Tải bản đầy đủ (.pdf) (10 trang)

Giáo dục ở Phú Yên thời Pháp thuộc (1887–1945)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (381.43 KB, 10 trang )

GIÁO DỤC Ở PHÚ YÊN THỜI PHÁP THUỘC (1887 – 1945)
Ngơ Minh Sang1
1. Email:
TĨM TẮT
Hệ thống giáo dục thời Pháp ở Phú n khơng khác gì so với các tỉnh Trung Kỳ về cách
thức tổ chức, bậc học, chương trình học; song cũng có nhiều đặc điểm riêng, nổi bật và tính lý
thú khi nghiên cứu. Dưới góc nhìn lịch sử, bài viết sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với
phương pháp logic, phân tích và tổng hợp trình bày quá trình triển hệ thống giáo dục Phú Yên
thời Pháp thuộc với hai thời kỳ 1887-1918 và 1919-1945; mặc khác đi sâu lý giải những lý do
vì sao người Pháp có những quyết định đầu tư về giáo dục ở đây.
Từ khóa: Giáo dục, Pháp thuộc, Phú Yên
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong tiến trình lịch sử giáo dục Phú Yên thời Pháp thuộc có nhiều mốc quan trọng, chứa
đựng nhiều ý nghĩa lớn ở mỗi giai đoạn. Thời kỳ 1897-1918 là bước thử nghiệm của thực dân Pháp
với việc triển khai chương trình tiểu học Pháp - Việt lần đầu tiên ở Sơng Cầu vào năm 1909, sau đó
mở rộng lên 3 lớp vào năm 1915, nhưng vẫn còn lồng ghép với hệ thống giáo dục Nho học. Sang
thời kỳ 1919-1945, giáo dục Phú Yên tiến thêm một bước với nhiều sự thay đổi lớn về số lượng và
chất lượng, lần lượt trường Sơ học Pháp – Việt Sông Cầu thăng lên trường Tiểu học toàn cấp, trở
thành trường tỉnh của Phú Yên; kế đến trường phủ Tuy An cũng được thăng lên Sơ đẳng Tiểu học.
Hệ thống giáo dục thời Pháp ở Phú n khơng khác gì so với các tỉnh Trung Kỳ về cách thức
tổ chức, bậc học, chương trình học; song cũng có nhiều đặc điểm riêng, nổi bật và tính lý thú khi
nghiên cứu. Vào những năm 20 thế kỷ XX, người Pháp đầu tư nhiều lĩnh vực ở Phú Yên, đặc biệt là
hướng về phía nam Phú Yên, người Pháp đầu tư xây dựng Tuy Hịa trở thành trung tâm chính trị,
kinh tế và văn hóa, nên lĩnh vực giáo dục được mở rộng ở đây. Trường Sơ học Pháp - Việt Tuy Hòa
được mở thêm 2 lớp và trở thành trường Tiểu học toàn cấp ở Phú Yên vào năm 1929. Với những
quyết định ấy tạo nên bước ngoặc lớn cho nền giáo dục Tuy Hịa nói riêng và Phú n nói chung.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bài viết sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic, phương pháp phân
tích, tổng hợp, so sánh và đối chiếu. Những nguồn tư liệu lưu trữ, tư liệu ký ức, lời kể từ những
nhân chứng còn sống kết hợp kiến thức thực địa cũng được sử dụng trong bài viết này.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN


3.1. Hệ thống chính quyền và chính sách khai thác thuộc địa của Thực dân Pháp ở Phú Yên
3.1.1. Hệ thống chính quyền thuộc địa ở Phú Yên
Sau khi cuộc khởi nghĩa Lê Thành Phương thất bại, về cơ bản phong trào văn thân yêu
591


nước hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi tạm lắng xuống trên địa bàn Phú Yên,
lúc này thực dân Pháp hướng đến thiết lập một hệ thống chính quyền cai trị ở đây.
Đến cuối năm 1887 một cơ chế chính quyền với đầy đủ nghĩa “chính quyền lưỡng thể”
(dyalite dupouvoir) tại Phú Yên đã được phê chuẩn bởi tồn quyền Đơng Dương. Tháng 1-1888,
người Pháp chính thức xác lập hệ thống chính quyền ở Phú Yên, đứng đầu chính quyền bảo hộ là
viên Cơng sứ nắm giữ quyền cơng chính và thương chính, về sau thực dân Pháp ban hành thêm
quyền lãnh sự, thay mặt Khâm sứ Trung Kỳ chỉ đạo mọi hoạt động từ tỉnh trở xuống. Giúp việc có
viên Phó sứ và các quan lại đứng đầu mỗi sở, ngành chuyên môn: quan Giám binh, quan Thầy
thuốc, quan Lục lộ, quan chủ sở Điện báo, quan Thú y, quan Thương chánh… (Nguyễn Đình Cầm,
Trần Sĩ, 1937, tr.34). Viên Công sứ đến thụ chức đầu tiên là Tirant, Phó sứ là Groleau. Giúp việc
cho Tồ cơng sứ cịn có các quan lại người Việt giữ chức vụ tham tá, phán sự và thông ngôn.
Xuất phát từ những toan tính về chính trị, quân sự và quyền lợi kinh tế, chính quyền bảo hộ
chọn Vũng Lắm làm nơi toạ lạc tịa cơng sứ tỉnh đầu tiên vào năm 1888, theo sắc lệnh 3-2-1886
của tổng thống Pháp qui định Tịa cơng sứ vừa là cơ quan tổng hợp và chỉ đạo mọi hoạt động,
vừa là cơ quan lập pháp và tư pháp của chính quyền thực dân ở cấp tỉnh. Vũng Lắm nằm trong
vịnh Xuân Đài, là quân cảng, thương cảng quan trọng ở Việt Nam vào thế kỷ XIX, nơi đây có
cửa thơng ra biển rộng 318 trượng (1348,32m) chạy từ mũi Hòn Đồn sang Tân Thạnh, độ sâu lúc
thuỷ triều lên là 1 trượng 5 thước (6,36m), tàu thuyền có thể ra vào với số lượng lớn, đặc biệt là
loại tàu trọng tải lớn và tàu quân sự. Vào năm 1832 (Nhâm Thìn), Minh Mạng thứ 13, phái đoàn
ngoại giao Hoa Kỳ do Edmund Robert dẫn đầu đã vào Vũng Lắm, vua Minh Mạng cử Hồng Lô
tự khanh Nguyễn Tri Phương và Tư vụ Lý Văn Phức đến hội với quan Tuần vũ Phú Yên lên
thuyền thết tiệc, nhưng do chủ trương “bất hảo” với lái buôn nước ngồi của vua Minh Mạng,
nên khơng có thỏa thuận ngoại thương nào trong cuộc gặp phái đoàn Mỹ (Sony. L, 1937, p.63,64).
Về phía Tây Vũng Lắm giáp với con đường thiên lý, án ngự trọng điểm của tỉnh giống như tâm

điểm của trục tung, hồnh với 4 hướng Đơng, Tây, Nam, Bắc, từ đây việc tiếp ứng cũng như rút
lui của chính quyền bảo hộ nhanh chóng khi có những cuộc nổi loạn dân bản xứ.
Mặt khác, Vũng Lắm nằm bên cạnh thành An Thổ, phủ lỵ Phú Yên xây dựng từ thời Minh
Mạng, cửa Đông thành An Thổ thông ra vịnh Xuân Đài, sở hữu cửa biển Tiên Châu, nơi diễn
ra hoạt động trao đổi, buôn bán tấp nập giữa người bản xứ với các lái buôn ngoại quốc Hà Lan,
Pháp, Hoa Kỳ, Bồ Đào Nha… Những phố buôn bán người Hoa, dân bản xứ gọi là khách trú
dựng lên khắp lưu vực vịnh Xuân Đài (tập trung nhiều ở Vũng Lắm, Tiên Châu).
Từ giữa năm 1888, hệ thống chính quyền thực dân tay sai ngày càng mở rộng, người Pháp
dự kiến xây dựng đồn giám binh, sở thương chánh, cơng chính, y tế… phục vụ cơng cuộc khai
thác thuộc địa sắp tới, chính quyền bảo hộ nhận ra Vũng Lắm khơng phù hợp đặt cơ sở chính
quyền quy mơ và lâu dài, thêm vào đó các tháng 9,10 của năm gió mùa Đơng Bắc hoạt động
mạnh gây trở ngại cho việc đậu thuyền. Tháng 2-1889, chính quyền thực dân dời Tịa cơng sứ
ra làng Phước Lý (Sơng Cầu) và đóng ở đây cho tới ngày thực dân Pháp cáo chung (Paris. C,
1898, p.171). Việc di dời địa điểm của chính quyền bảo hộ nhằm phục vụ ý đồ cai trị lâu dài,
cùng với những chính sách khai thác thuộc địa sẽ được triển khai trên khắp địa bàn tỉnh Phú
Yên. Thực dân Pháp xây dựng hệ thống sở, phịng ban chun mơn gồm sở thương chính, giám
binh, hội đồng tịa án tỉnh, cơng chính, y tế, ngân khố, điện báo, cảnh sát vệ sinh… phục vụ
công cuộc khai thác, bóc lột thuộc địa (Province de Phu Yen, anée 1911, p.506).
592


Sở Giám binh đặt tại tỉnh lỵ Sông Cầu, đứng đầu là viên quan chủ sở, bên dưới là các đồn
lính khố xanh ở mỗi phủ, huyện và ở tận thôn, buôn. Đứng đầu mỗi đồn là viên quan Một hoặc
quan Hai, giúp việc có quan thơng ngơn người Việt, bên dưới là đội lính bản xứ do nhà cầm
quyền An Nam cung cấp.
Sở thương chính trưng dụng nhiều phịng phụ trách các vấn đề như phòng quản lý xuất
nhập cảng, phịng quản lý muối, phịng thuế về bn bán, nấu rượu… Thực dân Pháp đặt phòng
quản lý xuất nhập cảng 1 tham tá, 1 thừa hành và một số viên lại giúp việc thực hiện thu thuế,
về sau đặt thêm đội cảnh sát vệ sinh.
Sở điện báo gồm 2 bưu cục lớn là Sơng Cầu, Tuy Hịa và 2 bưu cục nhỏ là Củng Sơn,

Phú Khê, các bưu cục quan hệ với nhau về chuyên môn, cùng chịu điều hành trực tiếp của Nha
bưu điện miền Nam. Ở các bưu cục đều có chủ sự ngạch thư ký quản lý, cùng một số nhân viên
giúp việc, riêng bưu cục Củng Sơn chỉ có một chủ sự ngạch bưu tá quản lý, khơng có nhân viên
giúp việc. Các bưu trạm ở phủ, huyện đều có một đội trạm điều khiển công việc và một số phủ
trạm, huyện quản lý.
Vào cuối thế kỷ XIX, hệ thống chính quyền thực dân dần đi vào qui củ và ổn định, người
Pháp bắt đầu triển khai chương trình khai thác thuộc địa ở Đơng Dương. Người đầu tiên khởi
động chương trình này là viên Tồn quyền Pơn Đume (Paul Doumer). Nhìn chung, chính sách
khai thác thuộc địa thực hiện đồng loạt, thống nhất trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội,
văn hóa và giáo dục ở 3 kỳ Nam, Trung, Bắc. Thực dân Pháp thực hiện chính sách “Anhđigiêna”
(Dương Kinh Quốc, 1988, tr.254), dựa vào đặc điểm tự nhiên, đặc điểm xã hội, tâm lý dân cư,
dân số… để triển khai chương trình khai thác thuộc địa nhằm mang lại lợi nhuận tối đa.
3.1.2. Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp
❖ Chính sách cai trị về kinh tế
Người Pháp thực hiện chính sách kinh tế “lưỡng song”, nghĩa là duy trì phương thức sản
xuất phong kiến kết hợp hạn chế phương thức sản xuất tư bản hiện đại ở tất cả các lĩnh vực
nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp. Hình thức kinh tế “lưỡng song”
được cụ thể hóa bằng những chính sách: chính sách hạn chế phát triển kỹ nghệ; chính sách độc
quyền; chính sách chiếm đất lập đồn điền kết hợp duy trì, phát triển lối bóc lột phong kiến.
Chính sách hạn chế phát triển công nghệ được qui định trong bản báo cáo 23-3-1897 của
Tồn quyền Pơn Đume (Paul Dumer): “Nếu việc xây dựng cơng nghiệp cần được khuyến khích ở
thuộc địa thì chỉ trong giới hạn khơng hại đến cơng nghiệp chính quốc. Cơng nghiệp chính quốc
cần được bổ sung chứ khơng là phải phá sản bởi công nghiệp thuộc địa” (Nguyễn Cơng Bình, 1959).
Theo đó, tư bản Pháp tập trung khai thác các ngành cơng nghiệp khai khống và chế biến vừa thỏa
mãn yêu cầu về vốn, vừa đem lại lợi nhuận cao và bổ trợ cho ngành cơng nghiệp chính quốc.
Tư bản Pháp mở rộng chiếm đất lập đồn điền ở 3 kỳ Bắc, Trung, Nam. Năm 1900, diện tích
đồn điền là 322.000 ha, trong đó Nam Kỳ là 78.000 ha, Bắc Kỳ là 98.000 ha (Nguyễn Văn Khánh,
2001, tr.53). Những hình thức kinh doanh đồn điền: Cơng ty người Âu thuê đất chính quyền trong
thời hạn nhất định; chính quyền lập đồn điền sau đó thuê địa chủ quản lý; chính quyền giao hẳn
đất cho địa chủ lập đồn điền nhưng sản phẩm bán cho nhà cầm quyền với giá định sẵn. Phương

thức bóc lột theo lối phát canh thu tô, tận dụng nguồn nhân công bản xứ rẻ mạt.
Ở Phú Yên thực hiện những chính sách kinh tế trên từ cuối thế kỷ XIX, về quy mô biểu
hiện không bằng các tỉnh xứ Trung Kỳ, nhưng về cơ bản nổi lên một số chính sách cai trị sau:
593


➢ Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Ở lĩnh vực đầu tư phát triển công nghệ biểu hiện “chưa rõ nét” (Le province de l’Annam,
Người dịch Nguyễn Lương Hùng, tr.10) ở ngành công nghiệp khai thác và chế biến. Hầu như
khơng có Cơng ty tư bản Pháp đầu tư thăm dị, khai thác khống sản, các cuộc thăm dị chủ yếu
do nhà cầm quyền tiến hành hoặc do những phát hiện vơ tình của dân bản xứ. Vào các năm
1908, 1909 người ta đệ đơn xin nhà cầm quyền cho khai thác khoáng vàng, đồng, đá đen,
kẽm…ở khu vực miền tây Phú Yên, nhưng dự án chỉ dừng lại trên giấy tờ.
Chính sách nổi bật trong ngành kỹ nghệ chế biến ở Phú Yên là sự kết hợp giữa tiểu kỹ
nghệ địa phương chính yếu với đại kỹ nghệ Tây Âu. Các sản phẩm được sơ chế bằng phương
pháp thủ cơng, sau đó qua xử lý phương pháp hiện đại Tây Âu thành những sản phẩm thô, rồi
chuyển vào các nhà máy ở Bắc kỳ, Nam kỳ và Trung kỳ. Kỹ nghệ chế biến đầu tiên tư bản Pháp
tiến hành là lọc bỏ lòng trắng trứng vịt ở Vũng Lắm vào năm 1896, thử nghiệm do ngài Berthoin
phụ trách, kết quả mang lại không thành công. Đến năm 1911, nhà tư bản Derobert và Fiard ở
Đà Nẵng đã xin nhà cầm quyền thu mua trứng vịt ở tỉnh, rồi chuyển về Vũng Lắm, tại đây họ
xử lý thành công tách chất đản bạch.
Năm 1905 Hiệp hội Gilbert ở Hà Nội đã đề nghị chính quyền Phú Yên cấp một thửa đất
rộng 2032,75 ha toạ lạc ở 11 ngôi làng: Đông Tác, Phú Lâm, Phú Lạc, Thạnh Lâm, Phú Hiệp,
Phú Nhuận, Phước Lâm, Uất Lâm, Đông Mỹ, Thọ Lâm, Đa Ngư thuộc tổng Hoà Đa (nay là
Hoà Hiệp Bắc, Hoà Hiệp Trung, Hồ Hiệp Nam) với mục đích trồng cây thơm tàu (avage) sản
xuất thảm, dây thừng, yên ngựa, bao bố, vải bạt,…phục vụ cho nhu cầu quân sự của chính
quyền thực dân. Chủ đồn điền Gilbert đầu tư hệ thống máy móc hiện đại: máy dập chạy bằng
hơi nước, máy ép, máy tước sợi. Sau thời gian làm ăn thua lỗ, cùng với việc xuất hiện nhiều cỏ
gà ở đồn điền, Hiệp hội Gilbert đã thôi đầu tư vào năm 1910 (Concession de Gilbert et Cie à
Tuy Hoa 1906 – 1909, RSA\HC, 420).

Thực dân Pháp duy trì, bất can thiệp vào nền tiểu kỹ nghệ địa phương. Trong bản báo cáo
kinh tế năm 1909, công sứ Phú Yên nhận xét tình hình thủ cơng nghiệp như sau: “Nhìn chung
tiểu kỹ nghệ ở Phú Yên không mấy phát triển và những sản phẩm phục vụ hàng ngày cho người
trong tỉnh, một ít đem bán ở Bình Định”.
➢ Thương mại
- Chính sách kinh tế then chốt, nổi bật trong giai đoạn 1887 đến đầu những năm 20 thế
kỷ XIX của chính quyền thực dân là đầu tư phát triển cảng thị, cụ thể ở Cù Mông và Vũng Lắm
trở thành hải cảng “thương mại và xuất khẩu” quan trọng ở xứ Trung Kỳ.
Ý tưởng quy hoạch cảng thị ở Phú Yên manh nha từ năm 1890, biểu hiện ở lời nhận xét của
viên công sứ Tirant về tầm quan trọng của vịnh Xuân Đài: “Vịnh Sông Cầu là một trong những
vịnh đẹp nhất trên tồn thế giới mà 100 tàu có thể đến thả neo ở đây”, sau đó đích thân ông ta đã đề
nghị nhà cầm quyền: “nó phải được thừa nhận là hải cảng chính của miền Trung An Nam”.
Xét về quy mô của hải cảng, Cù Mông và Vũng Lắm khơng sánh bằng các hải cảng ở Hải
Phịng, Đà Nẵng, Sài Gòn; nhưng xét về vai trò, vị trí và tính chất có một số điểm sau:
+ Hải cảng Cù Mơng, Vũng Lắm đóng vai trị “cảng trung gian”: Trung chuyển hàng hố
nơng sản ở khu vực Trung Kỳ; trạm tiếp nhiên liệu và lương thực cho các tàu ngoại quốc hoặc
tàu hành trình Bắc – Nam và nơi trú ẩn an toàn khi thời tiết diễn biến xấu.
594


+ Cảng thị Phú n đóng vai trị quan trọng trong chính sách độc quyền khai thác và tách
cao nguyên ra khỏi lãnh thổ Trung Kỳ của thực dân Pháp. Những nguồn lợi tài ngun, hàng
hố nơng thổ sản ở cao nguyên vận chuyển bằng đường bộ qua tỉnh Phú n, sau đó chuyển
tới cảng Vũng Lắm và Cù Mơng để xuất sang chính quốc.
Trong thời gian này hoạt động thương mại ở Cù Mông và Vũng Lắm được đẩy mạnh. Theo
thống kê của phòng Giám thu Xuân Đài và Cù Mông, hoạt động thương mại năm 1909: Xuất khẩu
8338 tấn với giá trị 2,3 triệu Franc (fr), mặt hàng xuất khẩu chủ yếu đường mật, cau, đồ gốm, dừa
khô, cá khô, muối, da động vật, đậu lấy dầu; nhập khẩu 3552 tấn với giá trị 1,1 triệu fr, mặt hàng
nhập khẩu như cá khô và thịt muối, chè Trung Hoa, gốm Nam Kỳ, vải, chỉ cotton, gạo trắng; số
lượng tàu thuyền cập cảng là 2307 chiếc (tàu ngoại quốc là 13 chiếc, tàu An Nam 2285 chiếc).

Thực dân Pháp thực hiện chính sách độc quyền chi phối tồn bộ hoạt động ngoại thương
và nội thương ở Phú Yên. Đặt các phòng quản lý xuất nhập cảng ở Xuân Đài và Cù Mông, mọi
hoạt động trao đổi buôn bán do nhà cầm quyền quyết định với những biểu thuế đặc biệt. Chính
quyền thực dân thiết lập các trạm thu mua muối tại các làng Trung Trinh, Lệ Uyên và Vĩnh
Cửu, độc quyền về giá cả khi mua vào và bán ra. Ngoài ra, nhà cầm quyền triển khai đánh thuế
rượu, thuế mơn bài tại Tuy Hồ và Đồng Trạch.
➢ Về nơng nghiệp: Tư bản Pháp triển khai chính sách chiếm đất lập đồn điền ở Phú Yên
từ cuối thế kỷ XIX. Đặc điểm đồn điền ở Phú Yên: quy mô vừa và nhỏ (lớn nhất là 4216 ha); đồn
điền “xen canh” nhiều loại cây trồng hoặc đồn điền hỗn dung giữa trồng trọt và chăn ni; diện
tích đồn điền manh mún, phân tán. Một số đồn điền quan trọng ở Phú Yên: Đồn điền Gilbert et
Cie diện tích 2032,75 ha, trồng cây thơm tàu Concession de Gilbert et Cie à Tuy Hoa 1906 –
1909, RSA\HC, 420. ; đồn điền Lyard diện tích 400 ha, toạ lạc ở Vân Hồ và Lương Sơn, trồng
thuốc lá và chăn nuôi (Concession de Lyard à Son Hoa (Phu Yen) 1907 – 1908, RSA\HC, 479);
đồn điền Ramond diện tích 100 ha, toạ lạc ở khu vực từ Hòn Trọc cho tới giáp làng Tiên Châu;
đồn điền Montpezat diện tích 4216 ha, toạ lạc ở tổng Sơn Xuân và Sơn Tường, trồng các loại
nông thổ sản và chăn nuôi (Concession de Monpezat 4216ha à Phu Yen, RSA\HC, 2138).
❖ Chính sách cai trị về chính trị: Ở lĩnh vực chính trị người Pháp thực hiện chính sách
biến Phú Yên trở thành địa bàn “Tây tiến” về miền cao nguyên Trung Kỳ, với nhiệm vụ: hậu
thuẫn, bảo vệ những nhà thầu người Âu đầu tư lập đồn điền và khai thác khống sản; quản lý
việc trao đổi bn bán giữa người Kinh với người dân tộc thiểu số; bình định, thu phục các cuộc
nổi dậy của người dân tộc thiểu số. Năm 1900, thực dân Pháp thành lập khu uỷ nhiệm hành
chính Củng Sơn, coi sóc tồn bộ khu vực phía Tây Phú Yên. Năm 1907, đại lí Cheo Reo thành
lập thuộc tỉnh lị Sông Cầu, từ đây vùng sơn cước Phú Yên kéo dài đến tận biên giới Lào, tại
đây hệ thống các đồn quân trú thiết lập ở Ban Turr, Buon Houine (Laborde, 1929, tr.438, 402).
❖ Chính sách văn hóa, giáo dục: Người Pháp thực hiện chính sách “duy trì” nền tản xã
hội cũ và lối giáo dục phong kiến ở Phú Yên. Đồng thời đào tạo đội ngũ tay sai người Việt phục
dịch trong hệ thống chính quyền bảo hộ. Thực dân Pháp phát triển hệ thống nhà thờ và đội ngũ
giáo dân ở Phú Yên nhằm kiểm soát mọi hoạt động của nhân dân ở các thơn xóm, đồng thời
củng cố chỗ dựa vững chắc cho chính quyền thực dân.
Tóm lại, hệ thống chính quyền và chính sách cai trị của thực dân Pháp ở Phú n khơng

khác gì so với các tỉnh Trung Kỳ, nhìn tổng thể có một vài đặc trưng sau:
- Về quy mơ của hệ thống chính quyền chia ra làm hai giai đoạn: Từ 1887 đến những năm
595


đầu thế kỷ XX, chính quyền thực dân vươn tới cấp huyện; từ năm 1921 trở về sau, người Pháp
với tới tận xã, thơn ở Phú n.
- Cơ cấu chính quyền bảo hộ gồm: Tịa cơng sứ; hệ thống sở, phịng ban chun mơn và
Hội đồng tỉnh Phú n.
- Người Pháp quy hoạch đô thị ở Phú Yên theo hướng trung tâm cảng và thương mại, sau
một thời gian với nhiều lý do khác nhau, chính quyền bảo hộ hướng Phú Yên phát triển theo
hướng trung tâm kỹ nghệ và canh nông.
Như vậy trong giai đoạn từ năm 1887 – 1921, thực dân Pháp đã thiết lập hệ thống chính
quyền cai trị thực dân cùng với tay sai Nam triều ở Phú Yên, với tay tới tận cấp làng xã, sẵn
sàng trấn áp mọi sự chống đối của các tầng lớp nhân dân. Đi đôi với thiết lập và củng cố chính
quyền, thực dân Pháp cịn đẩy mạnh chính sách cai trị, du nhập nền kinh tế tư bản thực dân bên
cạnh duy trì quan hệ bóc lột phong kiến, làm cho bộ mặt kinh tế - xã hội Phú Yên có những
bước biến đổi, để trên cơ sở đó trong giai đoạn thực hiện chương trình khai thác thuộc địa lần
thứ hai (1921 – 1945) kinh tế - xã hội Phú Yên có những chuyển biến mạnh mẽ.
3.2. Hệ thống giáo dục Phú Yên thời Pháp thuộc
3.2.1. Thời kỳ 1887 - 1918
Cho đến trước năm 1915, giáo dục ở Phú Yên vẫn theo chương trình giáo dục và thi cử
Nho học với 3 cấp học: Ấu học, tiểu học và trung học. Thời kỳ này, số lượng trường dạy chữ
Hán ở Phú Yên gồm: 1 trường tỉnh, 4 trường phủ huyện và các trường tư gọi là hương trường
ở khắp các làng xã. Trường tỉnh Phú Yên lập từ thời Gia Long tại làng Ngân Sơn, sau dời đến
làng Long Uyên vào năm 1847, rồi đến làng An Thổ năm 1899 nằm bên cạnh chính quyền Nam
triều. Khi tỉnh đường dời ra làng Long Bình (Sơng Cầu) thì trường tỉnh cũng dời theo. Trường
phủ Tuy An lập cùng thời với trường tỉnh tại làng Hội Phú, sau dời đến An Thổ. Trường phủ
Tuy Hoà lập năm 1846 tại làng Đông Phước. Đối với trường huyện ở Đồng Xuân và Sơn Hồ
cùng lập năm 1899, trường huyện Đồng Xn đóng tại làng Khoan Hậu, cịn trường huyện Sơn

Hồ đặt tại làng Củng Sơn (Trần Sĩ Huệ, 2003, tr.14). Đối với trường tỉnh do quan đốc học
quản lý, trường phủ huyện do quan giáo thụ và huấn đạo chịu trách nhiệm.
Bảng 1: Số lượng trường, học sinh trong hệ thống trường tư bản xứ ở Phú Yên
(Ecoles Indigènes libre au Phu Yen) năm 1909
STT

Phủ/ huyện

1
Tuy An
2
Tuy Hoà
3
Sơn Hoà
4
Đồng Xuân
Tổng cộng

Tổng số trường tư hàng xã
Trường tư ở các làng
Trường tư nhân mở
6
9
8
12
4
0
4
7
22

28

Số lượng học sinh
256
295
162
200
813

Nguồn: Statistique annuelles du Services de l’Enseignement en An nam 1909 – 1912. RSA\HC 527
Bên cạnh hệ thống trường tỉnh, phủ và huyện do chính quyền Pháp và Nam triều quản lý,
hệ thống trường tư của các làng xã cũng phát triển ở Phú Yên trong thời kỳ này. Loại trường
này do người dân ở các làng tự quyên góp tiền, hoặc do các nhà chùa, nhà thờ tổ chức giảng
dạy, ngồi ra có thể do những người đỗ đạt cao không ra làm quan đứng ra tổ chức giảng dạy.
596


Thường hệ thống trường này chỉ phụ giúp các em tập đọc, tập viết và giảng dạy những bài học
khai lòng trước khi bước vào bậc học cao hơn do chính quyền Pháp và Nam triều tổ chức ở phủ,
huyện và tỉnh. Thời kỳ này có trường tư của ơng Nguyễn Văn Đầu, ông đã tổ chức giảng dạy
được 20 học sinh, trong số ấy khơng có ai là nữ. (Statistique annuelles du Services de
l’Enseignement en An nam 1909 – 1912. RSA\HC 527).
Về nội dung học và thi cử vẫn theo chương trình giáo dục Nho giáo từ thời kỳ trước. Tuy
nhiên, chính quyền bảo hộ bắt đầu đưa chữ quốc ngữ và Pháp vào chương trình học ở các lớp
tiểu học và trung học, nhưng thời lượng giảng dạy ở các trường chủ yếu là chữ Hán tại tỉnh Phú
n. Sau khi hồn thành chương trình học ở 3 bậc, những khoá sinh được dự kỳ tỉnh hạch tổ
chức hàng năm tại Sơng Cầu, người đậu cấp bằng thí sinh. Sau kỳ thi này, quan Đốc học Phú
Yên lập danh sách những người trúng tuyển về Bộ Học hoặc Bộ Lễ, sau đó họ được dự kỳ thi
Hương tổ chức tại trường thi Bình Định. Theo Quốc triều hương khoa luật, số lượng người đỗ
cử nhân ở Phú Yên tại trường thi Bình Định từ khoa Canh Tý (1900) đến Mậu Ngọ (1918) có

13 vị, trong đó huyện Đồng Xuân có 3 vị và phủ Tuy An là 5 vị, Tuy Hồ và Sơn Hồ có ít
người đỗ đạt cao so với các địa phương trên (Trần Sĩ Huệ, 2003, tr.15).
Bảng 2: Danh sách các quan lại đứng đầu về giáo dục ở phủ, huyện
và số lượng học sinh bậc trung học ở Phú Yên năm 1909
Phủ/huyện
Sông Cầu
Tuy An
Tuy Hoà
Sơn Hoà

Chức vụ
Đốc học
Giáo thụ
Giáo thụ
Huấn đạo

Tên
Phạm Văn Chất
Trần Văn Quán
Huỳnh Đình Lữ
Nguyễn Đức

Số lượng học sinh
45
62
18
12

Nguồn: Statistique annuelles du Services de l’Enseignement en An nam 1909-1912. RSA\HC 527
Kể từ những năm đầu thế kỷ XX, hệ thống chính quyền thực dân và chính sách khai thác

thuộc địa của Pháp ngày càng mở rộng ở Phú Yên, đòi hỏi phải bổ sung lượng cơng chức hành
chính Tây học phục vục ở các cơ quan chính quyền bảo hộ, đồng thời thực hiện âm mưu với
tay đến tận cấp xã thôn. Người Pháp bắt đầu triển khai chương trình giáo dục Pháp - Việt ở đây;
theo nguồn tư liệu chúng tôi tiếp cận thì chính thức năm học 1908 – 1909, chính quyền bảo hộ
Pháp đã cho thử nghiệm chương trình học này tại Sơng Cầu, mới đầu chỉ có 1 lớp với 3 thầy
giáo và 32 học sinh, được học lồng ghép với các lớp theo hệ thống giáo dục cũ do ngân sách
chính quyền Nam triều đài thọ.
Sau năm 1915, chính quyền thực dân Pháp chính thức triển khai chương trình giáo dục tiểu
học Pháp – Việt ở Phú Yên với 3 cấp học. Đến năm 1917, chính quyền Pháp mở thêm trường Sơ
học Pháp – Việt dành cho con gái (Ecole franco – annamite des jeunes files), trường dạy nữ sinh
nhập chung với trường Sơ học Pháp – Việt dành cho nam sinh ở Sơng Cầu. Chương trình học đối
với lớp nam sinh gồm 3 lớp: Đồng ấu, Dự bị và Sơ đẳng, nội dụng dựa theo chương trình Học
quy được ban hành năm 1906 của chính quyền thực dân Pháp. Đối với lớp con gái, chính quyền
thực Pháp dạy tiếng mẹ đẻ gồm tập viết, tập đọc, học tính, ln lý, vệ sinh và chương trình thực
tập gồm gia chánh (khâu vá, giặt giũ, nấu ăn…), những nghề thủ công dành cho phụ nữ (thêu,
đan, dệt, làm bánh, làm vườn…). Cho đến năm 1918, lượng giáo viên dạy ở trường Sơ học Sông
Cầu là 3 người, trong đó 1 hiệu trưởng, 1 thầy giáo giảng dạy (instituteur auxiliaire) và 1 giáo
viên nữ (institutrice). (“Province de Binh Dinh”, Annuaire general de L’indochine, anée 1918).
597


Như vậy đến những năm đầu thế kỷ XX, nền giáo dục ở Phú Yên tồn tại song song hai
hệ thống giáo dục cựu học và tân học, trong đó hệ thống giáo dục Nho giáo vẫn chiếm ưu thế
và chi phối toàn bộ nền học vấn trong mọi tầng lớp nhân dân. Bên cạnh đó, nền giáo dục thực
dân ở Phú Yên bắt đầu hình thành và phát triển, đội ngũ tri thức có kiến thức Tây học ngày
càng tăng, góp phần tạo nên những đổi thay trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục..
2.2. Thời kỳ 1919 – 1945
Sau chiến tranh thế giới lần I, chính quyền thực dân Pháp tiếp tục thực hiện chính sách củng
cố và phát triển hệ thống giáo dục thực dân ở Phú Yên. Thời kỳ này, chính quyền bảo hộ triển
khai nền “Học chính tổng quy” từ cấp phủ, huyện đến tổng, xã với hàng loạt các trường tiểu học

Pháp – Việt ra đời ở Phú Yên. Bậc học cao nhất ở Phú Yên là Tiểu học với 3 loại trường: Tiểu
học toàn cấp (Ecole Primaire de plein exercice) lập ở tỉnh, Sơ đẳng Tiểu học (Ecole Primaire
Élémenteire) lập ở phủ, huyện và Sơ học ở các tổng, xã (Ecoles cantonales et communales).
Vào năm 1921, trường Sơ đẳng tiểu học Sông Cầu đổi thành trường Tiểu học toàn cấp (Ecole
primaire de plien exercice) với 5 cấp học, gồm: Đồng ấu, Dự bị, Sơ đẳng Tiểu học, Trung đẳng
Tiểu học và Cao đẳng Tiểu học, sau đó được thăng lên trường tỉnh. Sự kiện này tạo ra một bước
ngoặt đối với nền giáo dục Phú Yên thời thuộc Pháp. Hệ thống giáo dục phong kiến chính thức
chấm dứt vai trị đào tạo nguồn nhân lực, cùng với nó là hệ thống giáo dục Pháp – Việt chi phối
và quyết định đến việc đào tạo đội ngũ tri thức ở Phú Yên. Lý giải về ngun nhân vì sao người
Pháp lại có quyết định này, theo chúng tơi từ năm 1921 tỉnh Phú n chính thức tách khỏi tỉnh
Bình Định, về mặt hành chính khơng còn lệ thuộc nữa nên người Pháp đã đầu tư xây dựng Phú
Yên với đúng nghĩa là một tỉnh như các các tỉnh Trung Kỳ. Việc triển khai đầu tư bao gồm nhiều
lĩnh vực kinh tế, văn hóa và giáo dục, đặc biệt là bắt đầu chú ý đến khu vực phía nam Phú Yên.
Đến năm 1922, chính quyền Pháp cho xây dựng 2 trường Sơ đẳng Tiểu học ở Tuy Hồ
và Tuy An. Về sau do nhu cầu chính sách khai thác thuộc địa và vị trí ngày càng quan trọng
của đơ thị Tuy Hồ, tư bản Pháp cho mở thêm 2 lớp Trung đẳng Tiểu học (lớp Nhì) và Cao
đẳng Tiểu học (lớp Nhất) ở Tuy Hoà vào năm 1929, đồng thời các học sinh ở Tuy Hoà và Sơn
Hoà sẽ tham dự kỳ thi lấy bằng Ri me tại đây. Việc triển khai nhiều dự án xây dựng như đập
Đồng Cam, nhà máy đường Tuy Hòa và nhất là sau biến cố bão năm Giáp Tý (1924) trung tâm
chính trị, kinh tế, văn hóa Sơng Cầu bị tàn phá nên người Pháp đã dần chuyển vào Tuy Hịa.
Thêm vào đó, một phận người Hoa ở Sơng Cầu và Tuy An cũng bắt đầu di cư vào phía nam
Phú Yên làm ăn và sinh sống. Những điều này càng thôi thúc người Pháp đầu tư và quy hoạch
đô thị Tuy Hịa trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và giáo dục ở Phú Yên.
Về chương trình học và thi cử trong các trường Tiểu học Pháp – Việt ở Phú Yên dựa theo
Học quy năm 1906 và “Học chính tổng quy” ban hành năm 1917. Theo đó, đối với các trường
Tiểu học tồn cấp, học sinh phải học 5 lớp từ dưới lên gồm: Đồng ấu, Dự bị, Sơ đẳng tiểu học,
Trung đẳng tiểu học và Cao đẳng tiểu học; với các trường Sơ đẳng tiểu học, học sinh chỉ học 3
lớp Đồng ấu, Dự bị và Sơ đẳng tiểu học; đối với các trường Sơ học ở tổng, xã cũng có 3 lớp
như trường Sơ đẳng tiểu học nhưng nội dung giảng dạy các mơn bằng tiếng Pháp ít. Cuối năm
học lớp Ba (Sơ đẳng tiểu học), học sinh thi lấy bằng Sơ học yếu lược (Primaire Elémenteire),

sau đó được chuyển lên học 2 lớp cuối cấp của bậc tiểu học được tổ chức ở Tuy Hịa, Tuy An
và Sơng Cầu. Đến cuối năm học lớp Nhứt (Cao đẳng tiểu học), học sinh thi lấy bằng Sơ đẳng
Tiểu học Pháp – Việt (Certificat d’Etudes Primaire Franco Indigène) thường gọi là bằng Ri me.
598


Đối với những trường Sơ học ở tổng, xã (hương trường), học sinh học hết lớp Ba phải nộp đơn
xuống các trường Tiểu học ở phủ hoặc tỉnh để thi lấy bằng Sơ học yếu lược. Thời kỳ này, ở Phú
Yên có 2 trường tổ chức thi lấy bằng Sơ học yếu lược và Sơ đẳng Tiểu học Pháp – Việt gồm
trường Tiểu học Sông Cầu (Sông Cầu) và Tiểu học Tuy Hồ (phủ Tuy Hồ), ngồi ra cịn trường
Sơ đẳng Tiểu học Tuy An cũng tổ chức kỳ thi lấy bằng Sơ học yếu lược. Sau khi tốt nghiệp
trường Tiểu học toàn cấp, các học sinh Phú Yên muốn học lên bậc Trung học phải ra Bình Định,
theo học tại trường Cao đẳng Tiểu học Qui Nhơn (Collège Qui Nhơn).
Bảng 3: Số lượng trường, giáo viên và học sinh
bậc Tiểu học Pháp - Việt ở Phú Yên năm 1929
Tiểu học dự bị
Tiểu học toàn cấp
Sơ đẳng tiểu học
Trường/
Bậc học Số trường Giáo viên Học sinh Số trường Giáo viên Học sinh Số trường Giáo viên Học sinh
Nam sinh
2
13
404
1
3
42
36
32
768

Nữ sinh
1
1
24
Tổng cộng
2
13
404
2
4
66
36
32
768

Nguồn: Instruction publique. Rapports trimestries du Services de l’Ensignement en An nam,
Exclusion à tour établissement scolaires des èlever grévister 1929. Ouerture des écoler. 1929.
RSA\HC 2428
Kỳ thi lấy bằng Sơ đẳng Tiểu học (còn gọi bằng Ri me) tổ chức lần đầu tiên tại trường
Tiểu học Sông Cầu vào năm 1930, nhiều học sinh đã đỗ đạt trong các kỳ thi lấy bằng Ri me và
một số ít học sinh tơt nghiệp bằng Thành chung (Diplome d’étude primaire supérieures franco
– indigène). Trong các thế học sinh Phú Yên thời thuộc Pháp, thầy giáo Trần Sĩ là người có
những đóng góp lớn đối với nền giáo dục tỉnh nhà. Tốt nghiệp bằng Thành chung vào năm 1930
và dạy tại trường Tiểu học tồn cấp Sơng Cầu. Năm 1937, Trần Sĩ và đốc học Nguyễn Đình
Cầm cùng biên soạn giáo trình Địa dư Phú Yên dùng cho học sinh tiểu học, đây là cũng là nguồn
tư liệu giá trị về lịch sử Phú Yên giai đoạn Pháp thuộc.
Với hệ thống trường tiểu học Pháp - Việt trên, người Pháp bắt đầu đào tạo đội ngũ trí thức
tân học ở Phú n hịng đáp ứng nhu cầu của chính sách khai thác thuộc địa. Chương trình Tây
học được triển khai trên khắp các phủ, huyện và xã, dần chiếm ưu thế và chi phối toàn bộ trong
hệ thống giáo dục ở Phú Yên; nền giáo dục cựu học dần mất vị trí và nhường chỗ cho một

chương trình học mới đáp ứng nhu cầu của sự phát triển xã hội. Thời kỳ này, chính quyền Pháp
còn triển khai dạy chữ quốc ngữ (sau này là tiếng Việt) ở các trường, giảm số giờ dạy chữ Hán.
Trước năm 1921, các văn bản hành chính ở Phú Yên thường có hai bản một chữ Hán, một chữ
Pháp thì bây giờ chứ Hán được thay thế bằng chữ Quốc ngữ song hành với chữ Pháp.
4. KẾT LUẬN
Trong tiến trình lịch sử giáo dục Phú Yên thời Pháp thuộc có nhiều mốc quan trọng, chứa
đựng nhiều ý nghĩa lớn ở mỗi giai đoạn. Thời kỳ 1897 – 1918 là bước thử nghiệm của thực dân Pháp
với việc triển khai chương trình tiểu học Pháp - Việt lần đầu tiên ở Sơng Cầu vào năm 1909, sau đó
mở rộng lên 3 lớp vào năm 1915, nhưng vẫn còn lồng ghép với hệ thống giáo dục Nho học. Sang
thời kỳ 1919 – 1945, giáo dục Phú Yên tiến thêm một bước với nhiều sự thay đổi lớn về số lượng và
chất lượng, lần lượt trường Sơ học Pháp – Việt Sơng Cầu thăng lên trường Tiểu học tồn cấp, trở
thành trường tỉnh của Phú Yên; kế đến trường phủ Tuy An cũng được thăng lên Sơ đẳng Tiểu học.
599


Vào những năm 20 thế kỷ XX, người Pháp đầu tư nhiều lĩnh vực ở Phú Yên, đặc biệt là
hướng về phía nam Phú Yên, người Pháp đầu tư xây dựng Tuy Hịa trở thành trung tâm chính trị,
kinh tế và văn hóa, nên lĩnh vực giáo dục được mở rộng ở đây. Trường Sơ học Pháp - Việt Tuy Hòa
được mở thêm 2 lớp và trở thành trường Tiểu học toàn cấp ở Phú Yên vào năm 1929. Với những
quyết định ấy tạo nên bước ngoặc lớn cho nền giáo dục Tuy Hịa nói riêng và Phú n nói chung.
Với những thay đổi trên, cho thấy người Pháp chú trọng đến vấn đề giáo dục và chính
sách đầu tư, khai thác thuộc địa. Người Pháp đi từng bước một, có thử nghiệm, có tính tốn và
có nghiên cứu kỹ vùng đất Phú Yên. Thiết nghĩ, chúng ta đặt câu hỏi tại sao thực dân Pháp
khơng triển khai chương trình Trung học Pháp - Việt ở Phú Yên, nhưng lại triển khai bậc học
này ở Bình Đình và muộn hơn là Khánh Hịa. Thơng qua lịch sử ngắn về giáo dục Phú Yên thời
Pháp thuộc và càng nhìn sâu hơn về giáo dục Phú Yên thời chúa Nguyễn, triều Nguyễn và
những giai đoạn về sau, giáo dục Phú Yên chưa bao giờ có bậc học cao nhất trong hệ thống
giáo dục chung ở Viêt Nam. Giáo dục Phú Yên chưa có sự độc lập đào tạo nhân tài để ra ứng
thí với các thí sinh cả nước, phải nhờ đến giáo dục của Bình Định và Khánh Hịa. Phải chăng
đây là hạn chế xuyên suốt trong nền giáo dục Phú Yên, và hôm nay trường Đại học Phú Yên ra

đời như đáp ứng niềm khao khát của vùng đất Phú n. Cuối cùng, chúng tơi xin trích lại lời
nhận xét về tính cách người Phú Yên của tác giả Nguyễn Đình Tư trong tác phẩm Non nước
Phú Yên, tác giả nhận xét như sau: “Quanh năm chí tháng, người dân chỉ làm bạn với con trâu
đám ruộng, rất ít ai dám đi ra khỏi tỉnh. Do đó, khơng mấy ai học hành đậu đạt cao, các bậc
khoa giáp thì cũng chỉ bậc cử nhân là cùng” (Nguyễn Đình Tư, 1965, tr.62) và chính tính cách
này hạn chế sự phát triển nhân tài Phú Yên trong lịch sử.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.

Phan Trọng Báu. 2006. Giáo dục Việt Nam thời cận đại. Nxb. Giáo dục.
Nguyễn Cơng Bình (1959). Tìm hiểu giai cấp tư sản Việt Nam thời thuộc Pháp. NXB Văn sử địa.
Nguyễn Đình Cầm, Trần Sĩ (1937). Địa dư tỉnh Phú Yên. Nxb. Qui Nhơn.
Laborde (1929). La province de Phu Yen, BAVH, Tập 16, số 4, (Tỉnh Phú Yên), Bản dịch, Thuận Hóa, 2003.
Trần Sĩ Huệ (2003). “Phú Yên thời Hương khoa”. Tạp chí Xưa Nay, số 140, 5-2003, tr.14-15
Nguyễn Văn Khánh (2001). Cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam thời thuộc địa (1858 – 1945). NXB
Đại học quốc gia.
Dương Kinh Quốc (1988). Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam trước cách mạng tháng Tám 1945.

NXB. Khoa học xã hội.
Nguyễn Q. Thắng (1998). Khoa cử và giáo dục Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Văn hố
Nguyễn Đình Tư (1965). Non nước Phú Yên. Tiền Giang: Nxb. Tiền Giang.
Construction fonds de cuors d’ecoler préparation à Nha Trang, incorporation au domaine local
l’Ecole de Hoa Da (Phu Yen). 1922 – 1925. RSA\HC 1329.
Instruction publique. Rapports trimestries du Services de l’Ensignement en An nam, Exclusion à
tour établissement scolaires des èlever grévister 1929. Ouerture des écoler. 1929. RSA\HC 2428.
“Province de Binh Dinh”, Annuaire general de L’indochine, anee 1914-1918, Ha Noi,
TVHP\VV225.
“Province de Phu Yen”, Annuaire general de L’indochine, anee 1901, 1903, 1907, 1911, 1912. Ha
Noi. TVHP\225.
Statistique annuelles du Services de l’Enseignement en An nam 1909 – 1912. RSA\HC 527.

600



×