Tải bản đầy đủ (.pdf) (10 trang)

Chính sách phát triển trường đại học ngoài công lập - Thực trạng và khuyến nghị

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (418.93 KB, 10 trang )

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGỒI CƠNG LẬP THỰC TRẠNG VÀ KHUYẾN NGHỊ
Nguyễn Trường Sơn1
1. Khoa Khoa học Quản lý. Email:
TĨM TẮT
Phát triển trường đại học ngồi cơng lập là một chính sách lớn của Nhà nước Việt Nam.
Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi phân tích, đánh giá một số khía cạnh liên quan đến
chính sách phát triển trường đại học ngồi cơng lập trong thời gian qua ở Việt Nam, đặc biệt
bài viết tập trung phân tích một số hạn chế, bất cập của chính sách phát triển trường đại học
ngồi cơng lập và khuyến nghị một số giải pháp hồn thiện chính sách phát triển trường đại
học ngồi cơng lập.
Từ khóa: Chính sách phát triển; Trường đại học ngồi cơng lập.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chính phủ trong một văn bản chính thức (Chính phủ, 2005) đánh giá giáo dục đại học
Việt Nam trong thời gian qua đã có sự phát triển rõ rệt về quy mơ, đa dạng về loại hình và các
hình thức đào tạo. Chất lượng giáo dục đại học ở một số ngành, lĩnh vực, cơ sở giáo dục đại
học có những chuyển biến tích cực, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đội
ngũ cán bộ có trình độ đại học và trên đại học mà tuyệt đại đa số được đào tạo tại các cơ sở giáo
dục trong nước đã góp phần quan trong vào công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước. Tuy
nhiên, Chính phủ cũng đã thẳng thắn thừa nhận những thành tựu đạt được trong lĩnh vực giáo
dục đại học chưa vững chắc, chưa mang tính hệ thống và cơ bản, chưa đáp ứng được những đòi
hỏi của sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhu cầu học tập của nhân dân và yêu
cầu hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới. Chính phủ nhấn mạnh rằng những yếu kém, bất cập
về cơ chế quản lý, cơ cấu hệ thống, cơ cấu ngành nghề, mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, quy
trình đào tạo, phương pháp dạy và học, đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục, hiệu quả
sử dụng nguồn lực và những tiêu cực trong thi cử, cấp bằng cần phải sớm được khắc phục.
Thực tế giáo dục đại học Việt Nam thời gian qua cho thấy, với bất cứ cách thức đo lường
thông dụng nào hiện nay, các trường đại học ở Việt Nam cũng đang nằm trong số những đơn
vị có chất lượng hoạt động nghèo nàn nhất trong khu vực. Điều này đã được cảnh báo bởi rất
nhiều người, trong đó có cả những con người lỗi lạc nhất của Việt Nam. Chẳng hạn, vào năm
2007 cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kết luận rằng “Hệ thống giáo dục của chúng ta về
nguyên tắc vẫn dựa vào mơ hình cũ. Để giúp đất nước phát triển nhanh chóng một cách có chất


lượng và bền vững, theo kịp đà tiến của kỷ nguyên tri thức và công nghệ thông tin chúng ta
phải thực hiện một cuộc cải cách toàn diện, sâu sắc và triệt để, để làm một cuộc cách mạng
trong giáo dục vào đào tạo” (Võ Nguyên Giáp, 2007). Đồng tình với ý kiến này, cố Giáo sư
Hoàng Tụy cũng khẳng định “Cuộc khủng hoảng trong giáo dục trên hết là khủng hoảng về
461


chất lượng, có nghĩa là giáo dục khơng chỉ tụt hậu mà cịn là đang đi sai hướng, bị cơ lập và
đứng ngoài xu hướng diện nay trên toàn cầu. Đây là hậu quả của sự thất bại về mặt quản lý có
tính chất hệ thống trong nhiều năm dẫn đến sự xuống cấp của giáo dục” (Hoàng Tụy, 2009).
Cuộc khủng hoảng của giáo dục đại học Việt Nam còn được khẳng định bởi nhiều học
giả nước ngoài. Chẳng hạn, một số học giả thuộc trường Đại học Havard của Hoa Kỳ đã khẳng
định “Việt Nam thậm chí khơng có đến một trường đại học có chất lượng được cơng nhận.
Không một trường Việt Nam nào xuất hiện trong những bảng xếp hạng các trường đại học hàng
đầu châu Á đang được sử dụng rộng rãi (dù những bảng ấy cũng có vấn đề). Về mặt này Việt
Nam cịn cách biệt cả các nước Đông Nam Á, phần lớn đều có một vài trường đỉnh cao có chất
lượng được quốc tế công nhận. Các trường đại học Việt Nam bị cô lập với tri thức hiện đại của
quốc tế” (Ben Wilkinson, Laura Chirot, 2010).
Cuộc khủng hoảng của giáo dục đại học Việt Nam trên thực tế không chỉ dừng lại ở những
nhận định, đánh giá của các nhà khoa học, mà nó cịn được thể hiện bằng những sự kiện thực
tế. Chẳng hạn, nỗ lực của Intel tìm thuê các kỹ sư cho cơ sở sản xuất của họ tại Thành phố Hồ
Chí Minh là một ví dụ minh họa. Khi công ty này tổ chức một đợt đánh giá kiểm tra tiêu chuẩn
cho 2.000 sinh viên Việt Nam ngành cơng nghệ thơng tin, chỉ có 90 ứng viên (tức là 5%) đạt
yêu cầu, và trong nhóm này chỉ có 40 sinh viên đủ khả năng tiếng Anh để được tuyển dụng.
Intel khẳng định rằng đây là kết quả tồi tệ nhất mà học gặp trong tất cả những quốc gia mà họ
đầu tư (Lê Minh Nguyên, 2008). Nhiều nhà đầu tư Việt Nam và quốc tế đã nêu ra việc thiếu
thốn nhà quản lý và nguồn nhân lực có kỹ năng là một rào cản chính trong việc mở rộng hoạt
động của họ (vấn đề này có thể được tìm thấy trong các bản báo cáo của Diễn đàn doanh nghiệp
Việt Nam, một tổ chức của các doanh nhân trong nước và quốc tế do Ngân hàng Thế giới và
Bộ Kế hoạch và Đầu tư tập hợp). Điều này cho thấy, các trường đại học của Việt Nam đã không

tạo ra một lực lượng lao động được đào tạo tốt mà nền kinh tế - xã hội Việt Nam đang đòi hỏi.
Những đánh giá và nhận định trên là thông điệp mạnh mẽ từ thực tiễn, đặt ra hàng loạt
câu hỏi cần có câu trả lời thỏa đáng: Nhà nước có trách nhiệm như thế nào đối với những hạn
chế, yếu kém của nền giáo dục đại học? Nhà nước cần làm gì để nâng cao chất lượng giáo dục
đại học? Vai trò, trách nhiệm của Nhà nước trong việc quản lý các trường đại học nhằm nâng
cao chất lượng đào tạo, sự minh bạch và trách nhiệm giải trình của các trường đại học trước
sinh viên, trước các nhà tuyển dụng và trước cộng đồng xã hội? Nhà nước cần làm gì để quản
lý có hiệu quả đối với các trường đại học?...
Trong nền kinh tế thị trường, khu vực tư nhân đóng vai trị là nhân tố khơng thể thiếu và
ngày càng quan trọng vì nó cho phép huy động các nguồn lực trong xã hội, tạo ra sự cạnh tranh
lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực của xã hội và do đó tạo điều kiện
cho sự phát triển bền vững trong bối cảnh nguồn lực là hữu hạn. Sự tham gia của khu vực tư
nhân không chỉ diễn ra trong các hoạt động sản xuất kinh doanh đơn thuần mà còn lan sang các
lĩnh vực khác, trong đó có lĩnh vực giáo dục. Tại các quốc gia trên thế giới, trong hệ thống giáo
dục, đào tạo từ lâu đã ra đời, tồn tại và phát triển một hệ thống các trường đại học tư thục, khu
vực này đã có những đóng góp to lớn vào q trình phát triển của hệ thống đại học và là nguồn
cung cấp nhân lực có trình độ cao cho nền kinh tế.
Tại Việt Nam, từ những năm 80 của thế kỷ XX, thực hiện chủ trường xã hội hóa sự nghiệp
giáo dục của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam, loại hình trường đại học ngoài
462


công lập đã ra đời như là sản phẩm của tư duy đổi mới trong lĩnh vực giáo dục. Đây là loại hình
mới, thành phần mới trong hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam, tự chịu trách nhiệm về tài
chính. Về mặt lý luận, khi hệ thống giáo dục, đào tạo phát triển đúng quy luật, cạnh tranh bình
đẳng, các trường đại học ngồi cơng lập sẽ mơ hình đối chứng về tổ chức quản lý và hiệu quả đào
tạo đối với các trường đại học công lập trong việc quản lý, sử dụng và phát huy các nguồn lực
trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học Việt Nam. Thời gian qua các trường đại học ngồi
cơng lập đã có một số đóng góp cho sự nghiệp phát triển giáo dục đại học của Việt Nam, đáp ứng
một phần nhu cầu học tập, nâng cao trình độ của người dân Việt Nam (có thể được tham khảo

thêm trong Báo cáo tổng kết 20 năm phát triển mơ hình giáo dục đại học ngồi cơng lập ở Việt
Nam của Ban chấp hành Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng ngồi cơng lập Việt Nam tại Hội
nghị Đánh giá 20 năm phát triển mơ hình giáo dục đại học ngồi cơng lập ở Việt Nam do Hiệp hội
Các trường đại học và cao đẳng ngồi cơng lâp Việt Nam tổ chức ngày 26/9/2013 tại Hà Nội).
Tuy nhiên, thực tế cho thấy hệ thống các trường đại học ngồi cơng lập đang tồn tại nhiều
hạn chế, bất cập hơn là những thành tựu mà nó đạt được. Điều đó được thể hiện ở chỗ hệ thống
giáo dục đào tạo của các trường đại học ngồi cơng lập chưa bắt kịp sự phát triển của nền kinh
tế. Nhiều trường có quy mơ nhỏ, lĩnh vực đào tạo hẹp, nhiều trường còn hoạt động một cách
tạm bợ với cơ sở vật chất - kỹ thuật nghèo nàn, đội ngũ giáo viên cơ hữu mỏng dẫn đến chất
lượng đào tạo chưa đạt chuẩn.
Với một số ít ngoại lệ, các trường đại học ngồi cơng lập hiện nay ở Việt Nam đang vận
hành như một doanh nghiệp vì lợi nhuận, hầu như các trường hồn tồn phụ thuộc vào nguồn
thu học phí. Đối với một số trường đại học ngồi cơng lập mới thành lập, năng lực của trường
hạn chế một cách nghiêm trọng, đến nỗi một vài trường khơng hề có giảng viên cơ hữu. Cựu
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Minh từng nhận định rằng “Phần lớn các trường đều “tay khơng
bắt giặc”: chỉ cần có được một quyết định cho phép thành lập trường là tuyển sinh, thu học
phí, có ngay cả chục tỷ, trăm tỷ đồng, trong khi giảng đường đi thuê, giảng viên cũng đi thuê”
(Nguyễn Minh Thuyết, 2010). Chẳng hạn, vào tháng 10 năm 2009 báo chí đã phát hiện trường
hợp về Trường Đại học Phan Thiết, một trường tư với mới thành lập đã được Bộ Giáo dục và
Đào tạo cấp phép hoạt động, nhưng đã khai khống danh sách giảng viên và lên kế hoạch vận
hành trường đại học này trong một khu du lịch và nhà hàng (Đoàn Từ Duy, 2009).
Một trong các nguyên nhân cơ bản dẫn đến những hạn chế, bất cập nêu trên chính là cơng
tác quản lý nhà nước đối với hệ thống này. Điều này đặt ra hàng loạt câu hỏi cần có câu trả lời
đối với vai trị, trách nhiệm của Nhà nước trong bối cảnh “thương mại hóa” giáo dục đang diễn
ra mạnh mẽ ở Việt Nam. Do đó, việc nghiên cứu các vấn đề có liên quan trong công tác quản
lý nhà nước đối với các trường đại học ngồi cơng lập như là một đối tượng mang tính đặc thù
là điều cần thiết nhằm định hướng cho sự phát triển có chất lượng của loại hình giáo dục đại
học ở này ở Việt Nam trong thời gian tới.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu

định tính, cụ thể:
Phương pháp phân tích luật viết: Được sử dụng để phân tích, làm rõ nội hàm của một số
quy định pháp luật có liên quan trực tiếp đến chính sách phát triển trường đại học ngồi cơng lập.
463


Phương pháp thu thập và xử lý thông tin từ tài liệu thứ cấp: Trong khuôn khổ bài viết,
chúng tôi chưa thể tiến hành thu thập các thông tin từ tài liệu sơ cấp liên quan đến chính sách
phát triển trường đại học ngồi cơng lập, thay vào đó chúng tôi chủ yếu sử dụng các thông tin
liên quan đến chính sách phát triển trường đại học ngồi cơng lập từ các tài liệu thứ cấp.
Phương pháp suy luận logic: Được sử dụng để xác định các hạn chế, bất cập, nguyên nhân
của các hạn chế, bất cập, cũng như khuyến nghị một số giải pháp hồn thiện chính sách phát
triển trường đại học ngồi cơng lập.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Từ các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành cho thấy khái niệm “trường đại học
ngồi cơng lập” không phải là một khái niệm được quy phạm hóa. Như vậy, có thể thấy việc sử
dụng khái niệm “trường đại học ngồi cơng lập” chỉ mang tính ước lệ và nhằm mục đích phân
biệt, hoặc cũng có thể nói là để so sánh với loại hình “trường đại học cơng lập”. Vì rõ ràng, về
mặt thuật từ mà nói cụm từ “trường đại học ngồi cơng lập” chỉ tồn tại khi có cụm từ “đối lập”
với nó, đó là cụm từ “trường đại học cơng lập”. Do đó, một cách khái quát nhất và sử dụng
phương pháp định nghĩa loại trừ, có thể hiểu trường đại học ngồi công lập là những trường đại
học không phải là trường đại học công lập.
Căn cứ quy định của Luật Giáo dục 2019 và Luật Giáo dục đại học 2012 (đã được sửa đổi,
bổ sung năm 2018), trong bài viết này chúng tơi hiểu: Trường đại học ngồi cơng lập là những
trường đại học thuộc các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam được tổ chức và hoạt động dưới loại
hình trường đại học tư thục do nhà đầu tư trong nước hoặc nước ngoài đầu tư, bảo đảm điều kiện
hoạt động theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 7 Luật Giáo dục đại học hiện hành.
Khoản 4 Điều 12 Luật Giáo dục đại học hiện hành quy định: “…khuyến khích phát triển
cơ sở giáo dục đại học tư thục; ưu tiên cơ sở giáo dục đại học tư thục hoạt động khơng vì lợi
nhuận; có chính sách ưu đãi đối với tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đầu tư vào hoạt động giáo

dục và đào tạo, khoa học và công nghệ tại cơ sở giáo dục đại học;…”. Như vậy, có thể hiểu
Nhà nước có trách nhiệm xây dựng và triển khai thực hiện chính sách phát triển các trường đại
học ngồi cơng lập.
Chính sách ở đây được hiểu là chính sách của Nhà nước, do đó, cũng có thể được gọi là
chính sách cơng (để phân biệt với chính sách tư). Chính sách cơng được hiểu là những hành
động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, và được thực
thi chủ yếu thông qua các ngành, các cấp có liên quan trong bộ máy nhà nước nhằm thúc đẩy
xã hội phát triển theo định hướng và mục tiêu mong muốn đã đặt ra (Đặng Thị Minh, 2014).
Phát triển trường đại học ngồi cơng lập được hiểu là q trình tăng lên, mở rộng về mọi mặt
của trường đại học ngồi cơng lập, bao gồm sự tăng trưởng về quy mô, hợp lý về cơ cấu, sự
tăng tiến về chất lượng về hiệu quả đào tạo. Như vậy, có thể hiểu chính sách phát triển trường
đại học ngồi cơng lập là chính sách do Nhà nước ban hành, là những hành động, ứng xử của
Nhà nước đối với những vấn đề phát sinh trong quá trình xây dựng và phát triển trường đại học
ngồi cơng lập, bao gồm một hệ thống các chính sách hướng tới mục tiêu tạo động lực khuyến
khích các trường đại học ngồi cơng lập phát triển về quy mô gắn với chất lượng, hiệu quả đào
tạo nhằm thỏa mãn nhu cầu học tập ở bậc đại học của người dân và yêu cầu phát triển đất, phù
hợp với mạng lưới quy hoạch cơ sở giáo dục đại học đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
464


Để khuyến khích các thành phần kinh tế ngồi nhà nước đầu tư phát triển các cơ sở giáo
dục đại học ngồi cơng lập, như đã nêu ở trên Khoản 4 Điều 12 Luật Giáo dục đại học hiện
hành quy định: “Thực hiện xã hội hóa giáo dục đại học, khuyến khích phát triển cơ sở giáo dục
đại học tư thục; ưu tiên cơ sở giáo dục đại học tư thục hoạt động khơng vì lợi nhuận; có chính
sách ưu đãi đối với tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đầu tư vào hoạt động giáo dục và đào tạo,
khoa học và công nghệ tại cơ sở giáo dục đại học; có chính sách miễn, giảm thuế đối với tài sản
hiến tặng, hỗ trợ cho giáo dục đại học, cấp học bổng và tham gia chương trình tín dụng sinh
viên”. Có thể thấy, đây là những quy định chung, mang tính định hướng về mặt chính sách đối
với các trường đại học ngồi cơng lập hơn là các chính sách cụ thể. Căn cứ vào định hướng này,
các cơ quan nhà nước tùy theo thẩm quyền của mình sẽ ban hành những chính sách phù hợp để

phát triển các trường đại học ngồi cơng lập. Chủ thể có thẩm quyền ở đây có thể là Quốc hội,
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng một số bộ có liên quan, Hội đồng nhân dân cấp
tỉnh hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Nội dung của chính sách phát triển trường đại học ngồi cơng lập thường tập trung vào
một số vấn đề sau: (i) Chính sách tài chính: Chính sách hỗ trợ kinh phí của Nhà nước; Chính
sách huy động các tổ chức, cá nhân đầu tư, tài trợ cho trường đại học ngồi cơng lập; Chính
sách học phí; (ii) Chính sách phát triển đội ngũ giảng viên trường đại học ngoài cơng lập: Chính
sách sử dụng giảng viên; Chính sách sử dụng giảng viên; Chính sách đào tạo, bồi dưỡng giảng
viên; Chính sách đãi ngộ, tơn vinh giảng viên; (iii) Chính sách đảm bảo quyền tự chủ trong hoạt
động đào tạo của trường đại học ngồi cơng lập.
Mục đích của Nhà nước khi cho phép hình thành và phát triển các trường đại học ngồi
cơng lập (chính sách xã hội hóa giáo dục) một phần là để các thành phần kinh tế ngồi nhà nước
chia sẻ bớt gánh nặng tài chính với Nhà nước, trong bối cảnh Nhà nước chuyển từ nền giáo dục
đại học “tinh hoa” sang nền giáo dục đại học “đại chúng”, vì vậy, ngân sách nhà nước khơng
“kham nổi”. Do đó, để khuyến khích sự phát triển của các trường đại học ngồi cơng lập rõ
ràng Nhà nước phải có nhiều chính sách, đặc biệt là các chính sách ưu đãi cho các đối tượng
này. Mặt khác, trong khi cả trường đại học cơng lập và ngồi công lập đều thực hiện hoạt động
đào tạo, cung ứng dịch vụ giáo dục cho xã hội thì các trường đại học ngồi cơng lập lại được
Nhà nước dành nhiều sự hỗ trợ, trong đó chủ yếu là hỗ trợ về đất đai, vốn đầu tư cơ sở vật chất
và ưu đãi về học phí đối với sinh viên, cịn các trường đại học ngồi cơng lập thì khơng được
như vậy. Vì vậy, việc Nhà nước có chính sách riêng cho sự phát triển của các trường này là
điều cần thiết, trước hết là nhằm đảm bảo sự công bằng cho người học, kế đến là giúp các trường
đại học ngồi cơng lập có thể cạnh tranh và tồn tại bên cạnh các trường đại học công lập.
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 12 Luật Giáo dục đại học hiện hành thì các nhà lập pháp
Việt Nam xác định sẽ có các chính sách ưu tiên để khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học tư
thục hoạt động khơng vì lợi nhuận (điều này có thể ngầm hiểu rằng các nhà lập pháp khơng
khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học tư thục hoạt động vì lợi nhuận). Làm rõ quy định trên
đây, Nghị định số 141/2013/NĐ-CP tại Điều 7 quy định chính sách ưu tiên đối với các cơ sở
giáo dục đại học tư thục hoạt động khơng vì lợi nhuận như sau: (i) Ưu đãi thuế, miễn thuế và
giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu theo quy định của pháp luật

về thuế; (ii) Ưu tiên giao hoặc cho thuê đất, miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất, miễn hoặc giảm
tiền thuê mặt đất, mặt nước theo quy định của pháp luật; (iii) Hỗ trợ hoạt động đào tạo, nghiên
465


cứu khoa học và phát triển đội ngũ giảng viên; (iv) Chia sẻ sử dụng, khai thác tài nguyên chung
của giáo dục đại học do Nhà nước đầu tư, các cơng trình văn hóa, khoa học - kỹ thuật, phúc lợi
xã hội ở trung ương và địa phương để phục vụ nhu cầu giảng dạy và nghiên cứu khoa học,
chuyển giao công nghệ; (v) Ưu tiên tiếp nhận các dự án đầu tư phát triển, nâng cao năng lực
đào tạo, nghiên cứu khoa học trên cơ sở cạnh tranh như các cơ sở giáo dục đại học công lập.
Được tham gia đầu thầu các nhiệm vụ do nhà nước đặt hàng đối với các lĩnh vực đầu tư phát
triển, nâng cao năng lực đào tạo, nghiên cứu khoa học như các cơ sở giáo dục đại học công lập;
(vi) Ưu tiên giao kinh phí để thực hiện nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao
công nghệ đối với những lĩnh vực mà trường có thế mạnh. Để cụ thể hóa các chính sách trên,
Chính phủ giao Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan quy định
chi tiết và hướng dẫn áp dụng cụ thể các chính sách khuyến khích đối với các cơ sở giáo dục
đại học tư thục hoạt động khơng vì lợi nhuận.
Tiếp tục cụ thể hóa các chính sách trên, trong Quyết định số 37/2013/QĐ-TTg về việc
điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2006 - 2020 Thủ tướng
Chính phủ tiếp tục quy định: (i) Hỗ trợ công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên đại học, cao
đẳng kể cả trường công lập và trường tư thục thông qua việc triển khai chương trình đào tạo
20.000 tiến sĩ; (ii) Hỗ trợ về đất đai, đối với trường đại học có quy mơ khoảng 5.000 sinh viên
là 10 ha, có khoảng 15.000 sinh viên là 30 ha, có khoảng 25.000 sinh viên là từ 40 ha trở lên;
(iii) Xây dựng, ban hành các chính sách hỗ trợ cụ thể nhằm đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, phát
triển các trường đại học tư thục.
Theo tìm hiểu của chúng tơi các cam kết về chính sách ưu tiên đối với các trường đại học
ngồi cơng lập hoạt động khơng vì lợi nhuận nói riêng, trường đại học ngồi cơng lập nói chung
phần lớn cho đến thời điểm hiện nay vẫn chỉ là các cam kết nằm trên giấy, rất ít chính sách
được hiện thực hóa. Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng này bắt nguồn từ lý do các chính sách
trên chủ yếu là các chính sách chung khơng có khả năng áp dụng trực tiếp, đòi hỏi phải được

tiếp tục quy định chi tiết và hướng dẫn áp dụng. Thế nhưng, các cơ quan nhà nước có trách
nhiệm là Bộ Giáo dục và Đào tạo, các Bộ, ngành liên quan vẫn chưa quy định chi tiết và hướng
dẫn áp dụng các cam kết chính sách ưu đãi nêu trong Luật Giáo dục đại học hiện hành, Nghị
định số 141/2013/NĐ-CP và Quyết định số 37/2013/QĐ-TTg.
Cho đến thời điểm hiện nay chỉ có Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 (sửa đổi,
bổ sung một số điều năm 2013) có quy định chi tiết một số chính sách ưu đãi liên quan đến các
trường đại học ngồi cơng lập (nhưng khơng phân biệt là hoạt động vì lợi nhuận hay khơng vì lợi
nhuận). Theo đó, Điều 4 của Luật này quy định các loại thu nhập được miễn thuế có liên quan
đến trường đại học ngồi cơng như sau: (i) Khoản tài trợ nhận được để sử dụng cho hoạt động
giáo dục; (ii) Phần thu nhập không chia của cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục đào tạo để lại để đầu tư phát triển cơ sở đó theo quy định của luật chuyên ngành về lĩnh vực giáo
dục - đào tạo. Điều 13 quy định về ưu đãi thuế suất như sau: Áp dụng thuế suất 10% đối với thu
nhập của doanh nghiệp từ thực hiện hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo (trong
khi đó thuế thu nhập doanh nghiệp thơng thường theo Luật là 22%). Tuy nhiên, điều đáng quan
tâm là Luật lại không cho biết doanh nghiệp được chịu thuế suất 10% ở đây chính là bản thân
trường đại học ngồi cơng lập hay chủ sở hữu của trường đại học ngồi cơng lập (khi chủ sở hữu
trường đại học ngồi cơng lập là doanh nghiệp, chẳng hạn trường hợp của FPT), bởi điều này sẽ
466


dẫn đến những hệ quả rất khác nhau, và sẽ không công bằng cho các cổ đông là cá nhân nếu
doanh nghiệp được hiểu ở đây là chủ sở hữu của trường đại học ngồi cơng lập.
Có thể nói, xét về tính đầy đủ và tồn diện của các chính sách hỗ trợ sự phát triển của các
trường đại học ngồi cơng lập thì thực trạng chính sách vừa nêu trên cho thấy tiêu chí này khơng
được thỏa mãn. Các chính sách được nêu rất chung chung, mang dáng dấp của những cam kết chính
trị hơn là những chính sách đã được cụ thể hóa và có thể thực hiện ngay trong lĩnh vực hành chính.
Điều này cùng với vấn đề thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan có trách nhiệm đã khiến cho phần
lớn các chính sách vẫn là các cam kết nằm trên giấy tờ và vẫn chưa biết đến khi nào mới có thể
được hiện thực hóa trong thực tiễn, đặc biệt là các chính sách liên quan đến việc hỗ trợ đất (có thể
là giao đất hoặc cho thuê đất) đối với các trường đại học ngồi cơng lập trong bối cảnh rất nhiều
trường đang phải đi thuê mướn cơ sở. Như chúng tôi đã từng đề cập, chính sách là “linh hồn” của

luật, với thực trạng chính sách chưa đầy đủ, khơng nhất qn, thiếu tính khoa học và khả thi sẽ dẫn
đến các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các trường đại học ngồi cơng lập kém chất lượng.
Như vậy, bên cạnh một số chính sách đã được xây dựng và triển khai đối với một số ít
trường đại học ngồi cơng lập, hầu hết các chính sách cịn lại đều đang ở dạng cam kết chính
trị hơn là các chính sách cụ thể để có khả năng áp dụng nó trên thực tế. Vì vậy, hầu như các
chính sách ưu đãi phát triển các trường đại học ngồi cơng lập, đặc biệt là các trường hoạt động
theo cơ chế phi lợi nhuận khơng có nhiều tác động đến sự phát triển của các trường đại học này.
Theo chúng tôi, ở một mức độ nhất định thì đây cũng là một thất bại của các chủ thể quản lý,
vì đã khơng đảm bảo được sự công bằng cho người dân. Trong khi hầu như người dân nào cũng
phải đóng thuế cho Nhà nước, thì chỉ những ai học ở trường cơng lập mới được hưởng sự hỗ
trợ của Nhà nước thông qua chính sách thu học phí thấp, cịn những ai học ở trường ngồi cơng
lập thì khơng nhận được sự hỗ trợ này, do đó, họ phải đóng học phí cao trong khi chất lượng
đào tạo mà học nhận được chưa chắc đã cao hơn tại các trường công lập. Rõ ràng, Nhà nước
không thể xem họ là công dân “hạng hai”, để “không đáng” nhận sự hỗ trợ từ Nhà nước được.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá khái quát về thực trạng chính sách phát triển trường đại
học ngồi cơng lập, chúng tơi có một số khuyến nghị sau đây liên quan đến chính sách phát
triển trường đại học ngồi cơng lập ở Việt Nam trong thời gian tới:
Thứ nhất, đối với chính sách tài chính:
Một là, tái khẳng định và tiếp tục quy định rõ ràng, cụ thể hơn chính sách ưu đãi về thuế
(trọng tâm là miễn thuế) đối với các khoản thu nhập phát sinh trong q trình hoạt động của
trường đại học ngồi cơng lập khơng vì lợi nhuận (trên cơ sở xác nhận của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền khi đạt các tiêu chí mà pháp luật quy định). Nhà nước cũng cần cụ thể hóa chính
sách miễn thuế đối với các cá nhân (thuế thu nhập cá nhân), tổ chức (thuế thu nhập doanh
nghiệp) khơng chỉ đối với các khoản đóng góp và hiến tặng của họ cho các trường đại học ngồi
cơng lập cả khơng vì lợi nhuận và vì lợi nhuận (đối với trường vì lợi nhuận thì cần quy định các
khoản hiến tặng phải chuyển thành tài sản chung hợp nhất không phân chia theo quy định của
pháp luật dân sự Việt Nam), mà còn tiếp tục miễn cho họ một phần nhất định trong thu nhập
chịu thuế của họ trong năm hiến tặng hoặc có thể cho một số năm tiếp theo năm hiến tặng.
Chúng tôi cũng cho rằng Nhà nước cần có chính sách giảm (chứ không phải miễn) thuế thu
nhập doanh nghiệp cho các trường đại học ngồi cơng lập vì lợi nhuận ở một mức nhất định

nhằm khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư vào lĩnh vực giáo dục đại học.
467


Hai là, các chủ thể quản lý nhà nước có thẩm quyền (đặc biệt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh)
cần phải thực hiện các cam kết của mình trong việc giao đất cho các trường đại học ngồi cơng
lập, bởi hầu hết các cam kết hiện nay chỉ dừng lại ở các tuyên bố chính trị hơn là các chương
trình hành động thực tế. Đối với trường hợp của các trường đại học ngồi cơng lập khơng vì lợi
nhuận, các cơ quan nhà nước cần giao đất không thu tiền và cũng không thu tiền sử dụng đất
trong thời gian hoạt động của các trường này (nếu cần thiết phải thu hồi đất để giao thì chúng
tơi cho rằng việc thu hồi đất trong trường hợp này là thỏa mãn trường hợp thu hồi đất vì lợi ích
cơng cộng quy định tại Điều 63 Luật Đất đai 2013), đất được giao trở thành tài sản chung hợp
nhất không thể phân chia và sau đó nếu trường khơng hoạt động nữa thì Nhà nước sẽ thu hồi.
Đối với trường hợp của các trường đại học ngồi cơng lập hoạt động vì lợi nhuận, các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền cần tạo quỹ đất và giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất
trả tiền thuê một lần cho cả thời gian thuê. Tuy nhiên, đối với những trường mới thành lập và
có khó khăn về tài chính, chúng tơi cho rằng Nhà nước có thể cho những trường này trả tiền thu
đất hàng năm thay vì trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê và cũng có thể cho họ được
trả tiền nhiều lần trong trường hợp là giao đất có thu tiền sử dụng đất. Nhà nước cũng cần miễn
tiền sử dụng đất cho các trường này. Rõ ràng trường không thể hoạt động khi khơng có trụ sở,
và trường khơng thể có trụ sở nếu khơng có đất.
Ba là, các chủ thể quản lý nhà nước có thẩm quyền cần tiến hành nghiên cứu và thay đổi
chính sách hỗ trợ ngân sách cho các trường đại học ngồi cơng lập. Để tiến tới việc hiện thực
hóa sự bình đẳng giữa các trường cơng lập và trường ngồi cơng lập, Nhà nước cần tính đến
chuyện sẽ hỗ trợ ngân sách cho các trường dựa trên số lượng sinh viên và kết quả hoạt động
của trường (thông qua kết quả kiểm định chất lượng) mà khơng phân biệt đó là trường cơng hay
trường tư (bao gồm nhưng sẽ hạn chế hơn đối với các trường tư vì lợi nhuận). Đó là chưa kể
Nhà nước cần có cơ chế thưởng dựa trên thành tích hoạt động nghiên cứu khoa học cho các
trường mà không phân biệt loại hình trường. Theo chúng tơi, cần thực hiện chính sách này vì
hai lý do. Thứ nhất, để đảm bảo sự công bằng cho các sinh viên theo học tại các trường ngồi

cơng lập. Thứ hai, tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh để nâng cao chất lượng giữa các trường đại
học nhằm mục đích nhận được sự hỗ trợ ngân sách của Nhà nước. Để tạo nguồn thu cho các
trường, chúng tôi cũng cho rằng Nhà nước cần tổ chức đấu thầu công khai cho các đơn hàng
nghiên cứu khoa học hàng năm của mình đối với tất cả các cấp.
Bốn là, về mức học phí của các trường đại học ngồi cơng lập, chúng tơi cho rằng Nhà
nước không cần phải quy định mức giá trần, thay vào đó mức học phí sẽ do các trường này tự
quyết định (nhưng đi kèm với quyền này là trách nhiệm cơng khai rộng rãi mức học phí trước
mỗi kỳ hoặc năm học). Việc thả nổi quyền quy định mức học phí khơng phải là bng lỏng
quản lý, nhưng là để cho các lực lượng cung - cầu sẽ quyết định việc này. Rõ ràng các trường
không thể tự do tăng học phí mà khơng lo lắng về số người đăng ký học đăng ký mới trong năm
(trong khi bản thân nguồn thu các trường chủ yếu hiện nay đến từ học phí).
Thứ hai, đối với chính sách phát triển đội ngũ giảng viên. Chúng tôi cho rằng Nhà nước
cần cụ thể hóa chính sách hỗ trợ phát triển đội ngũ giảng viên đối với các trường đại học ngồi
cơng lập thơng qua các gói hỗ trợ ngân sách cho các học bổng đào tạo tiến sĩ trong và ngoài
nước (đi kèm là các điều kiện rõ ràng cho bản thân các trường và các ứng viên). Chúng tôi cũng
cho rằng trong thời gian tới Nhà nước cần nghiên cứu để cho phép các trường được tự bổ nhiệm
468


chức danh giáo sư, phó giáo sư cho đội ngũ giảng viên của mình (những cần khẳng định rằng
các chức danh này chỉ có giá trị đối với trường đó, và vì vậy các trường cần dựa vào uy tín của
mình để được các trường khác cơng nhận việc bổ nhiệm các chức danh này). Về lương của đội
ngũ giáo viên trường ngồi cơng lập, chúng tơi cho rằng Nhà nước không cần quy định mức
lương tối thiểu (điều này không hàm ý đến mức lương tối thiểu theo quy định của Bộ luật Lao
động), lượng của giảng viên nên trên cơ sở thỏa thuận giữa họ với trường. Nhưng cần lưu ý
rằng, đối với các chế độ phụ cấp, chẳng hạn như phụ cấp nghề giáo, nếu các giảng viên ở trường
cơng lập được hưởng, thì chúng tơi cho rằng khơng có lý do gì để những giảng viên tại trường
ngồi cơng lập khơng được hưởng. Do đó, các chủ thể quản lý nhà nước có thẩm quyền cần
nghiên cứu để triển khai vấn đề này nhằm đảm bảo sự cơng bằng cho giảng viên các trường
ngồi cơng lập.

Thứ ba, đối với chính sách đảm bảo quyền tự chủ trong hoạt động đào tạo của trường
đại học ngồi cơng lập. Thực tế đây là chính sách chúng cho các cơ sở giáo dục đại học chứ
không áp dụng riêng cho các trường đại ngồi ngồi cơng lập. Chúng tơi cho rằng, các chủ thể
quản lý cần mạnh dạn giao quyền tự chủ cho các trường đại học trong việc xác định chỉ tiêu
tuyển sinh và xác định ngành (bao gồm nội dung) đào tạo. Nhà nước không nên làm công việc
giao chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm cho các trường, và cũng không nên quy định cứng nhắc nội
dung các môn học và những ngành được cấp phép mới được đào tạo, hãy để các trường tự do
làm việc này dựa trên nhu cầu của thị trường và năng lực khoa học của họ. Theo đó, đối với
chương trình đào tạo thì Chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ nên đóng vai trị
như là một chương trình tham khảo. Nên để các trường tự xây dựng chương trình đào tạo theo
quan điểm và mục tiêu đào tạo riêng, hoặc ít nhất thì cũng phải cho phép các trường có quyền
thay đổi tên mơn học, thay đổi số tín chỉ và nội dung mơn học trong từng ngành, phù hợp với
hệ thống chương trình đào tạo chung của toàn trường và đảm bảo rằng nội dung môn học được
cập nhật theo thời gian. Tất nhiên, mọi sự tự do cần có giới hạn, giới hạn đó chính là khn khổ
pháp lý do nhà nước đặt ra (những khn khổ này phải hợp lý và thơng thống) và hoạt động
giám sát (thanh tra, kiểm tra) của Nhà nước đối với các trường (chế tài phải cứng rắn, bao gồm
cả việc đình chỉ hoạt động hoặc đóng cửa các trường hợp tuân thủ quy định của pháp luật). Đi
kèm với việc này, Nhà nước phải có các biện pháp để nâng cao trách nhiệm giải trình của các
trường trước các chủ thể trong xã hội. Mục đích của sự phân cấp này làm nhằm chuyển từ mơ
hình nhà nước kiểm sốt sang mơ hình nhà nước giám sát, và quan trọng hơn là đảm bảo tự do
học thuật tại các cơ sở giáo dục đại học, đồng thời để các trường yếu kém phải bị đào thải theo
quy luật của nền kinh tế thị trường.
4. KẾT LUẬN
Khuyến khích, hỗ trợ và tạo các điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các trường đại
học ngồi cơng lập, đặc biệt các trường đại học ngồi cơng lập khơng vì lợi nhuận là một chính
sách đúng đắn của Nhà nước Việt Nam cần được tiếp tục duy trì và tăng cường. Tuy nhiên, để
chính sách này phát huy hiệu quả cao hơn thì trong thời gian tới các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền liên quan đến việc xây dựng, ban hành và thực hiện chính sách phát triển trường đại học
ngồi cơng lập ở Việt Nam nên thực hiện một số thay đổi nhất định về nội dung của chính sách
phát triển trường đại học ngồi cơng lập hiện hành.

469


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ben Wilkinson, Laura Chirot (2010 - Phạm Thị Ly dịch), Những nhân tố vơ hình tạo nên sự ưu tú:
Hệ thống quản trị với cuộc tìm kiếm con đường xây dựng một trường đại học nghiên cứu đỉnh cao
cho Việt Nam, Trường New School thuộc Havard University - cơ sở tại Trường Fulbright ở Thành
phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Chính phủ (2005), Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 về đổi mới cơ bản và toàn diện
giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010, Hà Nội.
3. Chính phủ (2013), Nghị định số 141/2013/NĐ-CP ngày 24/10/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của Luật Giáo dục đại học, Hà Nội.
4. Đoàn Từ Duy (2009), “Đề án “giả”, đại học thật”, (truy cập ngày 25/4/2022)
5. Võ Ngun Giáp (2007), “Đổi mới có tính cách mạng nền giáo dục và đào tạo của nước nhà”,
(truy cập ngày 25/4/2022)
6. Đặng Thị Minh (2014), Chính sách phát triển trường đại học tư thục ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ
chun ngành quản lý hành chính cơng - Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội.
7. Lê Minh Nguyên (2008), “Chỉ 40/2000 sinh viên đủ điều kiện làm việc cho Intel”,
(truy cập ngày 25/4/2022)
8. Quốc hội (2019), Luật số 43/2019/QH14 ngày 14/6/2019 Luật Giáo dục, Hà Nội.
9. Văn phòng Quốc hội (2018), Văn bản hợp nhất số 21/VBHN-VPQH ngày 10/12/2018 hợp nhất Luật
Đất đai, Hà Nội.
10. Văn phòng Quốc hội (2018), Văn bản hợp nhất số 42/VBHN-VPQH ngày 10/12/2018 hợp nhất Luật
Giáo dục đại học, Hà Nội.
11. Văn phòng Quốc hội (2020), Văn bản hợp nhất số 14/VBHN-VPQH ngày 15/7/2020 hợp nhất luật
thuế thu nhập doanh nghiệp, Hà Nội.
12. Nguyễn Minh Thuyết (2010), Chưa nên tăng trường đại học cơng lập,
(truy cập ngày 25/4/2022)
13. Hồng Tụy (2009), “Kiến nghị Cải cách, hiện đại hóa giáo dục”, Viện nghiên cứu Phát triển, Hà
Nội, ( (truy cập ngày 25/4/2022)

14. Thủ tướng Chính phủ (2013), Quyết định số 37/2013/QĐ-TTg ngày 26/6/2013 về việc điều chỉnh
quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng giải đoạn 2006-2020, Hà Nội.

470



×