THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HỨNG THÚ NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC CHO SINH VIÊN NGÀNH SƯ PHẠM TIỂU HỌC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
Nguyễn Thị Thuỷ1, Đặng Thị Hoà2
1. Khoa Sư phạm, Trường Đại học Thủ Dầu Một. Email:
2. Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM.
TĨM TẮT
Bài viết này đi vào tìm hiểu những ngun nhân của việc sinh viên Trường Đại học Thủ Dầu
Một nói chung và sinh viên ngành sư phạm tiểu học nói riêng khơng có hứng thú trong hoạt động
nghiên cứu khoa học. Qua tìm hiểu, chúng tơi thấy rằng việc sinh viên khơng có sự đam mê vào sân
chơi học thuật này bởi nhiều nguyên nhân như: chưa hiểu về hoạt động nghiên cứu khoa học là gì,
chưa biết cách thực hiện một cơng trình nghiên cứu khoa học như thế nào, thiếu sự định hướng
thường xuyên và hơn hết chưa thấy được tầm quan trọng cũng như sự hữu ích của việc nghiên cứu
khoa học. Mặt khác, việc thay đổi thường xuyên chế độ khuyết khích nghiên cứu khoa học cũng ảnh
hưởng không nhỏ đến sự hăng say khi tham gia hoạt động này của sinh viên. Trong bài viết, từ thực
trạng và nguyên nhân, chúng tôi cũng xin mạn phép đưa ra một số giải pháp khắc phục.
Từ khoá: Đại học Thủ Dầu Một, khoa học, nghiên cứu, sinh viên.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo xu hướng chung, các trường đại học đang đẩy mạnh phong trào sinh viên nghiên cứu
khoa học, vì thơng qua hoạt động này vị thế của Nhà trường được khẳng định và chất lượng đào
tạo của Nhà trường ngày một được nâng cao. Tuy nhiên, để tạo được niềm đam mê, lịng u
thích và tinh thần trách nhiệm đối với nghiên cứu khoa học ở sinh viên thì khơng phải điều dễ
dàng. Thực trạng sinh viên sử dụng thời gian đào tạo ở trường đơn thuần chỉ để hồn thành chương
trình đào tạo và chuẩn đầu ra của ngành mình học. Việc sinh viên tham gia, nhập cuộc vào hoạt
động nghiên cứu khoa học để tạo ra những sản phẩm khoa học hữu ích, mang lại giá trị thực tiễn
và phục vụ cộng đồng còn rất hạn chế, rất thụ động và đương nhiên sinh viên ngành sư phạm lại
càng thụ động hơn nhiều bởi đặc thù nghề nghiệp. Một phần sinh viên khối ngành sư phạm không
mặn mà trong hoạt động nghiên cứu khoa học cũng bởi suy nghĩ: mình cứ học xong sẽ dễ dàng
xin việc vào trường công lập. Và ngay khi cả chỉ tiêu trường cơng lập khơng đủ thì chuỗi trường
dân lập cũng rất nhiều nên không sợ thất nghiệp. Điều này tạo sức ì khá lớn cho sinh viên.
Là một giảng viên, ngồi cơng tác giảng dạy, cố vấn học tập, bản thân tôi cũng đã từng
hướng dẫn sinh viên làm báo cáo tốt nghiệp, nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, trên thực tế, tôi
cũng như nhiều đồng nghiệp của mình nhận thấy rằng sinh viên khơng có đam mê, hứng thú
trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên và làm thế
nào để tiếp sức, truyền lửa cho các em trong hoạt động này, đó là những trăn trở khơng phải
của riêng tơi mà cịn nhiều thầy cơ khác.
685
2. NỘI DUNG
2.1. Lí thuyết chung về vấn đề nghiên cứu khoa học
Hiện nay có rất nhiều khái niệm, nhận định về nghiên cứu khoa học. Chẳng hạn như:
nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật,
hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn (Quốc
hội, 2013). Hay: nghiên cứu khoa học là hoạt động xã hội nhằm thoả mãn nhu cầu nhận thức,
cải tạo thế giới, đồng thời là một trong những nhiệm vụ cơ bản của tổ nhóm chun mơn. Trong
hoạt động của tổ, nhóm chun mơn, hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học là hai hoạt
động cơ bản của giảng viên nó có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau (Nguyễn
Hải Thập, 2020). Hoạt động nghiên cứu khoa học ở giảng viên bên cạnh là hoạt động nghiên
cứu của chính bản thân giảng viên cịn có hoạt động hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học.
Đó là một hoạt động rất cần thiết trong các trường đại học, nhất là trong giai đoạn giáo dục chú
trọng đến việc phát huy năng lực của người học như hiện nay.
Như vậy, việc đào tạo sinh viên ở trường đại học, bên cạnh việc cung cấp cho các em
những kiến thức cơ bản, kỹ năng nghề nghiệp thì việc đưa họ vào hoạt động nghiên cứu khoa
học là một việc làm hết sức cần thiết. Bản chất của dạy học hiện đại luôn hướng tới cái đích
cuối cùng là tạo được niềm đam mê cho người học phát huy được năng lực của của họ. Và với
tầm quan trọng như vậy thì hoạt động nghiên cứu khoa học sẽ là những yếu tố tích cực khơng
thể thiếu trong chuỗi hoạt động dạy học tại các trường đại học, cao đẳng. Tuy nhiên, để kéo các
em vào hoạt động này với một tâm thế tự tin, và đam mê thì khơng phải điều dễ làm.
Như phần đặt vấn đề chúng tơi đã nói, việc sinh viên nghiên cứu khoa học là hoạt động
không chỉ đánh giá nó là sân chơi học thuật đơn thuần, mà còn là hoạt động đào tạo cần được
đẩy mạnh ở mỗi trường đại học. Và hoạt động ấy cần phải có lộ trình, giải pháp để nâng cao về
số lượng lẫn chất lượng.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng sinh viên khơng mặn mà tham gia nghiên
cứu khoa học trong đó nguyên nhân chủ yếu là do các em chưa thật sự hiểu hoạt động nghiên
cứu khoa học là gì. Chưa có được hứng thú và niềm đam mê làm nghiên cứu khoa học.
Những năm gần đây, trường Đại học Thủ Dầu một luôn tạo cho sinh viên sân chơi học
thuật qua hoạt động ngày hội sinh viên nghiên cứu khoa học và xét giải thưởng tài năng khoa
học sinh viên được tổ chức thường niên. Bên cạnh đó, để hỗ trợ sinh viên nghiên cứu khoa học,
mỗi một đề tài thành cơng sẽ có kinh phí thực hiện. Tuy số tiền khơng lớn nhưng nó thể hiện
sự quan tâm, khích lệ của Nhà trường đối với hoạt động nghiên cứu khoa học ở sinh viên. Mặt
khác, điểm nghiên cứu khoa học của sinh viên được cộng điểm vào báo cáo tốt nghiệp cuối
khoá hoặc những đề tài được đánh giá xếp loại giỏi được miễn báo cáo tốt nghiệp, được ứng
dụng và chuyển giao mơ hình ngoài xã hội.
2.2. Thực trạng nghiên cứu khoa học của sinh viên khối ngành sư phạm nói chung và
ngành sư phạm tiểu học Trường Đại học Thủ Dầu Một nói riêng
Thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học hàng năm, sinh viên tồn Trường nói chung và
sinh viên khối ngành sư phạm nói riêng đã phát huy được tính năng động, sáng tạo của bản thân
trong hoạt động nghiên cứu khoa học. Theo thống kê 5 năm trở lại đây, số lượng đề tài nghiên
cứu khoa học hằng năm của sinh viên có biến động, cụ thể: Năm học 2017-2018 tồn trường có
686
322 đề tài tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên; Năm học 2018-2019 có 205 đề tài; Năm
học 2019-2020 có 216 đề tài; Năm 2020-2021 số lượng đề tài đăng kí được nâng lên với tổng số
380 đề tài. Chưa dừng lại ở đó, năm học 2021-2022 số lượng đề tài tăng lên vượt bậc trong toàn
trường với con số 534 đề tài. Từ những số liệu trên cho thấy, sinh viên rất quan tâm đến hoạt động
nghiên cứu khoa học khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Từ đó, hình thành khả năng nghiên cứu
khoa học độc lập, năng lực tự học, kỹ năng làm việc theo nhóm...cho riêng bản thân. Cũng chính
qua hoạt động nghiên cứu khoa học, sinh viên biết vận dụng những kiến thức tiếp thu được trong
quá trình học tập để thực hiện các đề tài dưới sự hướng dẫn của giảng viên, qua đó góp phần ngày
một nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên khối ngành sư phạm.
Mặc dù được sự quan tâm động viên từ phía Nhà trường, sự định hướng và hướng dẫn
trực tiếp từ phía giảng viên, ban cố vấn học tập nhưng nhìn chung, tỉ lệ nghiên cứu khoa học
của sinh viên khối ngành sư phạm nói chung và ngành sư phạm tiểu học nói riêng chiếm tỉ lệ
khá khiêm tốn, cụ thể:
Năm học
2017 - 2018
2018 - 2019
2019 - 2020
2020 - 2021
2021 - 2022
Số đề tài NCKH
toàn Trường
322
205
216
380
534
Số đề tài NCKH
Toàn Khoa
24
29
37
95
85
Số đề tài NCKH
Của ngành SP tiểu học
12
11
8
13
21
Số liệu được trích xuất từ bảng tổng hợp danh mục NCKH của SV hằng năm do phòng Khoa
học Trường Đại học Thủ Dầu Một cung cấp.
Căn cứ vào bảng số liệu trên chúng ta thấy rằng, tỉ lệ nghiên cứu khoa học của sinh viên
khối ngành sư phạm tiểu học vẫn còn khá khiếm tốn. Năm học 2018 - 2019 tỉ lệ nghiên cứu
khoa học của sinh viên khối ngành sư phạm tiểu học chiếm 5,36% tổng số đề tài nghiên cứu
khoa học cấp trường, đó là một con số đáng nể. Tuy nhiên, tỉ lệ này lại thấp dần những năm sau
đó. Cụ thể, năm học 2019 - 2020 chỉ chiếm 3,7%, năm học 2020 - 2021 chiếm 3,4% và năm
2021-2022 cũng chỉ chiếm có 3,9% tổng số đề tài đăng kí của sinh viên trong tồn trường. Việc
nghiên cứu khoa học trong sinh viên đôi khi là hình thức đối phó với cố vấn học tập. Để đạt
được chỉ tiêu đề tài đăng ký trên mỗi lớp, có nhiều lớp đăng kí nhiều đề tài nhưng sau đó lại
khơng thực hiện. Hoặc nhiều đề tài thực hiện dang dở, dẫn đến đến thời hạn nghiệm thu đề tài
thì số lượng đề tài cịn lại rất ít, chưa nói đến chất lượng.
Với thực trạng nghiên cứu khoa học của sinh viên nói chung trong đó có ngành sư phạm
tiểu học nói riêng, chúng ta cần có những biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hứng thú nghiên cứu
khoa học trong các em. Đó là việc làm khơng chỉ riêng gì của các cấp lãnh đạo Nhà trường,
Khoa, Chương trình mà đó cịn là nhiệm vụ của cố vấn học tập và giảng viên trực tiếp đứng lớp.
2.3. Giải pháp nâng cao hứng thú nghiên cứu khoa học cho sinh viên ngành sư phạm
tiểu học Trường Đại học Thủ Dầu Một
Vậy làm thế nào để tìm ra một số giải pháp hợp lí nhằm nâng cao hứng thú nghiên cứu
khoa học cho sinh viên ngành sư phạm tiểu học là việc làm cần kíp khơng chỉ của lãnh đạo
chương trình, lãnh đạo khoa mà đó là nhiệm vụ của mỗi giảng viên đứng lớp cũng như cố vấn
học tập. Muốn các em tham gia vào sân chơi học thuật này, điều đầu tiên là phải làm cho các
687
em hiểu như thế nào là hoạt động nghiên cứu khoa học, có nhận thức đúng đắn về nó. Bên cạnh
đó, các em thấy được ý nghĩa của hoạt động này đối với ngành đào tạo của mình. Mặt khác,
mỗi một tác nhân (Lãnh đạo trường, Lãnh đạo Khoa, lãnh đạo chương trình, cố vấn học tập,
giảng viên trực tiếp giảng dạy) phải kích thích được nhu cầu và đam mê nghiên cứu ở sinh viên.
Để đạt được mục đích này cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, cụ thể:
2.3.1. Khai thông, mở lối cho sinh viên hiểu về khái niệm và hoạt động nghiên cứu khoa
học là gì
Mặc dù trong chương trình đào tạo của tất cả các ngành được đào tạo tại Trường Đại học
Thủ Dầu Một đều được trang bị kiến thức về nghiên cứu khoa học cho sinh viên. Cụ thể, trong
cấu trúc chương trình đào tạo, sinh viên năm thứ nhất đều học môn Phương pháp luận nghiên
cứu khoa học. Mặc dù vậy, với kiến thức của năm thứ nhất và tâm thế của người mới chuyển
tiếp từ cấp học phổ thông lên cấp học đại học; bên cạnh đó, số lượng sinh viên ở mỗi lớp của
học phần này chiếm tỉ lệ khá đông (lớp đại cương) nên ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả học
tập. Trên thực tế, nhiều sinh viên khơng hiểu hoạt động nghiên cứu khoa học là gì. Và làm
nghiên cứu khoa học là phải làm như thế nào? Mình có khả năng làm nghiên cứu khoa học hay
khơng? Đó là những câu hỏi mà sinh viên cịn trăn trở. Chính vì chưa hiểu nên các em chưa
mạnh dạn nhập cuộc vào hoạt động này. Vậy để cho các em nắm rõ về nó và trước tiên có đủ
hiểu biết về hoạt động này sau đó mới kích thích được lịng đam mê và niềm hứng khởi tham
gia nơi họ là nhiệm vụ trực tiếp từ bản thân cố vấn học tập và giảng viên đứng lớp.
Trong mỗi giờ sinh hoạt cố vấn học tập hoặc trong quá trình giảng dạy, cố vấn học tập và
giảng viên cần làm cho các em nắm được khái niệm về nghiên cứu khoa học một cách thật rõ
ràng, cụ thể. Hiện nay, có rất nhiều nhà khoa học đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về nghiên
cứu khoa học. Những để các em hiểu được một cách tường minh nhất thì cố vấn học tập và
giảng viên nên chọn những khái niệm ít trừu tượng. Chẳng hạn, chúng ta có thể dùng khái niệm
của tác giả Vũ Cao Đàm trong Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Tác giả viết: Nghiên
cứu khoa học là một hoạt động xã hội hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa
biết hoặc phát hiện ra bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới hoặc là sáng
tạo các phương pháp mới, phương tiện kĩ thuật mới để cải tạo thế giới (Vũ Cao Đàm, 1999).
Bằng việc hiệu rõ về nghiên cứu khoa học, về các bước tiến hành một đề tài nghiên cứu khoa
học chắc chắn sinh viên sẽ có ý thức và hứng thú với hoạt động này.
2.3.2. Giúp sinh viên hiểu ý nghĩa của việc nghiên cứu khoa học đối với sinh viên khối
ngành sư phạm
Ngoài cơng việc học tập để nâng cao trình độ chun môn nghiệp vụ, tu dưỡng nhân cách,
phẩm chất của một giáo viên trong tương lại, sinh viên ngành sư phạm nói chung và sinh viên
chương trình sư phạm tiểu học nói riêng cần phải tích cực, chủ động tham gia vào hoạt động nghiên
cứu khoa học. Chính việc nghiên cứu khoa học sẽ giúp cho các em rất nhiều vấn đề, cụ thể:
Thứ nhất, xét về kiến thức, khi nghiên cứu khoa học, sinh viên sẽ có những điều kiện để
tìm hiểu sâu hơn về chun mơn và biết thêm nghiệp vụ liên quan tới công việc và ngành nghề
của mình. Việc này giúp sinh viên áp dụng được những kiến thức học hỏi được vào quá trình
tìm kiếm tri thức mới mà nói như nhà văn Nam Cao là “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng
tạo những gì chưa ai sáng tạo”. Cũng chính hoạt động này giúp phát triển năng lực của sinh
688
viên như năng lực tìm kiếm, năng lực phân tích và tổng hợp, năng lực điều hành, điều phối,
năng lực tìm hiểu những vấn đề liên quan đến giáo dục(thiết kế các hoạt động dạy học, thiết kế
đồ dùng trực quan, năng lực xử lí tình huống sư phạm, năng lực tự học, giáo dục các kỹ năng...).
Chính hoạt động nghiên cứu khoa học sẽ giúp sinh viên - người học tìm kiếm những kiến
thức mới, làm sáng tỏ những điều mà sinh viên đang hướng tới cùng với hoạt động tự khám
phá. Bên cạnh đó, biết biến những kiến thức hàn lâm thành những bài học sinh động trong hoạt
động thực tiễn.
Thứ hai, về kỹ năng. Nghiên cứu khoa học sẽ giúp cho sinh viên hình thành những kỹ năng
như: kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng tìm kiếm và phân tích dữ liệu, kỹ năng sử dụng ngơn ngữ
linh hoạt, kỹ năng lập luận logic, kỹ năng trình bày khoa học, kỹ năng thuyết trình và lắng nghe...
Từ đó sinh viên sẽ hồn thiện tốt những kỹ năng đáp ứng được chuẩn đầu ra của ngành sư phạm.
Thứ ba, với việc giáo dục chú trọng đến tìm kiếm và phát huy năng lực của người học thì
chính việc nghiên cứu khoa học sẽ phát triển được nhiều năng lực cho các em như: năng lực
phán đoán dựa trên tư duy logic khoa học; năng lực phản biện thông qua tư duy phản biện mạch
lạc tạo nên tính cá biệt ở mỗi cá thể sinh viên... Từ hoạt động nghiên cứu sẽ giúp sinh viên tự
tin hơn vào năng lực của mình và biết phát huy nó.
Thứ tư, về thái độ. Chính việc tham gia nghiên cứu khoa học sẽ giúp cho sinh viên hiểu
về hoạt động này, từ đó trao dồi đạo đức nghề giáo nói chung và đạo đức trong lĩnh vực khoa
học nói riêng. Hoạt động nghiên cứu khoa học còn giúp sinh viên rèn luyện đức tính kiên nhẫn
và niềm say mê kiếm tìm tri thức. Người học sẽ có thái độ và kế hoạch học tập, nghiên cứu cho
bản thân một cách phù hợp nhất để từ đó hình thành cho những giáo viên tương lai thói quen
và trách nhiệm lập kế hoạch cũng như thực hiện kế hoạch trong công việc giảng dạy hay viết
sáng kiến kinh nghiệp khi công tác tại các nhiệm sở.
Thông qua các hoạt động nghiên cứu khoa học, sinh viên Trường Đại học Thủ Dầu Một
nói chung và sinh viên ngành sư phạm tiểu học nói riêng có cơ hội tích lũy kinh nghiệm, học
hỏi phương pháp tư duy khoa học, giải quyết vấn đề, phương pháp viết báo cáo khoa học, làm
việc nhóm cũng như trình bày kết quả, ý tưởng khoa học. Từ những kiến thức, kết quả nghiên
cứu đạt được, các bạn trẻ đam mê nghiên cứu khoa học sẽ có cơ hội phát triển, mở rộng hơn
nữa các đề tài, từ đó ứng dụng vào thực tiễn cho công việc nghiên cứu và giảng dạy sau này của
mình ở các trường phổ thơng.
Mặt khác, hoạt động nghiên cứu khoa học không chỉ giúp sinh viên gia tăng kiến thức và
kinh nghiệm nghiên cứu, việc tích cực tham gia nghiên cứu khoa học từ khi học đại học cịn là
bước đệm cho hành trình tương lai của nhiều bạn trẻ có định hướng nghiên cứu chuyên sâu,
“làm đẹp CV” và giúp các bạn thể hiện hình ảnh cá nhân ấn tượng hơn trong mắt nhà tuyển
dụng cũng như các trường tiểu học mà các bạn đang muốn về công tác.
2.3.3. Tạo môi trường sáng tạo cho sinh viên
Nghiên cứu Khoa học là một trong những hoạt động học tập tích cực, hiệu quả giúp ích
rất nhiều cho sinh viên không chỉ bây giờ mà cả trong công việc sau này. Nhà trường cần hỗ
trợ và tạo điều kiện hơn nữa để sinh viên yên tâm học tập và nghiên cứu như:
Về phía Nhà trường cần có nhiều chính sách khuyến khích, hỗ trợ về nguồn lực, điều kiện
thuận lợi hơn nữa để các em thực hiện tốt các đề tài NCKH. Chẳng hạn, Nhà trường khuyến
689
khích về cộng điểm nghiên cứu khoa học hoặc có chế độ tài chính cho giảng viên hướng dẫn
nghiên cứu khoa học cho sinh viên. Đối với sinh viên, cần nâng mức thưởng cho đề tài nghiên
cứu khoa học hàng năm để tăng sức hút, lòng đam mê hoạt động nghiên cứu khoa học. Bên
cạnh đó, kết quả nghiên cứu khoa học của sinh viên cần có chế độ điểm cộng hoặc chuyển điểm
qua báo cáo tốt nghiệp cho sinh viên. Vấn đề này Nhà trường cần có lộ trình lâu dài, không nên
thay đổi văn bản thường xuyên gây hoang mang, mất hứng thú nghiên cứu ở các em.
Về phía Phịng Khoa học cơng nghệ và Đồn thanh niên Trường cần tạo nhiều hoạt động
nghiên cứu khoa học trong sinh viên hơn nữa. Nhằm tạo môi trường học tập chuyên sâu, gắn liền
kiến thức với thực tiễn và rèn luyện kĩ năng nghiên cứu khoa học cho sinh viên. Bên cạnh đó,
Trường, Đồn trường cũng cần tun dương, khen thưởng những cá nhân có nhiều đóng góp, tích
cực tham gia nghiên cứu khoa học, đưa tiêu chí sinh viên tích cực tham gia nghiên cứu khoa học
vào các tiêu chí ưu tiên xét trao học bổng và chuỗi danh hiệu như: cán bộ Đoàn - Hội tiêu biểu,
sinh viên 5 tốt, thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác…Bên cạnh đó, thường xuyên tổ chức cho
sinh viên tham gia vào các hoạt động công bố, ứng dụng khoa học công nghệ vào thực tiễn, hoặc
cho các em tham gia xâm nhập thực tế ngoài xã hội ở những đề tài đã được ứng dụng vào thực
tiễn. Chính điều này sẽ là động lực để các em có hứng thú tham gia vào nghiên cứu khoa học.
Về phía giảng viên, mỗi một giảng viên là tấm gương tự học và sáng tạo cho sinh viên,
vì thế, bản thân mỗi thầy cơ ln ý thức vai trị của mình trong hoạt động giảng dạy và nghiên
cứu khoa học. Thầy cô luôn là động lực, sát cánh, và sẵn sàng hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu
của sinh viên. Mỗi một thầy cơ; mỗi một tiết học đều có khả năng giúp sinh viên định hình đề
tài và gieo cho sinh viên niềm đam mê, sự hứng thú trong nghiên cứu. Chính trong hoạt động
giảng dạy, thầy cô là người dẫn dắt học trị kiếm tìm kiến thức. Từ đó, khơi gợi sự hứng thú và
niềm đam mê cũng như sự tự tin khi tham gia nghiên cứu của sinh viên, điều này rất quan trọng.
Tôi cho rằng, giải pháp nâng cao hứng thú, lòng say mê nghiên cứu khoa học ở sinh viên ngoài
việc giúp học sinh hiểu về hoạt động nghiên cứu khoa học là gì thì chính việc giảng viên tạo
cho các em độ tin cậy vào khả năng làm nghiên cứu của chính các em mới là quan trọng. Bởi
chính các em tin vào khả năng của mình thì việc các em sẽ tham gia vào hoạt động nghiên cứu
là điều dễ dàng. Theo kinh nghiệm từ bản thân, trong mỗi học phần giảng dạy, tôi thường nêu
ra một vài định hướng, gợi ý mở về những đề tài sát với nội dung mà tôi đang dạy để học trị
tham khảo. Sau q trình định hướng cho các em và tơi nhận thấy sinh viên rất có hứng thú với
hoạt động tìm hiểu, nghiên cứu. Như vậy chứng tỏ các em thiếu định hướng ban đầu dẫn đến
không hiểu về hoạt động nghiên cứu khoa học, từ đó khơng tự tin, khơng mạnh dạn nhập cuộc.
Vì vậy, việc giảng viên trực tiếp đứng lớp tạo ra động lực cho người học tham gia nghiên cứu
khoa học là vấn đề rất quan trọng.
Bên cạnh định hướng cho sinh viên tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học thì việc
hướng dẫn sinh viên thực hiện đề tài cũng cần được quan tâm đúng mức. Mỗi một giảng viên
hướng dẫn không phải là viết thay cho các em, mà phải luôn tận tâm hướng dẫn, tận tình chỉ
đường để các em tự khám phá. Bản thân giảng viên hướng dẫn phải là người tạo động lực và
niềm tin thì sinh viên mới đi đến cuối cùng của hoạt động nghiên cứu. Tạo cho các em tâm thế
tự tin vào khả năng của mình.
Cuối cùng, sát cánh cùng giảng viên trực tiếp giảng dạy thì cũng cần có đội ngũ phụ trách
nghiên cứu khoa học của Khoa. Bộ phận này cần phải nhập cuộc vào hoạt động nâng cao chất
690
lượng nghiên cứu khoa học của sinh viên. Có thể mỗi kỳ 1 lần, bộ phận này nên có những buổi
tham vấn cho sinh viên về nghiên cứu khoa học, định hướng cho các em trong hoạt động này.
3. TẠM KẾT
Như vậy, hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên khơng chỉ góp phần và việc đổi
mới phương pháp dạy học, nâng cao năng lực dạy và học cho cả giảng viên và sinh viên mà còn
tạo ra một môi trường học thuật tương đối mở cho sinh viên tồn trường nói chung và sinh viên
khối ngành sư phạm tiểu học nói riêng. Từ hoạt động này, giúp quá trình đào tạo giáo viên
tương lai khơng thụ động, tăng khả năng tìm kiếm và vận dụng kiến thức, thúc đẩy phát triển
năng lực cá nhân người học. Nhưng để nâng cao số lượng và chất lượng cũng như hứng thú
tham gia nghiên cứu khoa học cho sinh viên khối ngành sư phạm thì cần thực hiện đồng bộ các
giải pháp trên. Mỗi giải pháp nó có tính ưu việt riêng của nó, nhưng quan trọng nhất vẫn cần có
sự quan tâm và chỉ đạo sát sao hơn nữa từ phía Nhà trường và ln cần có một chính sách hỗ
trợ tích cực, một lộ trình lâu dài, ít biến động phù hợp cho hoạt động này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
Hoàng Phê. (chủ biên). (2000). Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng.
Lê Huy Bá. (2007). Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Giáo Dục.
Nguyễn Văn Dân. (2006). Phương pháp luận nghiên cứu văn học, NXB Khoa học Xã hội.
Nguyễn Hải Thập. (chủ biên.2020). Tài liệu bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giảng
viên chính hạng II. NXB Giáo dục Việt Nam.
Nguyễn Văn Tuấn. (2020). Cẩm nang nghiên cứu khoa học-Từ ý tưởng đến công bố. NXB Tổng
hợp TP. HCM (tái bản).
Nhiều tác giả. (2012). Nhập môn tư duy sáng tạo và phương pháp nghiên cứu khoa học, NXB Trí Thức.
Quốc hội. (2013). Luật khoa học và cơng nghệ.
Vũ Cao Đàm. (1999). Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. NXB Khoa học và Kĩ thuật.
691