” có thể tham gia vào nhiều chiều khơng gian dữ liệu.
Các bài học ngoại ngữ có thể tương tác khá phổ biến và người tiêu dùng ngày càng có nhu cầu
sử dụng sản phẩm đẹp hơn, sinh động hơn.
27
Tựu trung, các khóa học trong kỷ nguyên 4.0 sẽ được xây dựng theo mơ hình tương tác
cao với học viên. Theo đó, các nội dung tương tác cao như tài liệu trích dẫn, tài liệu audio, tài
liệu video, các tài liệu tự đánh giá, tự tương tác, các nguồn tài liệu càng đa dạng phong phú
càng hấp dẫn học viên tìm tịi khám phá. Đào tạo ngơn ngữ (Anh, Nhật, Hàn, Trung, Nga,
Pháp…), ngôn ngữ địa phương, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, ngôn ngữ tiếng Việt, văn hóa,
kỹ năng sống, văn hóa địa phương, văn hóa vùng miền, nhân rộng phát triển các chuỗi giá trị
văn hóa bản địa cũng sẽ là những xu thế thu hút học viên và chiếm tỷ lệ cao trong đào tạo không
chỉ ở các quốc gia phát triển trên thế giới mà cả Việt Nam trong kỷ nguyên 4.0.
3.2. Về kỹ năng
Kỷ nguyên 4.0 là thời kỳ công nghệ kỹ thuật cao do vậy các trường đại học luôn thúc đẩy
ứng dụng cơng nghệ hiện đại trong giáo dục để có những thay đổi triệt để trong phương pháp
giảng dạy và học tập. Theo Alex Gray (2016), có tới khoảng 35% kỹ năng cần thiết ở hiện tại
sẽ phải thay đổi trong thời kỳ cách mạng 4.0. Xu hướng giáo dục Việt Nam trong kỷ nguyên
4.0, người dạy học cần tiệm cận được với một số kỹ năng sau:
Kỹ năng giải quyết vấn đề phức tạp. Đây là kỹ năng được đánh giá là quan trọng hàng
đầu trong kỷ nguyên 4.0, đó là khả năng giải quyết các vấn đề mới, khó xác định trong một
hồn cảnh thực tế mới và phức tạp. Nó thể hiện khả năng linh hoạt giải quyết các vấn đề và khả
năng phục hồi nhanh về tinh thần trong một bối cảnh thay đổi liên tục và ngày càng phức tạp.
Có kỹ năng này, người dạy học sẽ thấy được bức tranh vấn đề một cách lớn hơn, nhìn rõ ràng
hơn trong một khơng gian biến đổi phức tạp và tạo được sự khác biệt cho bản thân. Kỹ năng
này cũng tiếp tục trở thành một trong những kỹ năng hàng đầu mà nhà tuyển dụng yêu cầu từ
ứng viên tiềm năng. Kỹ năng mềm như thuyết phục, trí tuệ cảm xúc, huấn luyện và hướng dẫn
cũng sẽ được đòi hỏi cao tại tất cả các ngành nghề. Trong khi đó, những kỹ năng chun mơn
như lập trình hoặc vận hành và kiểm sốt máy sẽ khơng cịn được u cầu cao nữa;
Tư duy phê phán. Tư duy phê phán là một tiến trình tư duy tích cực và thành thạo trong
việc khái niệm hóa, phân tích, tổng hợp và đánh giá những tin tức thu nhận được để từ đó rút
ra kết luận chính xác hơn về các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống. Tư duy phê phán được
AMSC định nghĩa là một sự tư duy có kỷ luật, tự định hướng, phản ánh một trình độ cao về kỹ
năng và khả năng tư duy;
Sáng tạo. Sự thay đổi công nghệ, cách suy nghĩ, cách làm việc địi hỏi con người phải có
sự sáng tạo, sự sáng tạo là yếu tố cơ bản khác với máy móc và thiết bị tự động. Sự sáng tạo tồn
tại ở bất kỳ con người nào, bất kỳ lĩnh vực nào và là một kỹ năng then chốt trong tương lai;
Quản lý nhân sự. Ở bất kỳ thời đại nào, trí thơng minh nhân tạo và máy móc có tự động
đến đâu thì vẫn khơng thể thiếu yếu tố quản lý của con người. Các nhân viên, máy móc ln là
nguồn lực cốt lõi của tổ chức, nhưng tâm tính, năng lực, cảm xúc, tính chun mơn là khác
nhau giữa những con người và máy móc, đó sẽ luôn là vấn đề cần phải được quản lý bởi con
người có trí tuệ và khả năng ủy thác phát triển;
Khả năng phối hợp. Kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm, thể hiện khả năng phối hợp
trong cơng việc. Tính hợp tác là rất quan trọng trong bất kỳ môi trường làm việc nào, đặc biệt
trong môi trường với một cơ sở dữ liệu lớn thông tin cần phải phân tích. Thể hiện sự kết hợp
các năng lực, điểm yếu, điểm mạnh của từng cá nhân và hợp tác với nhiều nhân cách khác nhau,
cả người máy lẫn con người có thể thực hiện cùng một lúc;
28
Trí thơng minh cảm xúc. Là khả năng theo dõi và kiểm sốt cảm giác và cảm xúc của
mình cũng như của người khác, phân biệt chúng và sử dụng thông tin này để dẫn dắt tư duy và
hành động của mình. Năm phần của trí thơng minh cảm xúc: Khả năng am hiểu bản thân (kiến
thức về các trạng thái bên trong, sở thích, nguồn lực và trực giác của chính mình); Khả năng
kiểm sốt bản thân (khả năng quản lý các trạng thái bên trong, các xung động và nguồn lực của
chính mình); Động lực (những xu hướng cảm xúc dẫn dắt hoặc hỗ trợ việc đạt được mục tiêu);
Cảm thông (khả năng am hiểu cảm xúc, nhu cầu và mối quan tâm của người khác); Kỹ năng xã
hội (sự thành thạo trong việc gợi ra những phản ứng mong muốn bên trong người khác);
Phán quyết và ra quyết định. Là khả năng đưa ra phán quyết chính xác, khéo léo trong
các quyết định quan trọng của con người. Nguyên tắc thực hiện là phải tìm ra câu hỏi, dựa vào
phân tích dữ liệu lớn, đưa ra cách giải quyết chính xác, có cơ sở chắc chắn.
Định hướng dịch vụ. Là khả năng của con người để hành động giúp đỡ người khác, là kỹ
năng định hướng dịch vụ hỗ trợ người khác theo các nhu cầu của họ. Con người sẽ phải đối
mặt với vấn đề khí thải carbon, an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn lao động và vấn đề cá nhân;
Đàm phán. Máy móc sẽ dần thay thế con người ở một số công việc trong tương lai, do
vậy những cơng việc mang tính lặp lại dần bị mất, những kỹ năng xã hội cần thiết cho sự thay
đổi nhanh chóng trong xử lý cơng việc trở nên quan trọng hơn. Con người sẽ xử lý tốt hơn máy
móc trong các kỹ năng giao tiếp, đàm phán với đối tác, với đồng nghiệp, với nhà quản lý;
Nhận thức linh hoạt. Tính linh hoạt trong nhận thức thể hiện một trí óc có khả năng tư
duy logic với mọi vấn đề cùng một lúc và các vấn đề được nhận thức một cách nhanh chóng
trước khi nó được giải quyết. Bộ não được mở rộng để đón nhận một cách linh hoạt mọi sở
thích của bạn.
Ở chiều ngược lại, trong kỷ nguyên 4.0, người học phải biết cần cái gì, cần trang bị những
hiểu biết và kỹ năng gì và sau đó tìm hiểu bản chất của nó, trái với hiện tại là có rất nhiều thứ
người học bị nhồi nhét và đưa vào đầu mà không biết nó thực sự có ích hay khơng cho cuộc sống
tương lai. Hãy sống và học tập theo niềm đam mê của chính mình. Học tập cùng nhau, học hỏi
lẫn nhau, phương pháp dạy lấy người học là trung tâm, vai trò giảng viên chỉ là người hỗ trợ,
hướng dẫn và xây dựng được một cộng đồng học tập cùng chung một ý tưởng, một khát vọng, đó
là nền giáo dục 4.0. Chúng ta có thể tham khảo một số ưu điểm vượt trội của giáo dục trong kỷ
nguyên 4.0 theo quan điểm của Jane Knight (2005) và Christiaan Henry (2016) như sau:
Học mọi lúc, mọi nơi. Sinh viên có nhiều cơ hội học tập trong những khoảng thời gian
khác nhau và ở những nơi khác nhau. Việc học tập sẽ trở nên dễ dàng và thuận tiện khi có các
công cụ học tập trực tuyến hỗ trợ cho việc học tập từ xa và tự học. Các lớp học dường như sẽ
bị đảo ngược so với các lớp học truyền thống hiện nay, phần lý thuyết sẽ là tự học, học trực
tuyến bên ngồi lớp học, cịn phần thực hành sẽ được giảng dạy và hướng dẫn trực tiếp trên lớp;
Cá nhân hóa việc học tập. Sinh viên sẽ học cách thích nghi với các cơng cụ hỗ trợ học
tập phù hợp với khả năng của mỗi cá nhân. Mỗi nhóm sinh viên có trình độ khác nhau sẽ được
thử thách bởi các nhiệm vụ có mức độ khó khăn khác nhau. Sinh viên có cơ hội thực hành nhiều
hơn đối với các học phần khó cho đến khi đạt yêu cầu. Sinh viên sẽ được củng cố kiến thức
cũng như có được kinh nghiệm tích cực trong q trình học tập độc lập của mình, họ sẽ có
động lực hơn cũng như tự tin hơn về khả năng học tập của mình. Hơn nữa, giảng viên sẽ dễ
dàng thấy được trình độ của từng sinh viên để can thiệp và giúp đỡ họ kịp thời;
29
Tự do lựa chọn. Mặc dù mỗi môn học được giảng dạy với cùng một mục đích, tuy nhiên,
con đường để đạt được mục đích đó thì có thể khác nhau đối với mỗi sinh viên. Mỗi sinh viên
đều có thể lựa chọn cho mình một chiến lược học tập của riêng mình với những cơng cụ học
tập mà họ cảm thấy là cần thiết và phù hợp nhất với họ. Sinh viên sẽ học tập cùng với các thiết
bị hỗ trợ khác nhau, các chương trình khác nhau và các cơng nghệ khác nhau dựa trên sở thích
riêng của từng người. Học tập theo phương thức truyền thống kết hợp với học trực tuyến sẽ tạo
nên sự thay đổi quan trọng trong xu hướng học tập hiện nay;
Thực hiện dự án. Nghề nghiệp trong tương lai sẽ gắn với nền kinh tế tự do, do vậy sinh
viên ngày càng phải thích nghi với việc học tập theo kiểu dự án. Điều này có nghĩa học phải
học cách áp dụng các kỹ năng trong một thời gian rất ngắn để giải quyết nhiều tình huống khác
nhau. Sinh viên nên sẵn sàng làm quen với các kỹ năng dựa trên dự án trong trường đại học, đó
là các kỹ năng quản lý tổ chức, kỹ năng quản lý thời gian có thể được giảng dạy như những
điều cơ bản mà mọi sinh viên có thể sử dụng trong q trình học tập của mình;
Trải nghiệm thực tế. Mỗi một chương trình học đều được gắn liền với một lĩnh vực ngành
nghề nhất định trong xã hội, do vậy, kinh nghiệm trong từng lĩnh vực sẽ được ẩn mình trong
từng chương trình, từng môn học. Các trường đại học sẽ tạo nhiều cơ hội để sinh viên có được
các kỹ năng thực tế ở mỗi lĩnh vực đại diện cho chương trình học của mình. Điều này có nghĩa
là chương trình sẽ tạo ra nhiều khoảng trống cho sinh viên hoàn thiện thông qua thực hành thực
tế, tư vấn và tham gia vào các dự án hợp tác;
Giải thích số liệu. Mặc dù tốn học được coi là một mơn học có thể tính tốn và giải thích,
tuy nhiên phần tính tốn này sẽ trở nên không quan trọng trong tương lai gần khi máy tính đã
làm thay phần tính tốn, thống kê mơ tả và phân tích dữ liệu cũng như dự đốn tương lai. Do
đó, sự giải thích của con người về những dữ kiện đó sẽ trở thành một phần quan trọng hơn ở
chương trình giảng dạy trong tương lai. Áp dụng kiến thức lý thuyết cho các con số, sử dụng lý
luận của con người để suy luận logic và xu hướng từ những dữ liệu này sẽ trở thành một nền
móng căn bản của việc học tốn học;
Các kỳ thi sẽ hoàn toàn thay đổi. Nền tảng mỗi chương trình học sẽ đánh giá năng lực
của mỗi sinh viên theo từng bước, việc đo lường năng lực sinh viên thông qua các câu hỏi Q&A
sẽ trở nên kém hiệu quả và có thể khơng đủ cho một mơn học. Nhiều chun gia giáo dục hiện
nay cịn cho rằng sinh viên đang bị nhồi nhét một khối lượng lớn kiến thức trước khi thi và sẽ
quên ngay sau khi thi, bài thi hiện nay không đo lường được khả năng ứng dụng của họ, đó là
khả năng làm được khi bước vào công việc đầu tiên. Việc kiểm tra khả năng áp dụng kiến thức
vào thực tế được thực hiện tốt nhất khi họ làm việc trên các dự án tại cơ sở thực địa và có thể
đo lường được trong quá trình học tập;
Quyền sở hữu của sinh viên. Sinh viên sẽ ngày càng tham gia vào quá trình hình thành
chương trình đào tạo của họ. Duy trì một chương trình hiện đại, cập nhật và hữu ích chỉ khi có
sự tham gia đồng thời của các chuyên gia và các bạn sinh viên. Nội dung và tính bền vững của
các khóa đào tạo là điều bắt buộc đối với một chương trình học tập tồn diện;
Tư vấn sẽ trở nên ngày càng quan trọng hơn. Sinh viên sẽ ngày càng độc lập hơn trong
việc học tập của mình, lấy tự học là chính, giáo viên như một người hướng dẫn và là một tâm
điểm trong nguồn dữ liệu thông tin khổng lồ mà sinh viên sẽ phải đi qua.
30
4. HÀM Ý MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP CĂN BẢN NHẰM PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC GIÁO DỤC VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN 4.0
Sự dịch chuyển từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba sang cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ tư (kỷ nguyên 4.0) thực chất là sự chuyển dịch từ cách mạng đơn giản, máy móc
sang cách mạng của sự sáng tạo dựa trên sự kết hợp giữa các công nghệ. Cuộc cách mạng này
đang và sẽ buộc ngành giáo dục Việt Nam phải thay đổi căn bản nhiều thứ từ tầm nhìn, nội
dung, phương pháp và cả các kỹ năng trong đào tạo. Xuất phát từ yêu cầu thực tế này, chúng
tôi xin đưa ra một số kiến nghị và giải pháp như sau:
4.1. Một số kiến nghị
Thứ nhất, cần có nguồn nhân lực giáo dục chất lượng cao. Trong khi kỷ nguyên 4.0 đang
và sẽ tác động mạnh mẽ đến thị trường lao động nói chung thì các cơ sở giáo dục, nơi cung cấp
nhân lực chủ yếu cho xã hội hiện nay vẫn đào tạo theo cách cũ. Để đáp ứng được nhu cầu nhân
lực có chất lượng cao và đa dạng ngành nghề, lĩnh vực trong kỷ nguyên 4.0, các cơ sở giáo dục
phải đổi mới mạnh mẽ từ hoạt động đào tạo đến quản trị nhà trường để tạo ra những “sản phẩm”người lao động tương lai có năng lực làm việc trong môi trường sáng tạo và cạnh tranh… Để
đáp ứng nhân lực trong kỷ nguyên mới, đòi hỏi phải thay đổi cơ bản các hoạt động đào tạo, nhất
là phương thức và phương pháp đào tạo với sự ứng dụng mạnh mẽ của cơng nghệ thơng tin.
Thứ hai, cần có môi trường đào tạo hiện đại. Hiện nay, ở đa số các các cơ sở giáo dục, sự đổi
mới phương thức và phương pháp dạy và học còn khá chậm trễ; cơ sở thực hành, đặc biệt là hạ tầng
công nghệ thơng tin cịn lạc hậu và thiếu đồng bộ. Trong một số năm gần đây, ngành dạy nghề đã
triển khai các hoạt động của dự án ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, hoạt động dạy và
học nghề. Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về dạy nghề được thiết kế, xây dựng cho phép thu thập,
xử lý, cập nhật, đồng bộ thông tin dữ liệu về dạy nghề trên tồn quốc và hỗ trợ cơng tác tìm kiếm,
thống kê, báo cáo, phân tích dự báo phục vụ cho công tác điều hành, quản lý về dạy nghề từ Trung
ương đến bộ, ngành, địa phương, cơ sở giáo dục trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên kết quả nhìn
chung cịn hạn chế, chủ yếu mang tính thí điểm. Do vậy trong thời gian tới, việc đầu tư cơ sở hạ
tầng, đặc biệt là hạ tầng công nghệ thơng tin trong giáo dục cần được khuyến khích triển khai rộng
khắp trong hệ thống trường học để tạo nên môi trường giáo dục hiện đại, hiệu quả.
Thứ ba, cần có đội ngũ cán bộ quản trị trường học tốt. Đào tạo ảo, mơ phỏng, số hóa bài
giảng sẽ là xu hướng đào tạo nghề nghiệp trong tương lai. Điều này tác động đến bố trí cán bộ
quản lý, phục vụ và đội ngũ giáo viên của các cơ sở giáo dục. Đội ngũ này phải được chuyên
nghiệp hóa và có khả năng sáng tạo cao, có phương pháp đào tạo hiện đại với sự ứng dụng
mạnh mẽ của cơng nghệ thơng tin.
Thứ tư, cần có các mơ hình giáo dục tiên tiến. Sự tồn cầu hóa, sự phát triển vượt bậc
của khoa học kỹ thuật và công nghệ thơng tin địi hỏi cần thiết phải có sự thích ứng phù hợp
giữa đào tạo trong cuộc cách mạng kỷ nguyên số (Albrecht và Sack, 2000). Song song với việc
nâng cao chất lượng thì đổi mới mơ hình nhà trường là giải pháp rất cần thiết. Cần chuyển đổi
mạnh mẽ từ mơ hình đào tạo những gì đang có sang mơ hình đào tạo chủ yếu theo nhu cầu của
thị trường, xã hội cần. Theo mơ hình mới này, việc gắn kết giữa cơ sở giáo dục với doanh
nghiệp là yêu cầu được đặt ra; đồng thời, đẩy mạnh việc hình thành các cơ sở đào tạo trong
doanh nghiệp để chia sẻ các nguồn lực chung (cơ sở vật chất, tài chính, nhân lực..), và quan
trọng hơn là rút ngắn thời gian chuyển giao từ kiến thức, kỹ năng vào thực tiễn cuộc sống…
31
4.2. Giải pháp
Thứ nhất, đổi mới cơ chế chính sách về giáo dục. Hồn thiện các cơ chế chính sách, phù
hợp với thực tiễn đối với đội ngũ nhà giáo, người học, các cơ sở giáo dục; hoàn thiện các cơ chế
chính sách về phân bổ và sử dụng tài chính trong lĩnh vực giáo dục. Trong đó, đối với nhà giáo,
cần xây dựng các chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng sư phạm ở các cấp trình độ, kỹ năng
ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết kế bài giảng. Với giáo giáo dục nhà nước, cần đổi mới
chính sách tiền lương đối với giáo viên phù hợp để thu hút người có kiến thức kỹ năng làm nhà
giáo. Tăng cường tính tự chủ trong hoạt động đào tạo và quản trị trường học đối với các cơ sơ
giáo dục, nhằm tạo sự linh hoạt thích ứng với sự thay đổi của khoa học công nghệ và yêu cầu của
xã hội. Đến lượt mình, các cơ sở giáo dục tự chịu trách nhiệm về phát triển đổi ngũ theo hướng
tinh gọn, năng động, có khả năng làm việc trong môi trường cạnh tranh cao. Xây dựng thư viện
điện tử, hệ thống đào tạo trực tuyến; khuyến khích các cơ sở giáo dục xây dựng phòng học đa
phương tiện, phịng chun mơn hóa; hệ thống thiết bị ảo mơ phỏng, thiết bị thực tế ảo, thiết bị
dạy học và các phần mềm ảo mô phỏng thiết bị dạy học thực tế trong dạy học cho các cơ sở giáo
dục. Triển khai các hoạt động dự báo nhu cầu nhân lực và nhu cầu đào tạo theo cơ cấu ngành
nghề và trình độ đào tạo phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội theo từng giai đoạn;
Thứ hai, đổi mới hoạt động đào tạo. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của
người học, người sử dụng lao động và môi trường làm việc, đòi hỏi các hoạt động đào tạo cần
phải thay đổi căn bản. Chương trình đào tạo phải được thiết kế linh hoạt, một mặt đáp ứng
chuẩn đầu ra của nghề; mặt khác, tạo sự liên thơng giữa các trình độ trong một nghề và giữa
các nghề. Trong kỷ nguyên 4.0, phương pháp đào tạo cần phải thay đổi căn bản trên cơ sở lấy
người học làm trung tâm và sự ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết kế bài giảng và truyền
đạt bài giảng. Cùng với đó là sự đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra trong
giáo dục theo hướng đáp ứng năng lực làm việc và tính sáng tạo của người học;
Thứ ba, nâng cao năng lực và chất lượng của đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục.
Để đáp ứng yêu cầu đào tạo trong môi trường mới, đội ngũ giáo viên trong ngành giáo dục phải
có những năng lực mới, năng lực sáng tạo và do đó địi hỏi phải có những phẩm chất mới trên
cơ sở chuẩn hóa, thông qua các hoạt động đào tạo, tự đào tạo và bồi dưỡng kiến thức chuyên
môn, kỹ năng nghề, kỹ năng sư phạm và những kỹ năng mềm cần thiết khác. Đổi mới chương
trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo về nghiệp vụ sư phạm, kỹ năng nghề trên cơ sở chuẩn
nhà giáo giáo dục nhà nước hoặc quốc tế. Đối với đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, cũng cần
được chuẩn hóa, trên cơ sở chức danh nghề nghiệp, gắn với vị trí việc làm. Đội ngũ này phải
có đủ năng lực làm việc trong mơi trường sáng tạo cao và tự chịu trách nhiệm. Do vậy, cần tổ
chức các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cả trong nước và ngoài nước để đáp ứng được u cầu
cơng việc. Đồng thời có cơ chế sàng lọc để nâng cao chất lượng đội ngũ và hiệu quả công tác.
Phát triển đào tạo tại doanh nghiệp và gắn kết với doanh nghiêp trong hoạt động đào tạo. Trong
kỷ nguyên 4.0, các hoạt động đào tạo cần phải được gắn kết với doanh nghiệp nhằm rút ngắn
khoảng cách giữa đào tạo, nghiên cứu và triển khai;
Thứ tư, đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ. Đẩy mạnh các
hoạt động nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu công nghệ, phương tiện dạy học và ứng dụng công
nghệ thông tin trong dạy học và quản lý đào tạo. Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học trong
các cơ sở giáo dục cả nhà nước và tư nhân, gắn nghiên cứu với các hoạt động chuyển giao tại cơ
32
sở. Chú trọng các nghiên cứu mô phỏng, nghiên cứu tương tác người - máy. Tăng cường trao đổi
học thuật, chia sẻ kinh nghiệm với các trường đại học, Viện nghiên cứu giáo dục ở các nước phát
triển. Hình thành mạng lưới nghiên cứu khoa học giáo dục giữa các Viện, trường học trong nước
với các Viện, trường nước ngoài. Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục. Tăng cường
các hoạt động hợp tác đa phương, song phương trong các lĩnh vực của giáo dục như nghiên cứu
khoa học, trao đổi học thuật; đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý; quản trị nhà trường…Tạo
điều kiện thuận lợi về môi trường pháp lý và xã hội để các nhà đầu tư nước ngoài mở cơ sở giáo
dục chất lượng cao tại Việt Nam; thực hiện liên kết, hợp tác tổ chức đào tạo nghề nghiệp…
5. THAY LỜI KẾT
Trong kỷ nguyên 4.0 mọi thứ đều được thay đổi theo hướng hiện đại. Giáo dục được coi
là một trong những ngành phải tiên phong trong việc thay đổi để tiếp cận với những tiến bộ của
nhân loại. Xu thế học tập trong tương lai khơng cịn bị giới hạn trong một lớp học mà sẽ vượt
ra khỏi phạm vi lớp học, việc học cũng sẽ không chỉ diễn ra trên lớp mà trong cả cuộc sống,
trong công việc hàng ngày ngồi xã hội và thơng qua nhiều tình huống khác nhau. Việc học tập
sẽ kéo dài suốt đời và mang tính tự nguyện, người học chủ động lĩnh hội kiến thức vì mục tiêu
cá nhân và mục đích nghề nghiệp, tăng cường hội nhập xã hội và chủ động phát triển bản thân
để tăng tính cạnh tranh cá nhân trong nghề nghiệp.
Với xã hội hội nhập, việc tiếp cận chia sẻ, trao đổi kiến thức và trao đổi thơng tin tồn
cầu sẽ thuận tiện hơn và tận dụng được tối đa hơn các nguồn lực chuyên môn. Tương tác xã hội
làm cho người học có thể khai thác kiến thức với những mức độ và trình độ khác nhau. Với
việc tiếp cận đa dạng nguồn thông tin, người học có thể dễ dàng cộng tác với các chuyên gia
trong các lĩnh vực chuyên sâu để tìm ra giải pháp cho vấn đề họ đang tìm kiếm và thúc đẩy
những người có kỹ năng chuyên sâu tối đa hóa hiệu quả trong hợp tác xã hội.
Xã hội học tập được hình thành, nguồn tài nguyên giáo dục mở là các nguồn tài nguyên
giảng dạy, học tập mà không có bản quyền sử dụng hoặc được phát hành theo giấy phép sở hữu
trí tuệ và được cung cấp miễn phí trên hệ thống Internet. Nguồn học liệu mở và chia sẻ khóa
học xã hội rộng là cơ sở cho việc phát triển các thiết bị học tập cá nhân như thiết bị đọc sách
điện tử, smartphone, máy tính bảng, máy tính sách tay... Người học dễ dàng truy cập vào nguồn
học liệu, các khóa học của riêng mình dựa trên các công cụ như email, Dropbox, Google Drive,
Evernote, Blog, Facebook, Twitter…
Chính những điều này địi hỏi phải thay đổi phương pháp giáo dục cũng như cách tiếp
cận giáo dục sao cho phù hợp với những thiết bị công nghệ hỗ trợ đào tạo hiện đại luôn hiện
diện hàng ngày bên cạnh mỗi chúng ta, đó cũng là những xu thế phát triển mà giáo dục Việt
Nam phải đặc biệt quan tâm trong kỷ nguyên 4.0.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Alex Gray (2016), “The 10 skills you need to thrive in the Fourth Industrial Revolution”.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013): Quyết đinh số 1215/QĐ-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo ban hành: Chương trình hành động của ngành giáo dục thực hiện chiến lược phát triển giáo
dục Việt Nam 2011 - 2020.
33
3. Cổng thông tin điện tử chính phủ nước CH XHCN Việt Nam (1993): Nghị quyết 49/NĐ-CP ký
ngày 04/08/1993 về phát triển công nghệ thông tin của CP Việt Nam.
4. Christiaan Henny (2016), “9 Things That Will Shape The Future Of Education”.
5. Emily Connor (2016), “8 Sensational E-Learning Trends That Are Revolutionizing The Learning
Game”.
6. Fuchsberger, V. et al., 2016. Knowledge Acquisition in Industry 4.0: Studying (e) Learning
Experience, s.l.: s.n.
7. Nguyễn Đắc Hưng (2017), “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và vấn đề đặt ra với giáo dục
Việt Nam”, NXB Quân đội nhân dân.
8. Hung, J.L. (2012). “Trends Of E-Learning Research From 2000 To 2008: Use Of Text Mining And
Bibliometrics”. British Journal of Educational Technology.
9. Jane Knight (2005), “Guide to E-Learning In Further and Higher Education”.
10. Jessica Athey (2012), “4 Trends in Online Training & E-Learning in 2012”.
11. Mandal, N., 2015. A Present Scenario of E-Information Service in Rural India. Knowledge
Lıbrarıan, 2(6), pp. 149-176.
12. Nichols, M., 2007. E-Learning in context, s.l.: s.n.
13. Peter Fisk (2017), “Education 4.0 - The future of learning will be dramatically different, in school
and throughout life”, Education Institutions.
14. Sabine Pfeiffer (2015), “Effects of Industry 4.0 on vocational education and training”, Institute of
Techonoly Assesment.
15. Schwab, K., 2017. The fourth industrial revolution. Crown Business.
16. Tavangarian, D. et al., 2004. Is E-Learning the Solution for Individual Learning. Electronic Journal
of E-Learning, 2(2), pp. 273-280.
34