KHẢO SÁT VIỆC QUẢN LÝ DẠY VÀ HỌC TIẾNG ANH
KHÔNG CHUYÊN ĐỐI VỚI SINH VIÊN NĂM NHẤT ĐẠI HỌC
Phan Nguyễn Hồng Diễm1
1. Khoa Đào tạo Kiến thức chung
TÓM TẮT
Học phần tiếng Anh là một trong những học phần bắt buộc trong chương trình đào tạo,
là chìa khóa để sinh viên tốt nghiệp. Sinh viên có thể sử dụng vốn tiếng Anh để giao tiếp, đọc
tài liệu sử dụng trong học tập, nghiên cứu và làm việc sau này. Để đạt được mục tiêu đó, cả
giảng viên và sinh viên phải nỗ lực trong quá trình dạy và học. Bài nghiên cứu tập trung khảo
sát quản lý các hoạt động liên quan đến quá trình này bao gồm nội dung chương trình, phương
pháp dạy-học, cơ sở vật chất phương tiện dạy-học, nhận thức, kết quả học tập của sinh viên.
Kết quả nghiên cứu cho thấy việc dạy và học tiếng Anh khơng chun gặp một số khó khăn như
thời gian thực hành các kỹ năng không nhiều, lớp đông, phương pháp dạy-học chưa năng động,
cơ sở vật chất còn vài hạn chế.
Từ khóa: Dạy, giảng viên, học, sinh viên
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngoại ngữ, đặc biệt tiếng Anh là một học phần bắt buộc trong chương trình đào tạo đối
với tất cả sinh viên tại trường Đại học Thủ Dầu Một. Việc dạy và học học phần Tiếng Anh rất
được Nhà trường quan tâm. Dạy tiếng Anh cho sinh viên không chuyên là cung cấp cho họ
những kiến thức cơ bản về ngơn ngữ, rèn luyện các kỹ năng nghe (listening), nói (speaking),
đọc (reading), viết (writing) để sinh viên có thể giao tiếp, đọc tài liệu sử dụng trong học tập,
nghiên cứu và làm việc sau này.
Với mục tiêu đó trường Đại học Thủ Dầu Một đã chọn giáo trình Outcomes (Second
Edition) để giảng dạy cho SV không chuyên ngữ. Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy và học
tập học phần tiếng Anh, cả người dạy và người học gặp khơng ít khó khăn. Bài viết này thực
hiện khảo sát việc quản lý dạy và học học phần tiếng Anh không chuyên đối với sinh viên năm
nhất, nhận diện những khó khăn giảng viên và sinh viên gặp phải khi dạy và học tiếng Anh.
Đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu việc giảng dạy ngoại ngữ ở các trường Đại học,
Cao đẳng và vấn đề quản lý giảng dạy ngoại ngữ cũng được đề cập.
Bài viết “Dạy ngoại ngữ không chuyên ở bậc Đại học”của ThS. Lê Văn Ân, Trường
CĐSP Quảng Trị, đăng trên Tạp chí Giáo dục số 133 (kì 1- 3/2006) đã nêu lên những bất cập
về phương pháp dạy ngoại ngữ, thái độ học tập của sinh viên, trình độ ngoại ngữ chênh lệch
của học sinh ở các cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông là những nguyên nhân dẫn đến khả
năng sử dụng tiếng Anh để giao tiếp của sinh viên còn kém.
Trong kỷ yếu hội thảo khoa học do trường Đại học Sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh tổ
chức vào tháng 11/2005, có nhiều bài tham luận nêu lên thực trạng giảng dạy ngoại ngữ không
243
chuyên, những thuận lợi cũng như những khó khăn từ việc giảng dạy của giáo viên và học tập
của học sinh. Một số bài tham luận như:
“Phấn đấu giảng dạy đạt yêu cầu của ngoại ngữ không chuyên trong các trường Đại học”,
TS. Vũ Văn Thành, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
“Hướng tới nâng cao năng lực ngoại ngữ cho học sinh không chuyên”, Trần Thị Nga, Đại
học Quốc gia Hà Nội.
“Việc dạy và học ngoại ngữ cho sinh viên khơng chun ngữ ở trường đại học Hải Phịng”,
ThS. Lê Thị Hồng, Trường Đại học Hải Phòng.
“Thách thức và triển vọng của giảng dạy ngoại ngữ tại các trường Đại học không chuyên
ngữ ở Việt Nam” Đào Thị Tạo, Trường Đại học kiến trúc Hà Nội.
“Thực trạng và giải pháp dạy học ngoại ngữ khơng chun ở Thanh Hố và trường Đại
học Hồng Đức”, ThS. Phạm Văn Chủ.
“Một số ý kiến về việc dạy học tiếng Anh như là một ngoại ngữ không chuyên”, ThS. Lý
Thị Mỹ Hạnh, Trường Đại học Sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh.
Nhìn chung, các tác giả đề cập đến vấn đề giảng dạy ngoại ngữ, quản lý giảng việc giảng
dạy tiếng Anh không chuyên ngữ. Tuy nhiên, thực tế giảng dạy ở mỗi địa phương khác nhau:
mơi trường giảng dạy, trình độ giảng viên, sinh viên, giáo trình giảng dạy, cơ sở vật chất... nên
biện pháp quản lý cụ thể cũng khác nhau và chưa có tác giả nào nghiên cứu quản lý giảng dạy
tiếng Anh không chuyên ở Trường Đại học Thủ Dầu Một. Vì vậy, chúng tơi nghiên cứu vấn đề
này với mong muốn kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm cơ sở khoa học và thực tiễn
cho việc cải tiến công tác quản lý giảng dạy tiếng Anh tại Trường.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu cơ bản để tìm hiểu những vấn đề trong quản lý
dạy và học tiếng Anh đối với sinh viên.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu nhằm xây dựng tổng luận nghiên cứu:
Thu thập tài liệu, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp những tài liệu lý luận về những nội
dung có liên quan đến đề tài.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu.
Nhằm làm rõ thực trạng giảng dạy tiếng Anh với các mẫu điều tra ở các đối tượng là
giảng viên, sinh viên. Kết quả được thống kê tần số, tính tỉ lệ phần trăm.
- Ngồi ra tác giả còn sử dụng phương pháp quan sát, phỏng vấn:
Tiếp cận và thu thập dữ liệu thực tế về công tác giảng dạy tiếng Anh
Trao đổi trực tiếp với cán bộ giảng viên hoặc sinh viên để có thêm những thông tin cần
thiết liên quan đến đề tài.
Tác giả khảo sát 375 sinh viên năm nhất các lớp không chuyên ngữ và 20 giảng viên đang
tham gia giảng dạy học phần tiếng Anh tại Trường Đại học Thủ Dầu Một về phương pháp dạy
và học, nội dung giáo trình và những vấn đề gặp phải trong quá trình học, từ đó đưa ra một số
kết luận và khuyến nghị.
244
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Lý luận giảng dạy học phần tiếng Anh
Dạy và học ngoại ngữ nói chung, tiếng Anh nói riêng có những đặc thù riêng biệt. Dạy
học ngoại ngữ (tiếng Anh) nhằm tạo dựng ở người học năng lực giao tiếp bằng tiếng Anh và sử
dụng thành thạo bốn kỹ năng thực hành ngôn ngữ. (Harmer, J 2001)
Trong q trình dạy và học địi hỏi sinh viên và giảng viên phải có sự tương tác qua lại. Tuỳ
từng nội dung và yêu cầu của đơn vị bài học, có thể giảng viên giữ vai trị chủ đạo hoặc sinh viên.
* Đối với sinh viên:
- Phải xây dựng cho mình động cơ học tập đúng đắn. Sinh viên sẽ đạt được kết quả học
tập cao hơn nếu tích cực tham gia vào q trình học tập. Sự tiến bộ của sinh viên trong quá trình
học tập sẽ thúc đẩy quá trình tiếp thu ngoại ngữ của họ.
- Sinh viên sẽ tiếp thu một ngoại ngữ có hiệu quả hơn nếu họ hiểu biết về quá trình học
tập và có phương pháp học ngoại ngữ, sáng tạo các chiến lược cá nhân phù hợp.
- Sinh viên cần được hướng dẫn học theo phương châm thử nghiệm – tham gia tích cực
vào các hoạt động, đồng thời biết chấp nhận mắc lỗi trong quá trình tham gia thực hành các kỹ
năng ngoại ngữ. Nguyên tắc này sẽ biến vai trò thụ động truyền thống trước đây của người học
thành vai trò chủ động. (Harmer, J 2001)
* Đối với giảng viên:
- Để thúc đẩy quá trình học tập của sinh viên, giảng viên cần sử dụng giáo trình một cách
sáng tạo và mang tính giao tiếp cao. (Hồng Cơ Chinh,2000). Nếu có thể, cần tìm cách bổ sung
vào chương trình các tài liệu giảng dạy và các hoạt động hỗ trợ có khả năng cập nhật nội dung
đồng thời làm cho giáo trình phù hợp hơn với đối tượng giảng dạy.
- Giảng viên cần cố gắng tạo mọi cơ hội để sinh viên có thể sử dụng ngơn ngữ đang học một
cách có nghĩa thơng qua các hoạt động cho cả lớp, nhóm tổ và các hoạt động khác. Cần hướng
sinh viên vào việc dùng thứ tiếng đang học làm phương tiện giao tiếp trên lớp học. Giao tiếp bằng
tiếng Anh giữa giảng viên và sinh viên, giữa sinh viên và sinh viên là điều kiện quan trọng để nâng
cao trình độ tiếng Anh của sinh viên. Cũng nên sử dụng kết hợp tiếng Việt khi cần thiết.
- Giảng viên cần tạo điều kiện cho sinh viên mở mang kiến thức, tiếp xúc với việc sử
dụng ngoại ngữ dạy học một cách tự nhiên. Cần tạo điều kiện để sinh viên có cơ hội diễn đạt ý
kiến cá nhân của mình bằng ngoại ngữ.
3.2. Quản lý giảng dạy học phần tiếng Anh
Quản lý nội dung chương trình
Quản lý giảng dạy học phần tiếng Anh cũng dựa trên cơ sở khoa học của lý luận quản lý
và lý luận dạy học nói chung. Song ở học phần tiếng Anh đặc biệt phải quản lý giảng viên và
sinh viên thực hiện tốt bốn kỹ năng: Nghe (Listening), Nói (Speaking), Đọc (Reading), Viết
(Writing). Bốn kỹ năng này phải được thực hiện trong quản lý chương trình giảng dạy, giáo
trình, lên lớp, kiểm tra, v.v…
- Trong quản lý nội dung chương trình người quản lý cần chú ý nguyên tắc điều chỉnh nội
dung là thực hiện giảm tải (mối quan hệ giữa lượng tri thức và thời gian), tơn trọng tính hệ
thống, đảm bảo sự ổn định, đảm bảo sự nhất quán và không trùng lặp. Như vậy cần chỉ đạo xây
245
dựng chương trình đảm bảo cho người dạy thống nhất được việc chọn lọc các tri thức thiết thực
và đảm bảo tính phổ thơng (tồn diện) vừa đảm bảo được tính thích ứng của nội dung (cái mà
người học, cộng đồng và xã hội đang cần). Từ đó định ra được nội dung nào phải biết, nội dung
nào cần biết và nội dung nào có thể biết.
- Việc lựa chọn nội dung theo quan điểm chủ điểm và cần đảm bảo các nguyên tắc sau đây:
+ Ngữ cảnh hoá. Các chủ điểm với nội dung ngôn ngữ của chúng cần phải được đặt trong
ngữ cảnh để sinh viên có thể thực hiện các hoạt động giao tiếp gần giống với đời sống thực.
+ Bảo đảm tính phù hợp. Các chủ điểm được lựa chọn đưa vào chương trình cần phải phù
hợp với mối quan tâm, kiến thức nền, sở thích cũng như năng lực thực hành tiếng của sinh viên.
Các yếu tố văn hố của các nước nói tiếng Anh cũng cần đưa vào chương trình một cách phù hợp.
+ Đảm bảo tính ứng dụng. Nội dung giảng dạy cần tạo cho sinh viên khả năng ứng dụng
cao, giúp sinh viên liên hệ nội dung kiến thức đang học vào môi trường thực tế và bổ sung kiến
thức vào kho tàng của họ.
+ Đảm bảo tính xác thực. Nội dung ngơn ngữ của chương trình cần đảm bảo tính xác thực
sao cho kiến thức và kỹ năng của sinh viên đạt được trong trường học phù hợp với các tiêu chí
của ngơn ngữ thực đang được sử dụng ở các nước nói tiếng Anh.
+ Đảm bảo kết hợp các kỹ năng. Chương trình cho phép phân chia khối lượng kiến thức,
kỹ năng thành các phần nhưng khơng vì thế chúng độc lập với nhau. Các bài tập, hoạt động cá
nhân cũng như theo nhóm, tổ cần đảm bảo việc kết hợp tất cả các kỹ năng ngơn ngữ (nghe, nói,
đọc, viết) để lĩnh hội, chuyển dịch thông tin và áp dụng thơng tin.
+ Đảm bảo tính trình tự. Các hoạt động trên lớp học cần được sắp xếp theo trình tự phù
hợp với quá trình tiếp thu một ngoại ngữ, bắt đầu bằng các hoạt động có ngữ cảnh cụ thể và
khơng địi hỏi nhiều đến tư duy trừu tượng tiến tới các hoạt động có ngữ cảnh khái quát và đòi
hỏi tư duy trừu tượng cao.
+ Đảm bảo nguyên tắc thông tin phản hồi. Sinh viên cần nhận được các thông tin phản
hồi theo các yêu cầu của hoạt động trên lớp học để từ đó có thể tự đánh giá sự tiến bộ của mình
hoặc điều chỉnh phương pháp học tập để đạt được hiệu quả học tập cao.
* Quản lý giảng dạy:
- Quản lý việc thực hiện chương trình giảng dạy. Thực hiện chương trình giảng dạy là
thực hiện kế hoạch đào tạo theo mục tiêu đào tạo của Trường Đại học Thủ Dầu Một, theo
chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo qui định. Yêu cầu người quản lý phải nắm
được những vấn đề như: nguyên tắc cấu tạo chương trình của học phần ở từng năm học; chương
trình của từng học kỳ, nội dung, kiến thức của từng kỹ năng; phương pháp dạy học đặc trưng
của từng kỹ năng và các hình thức dạy học; kế hoạch giảng dạy từng học kỳ (thời lượng dạy
của học phần, nội dung bài học, hình thức dạy học, kiểm tra, đánh giá,..). Không giống với
những học phần khác, học phần tiếng Anh đòi hỏi giảng viên phải rèn luyện bốn kỹ năng cho
sinh viên và yêu cầu cần đạt được đối với các kỹ năng như sau:
+ Nghe (Listening): sinh viên nghe hiểu được đại bộ phận nội dung thông tin, dữ kiện,
phân biệt được đúng sai, nghe được thông tin cần thiết, … thuộc nội dung của ngôn bản với
vốn từ vựng được tái tạo từ ngữ liệu đã học. Giảng viên phải có bước chuẩn bị cho sinh viên
trước khi nghe, trong khi nghe cần có những câu hỏi gợi mở để định hướng cho sinh viên, sau
246
khi nghe có bài tập mở rộng như thảo luận xung quanh vấn đề nghe được, đóng vai thực hành
lại những đoạn hội thoại chẳng hạn (Speaking), bình luận bằng những bài viết (Writing),…
+ Nói (Speaking): yêu cầu sinh viên phải diễn đạt được các nhu cầu giao tiếp về các lĩnh
vực thuộc đời sống hàng ngày, giao tiếp xã hội, thuật lại một sự việc, miêu tả,… từ đơn giản
đến phức tạp. Để người đối thoại hiểu được mình chính xác thì sinh viên phải sử dụng đúng từ,
ngữ pháp,…với nhiều “chiến lược” giao tiếp thích hợp với hồn cảnh và chủ điểm. Giảng viên
cần lưu ý sửa cách phát âm (pronunciation), cũng như các lỗi khác như thì (tenses), cấu trúc
câu (structures) mà sinh viên mắc phải khi nói.
+ Đọc (Reading): Có thể hiểu được đại bộ phận thông tin, dữ kiện của các văn bản đến
hiểu đầy đủ các ý chính, ý phụ dưới nhiều dạng văn bản khác nhau,…Giảng viên phải hướng
dẫn sinh viên cách đọc từ đọc lướt lấy thơng tin nhanh đến đọc tìm chi tiết…các cấu trúc ngữ
pháp phức tạp, đoán ý qua ngữ cảnh… Giảng viên lấy thông tin phản hồi từ sinh viên như cho
sinh viên viết tóm tắt (Writing), hoặc thảo luận (Speaking),…
+ Viết (Writing): Có thể viết để đáp ứng các nhu cầu giao tiếp thiết yếu về các vấn đề cá
nhân, xã hội. Có thể ghi chép, mơ tả sự kiện, sự việc, miêu tả, tường thuật,… bằng văn phong
phù hợp và đúng ngữ pháp. Giảng viên hướng dẫn sinh viên viết với những cấu trúc, hình thái,
cú pháp từ đơn giản đến phức tạp, lưu ý lối diễn đạt, khắc phục cách viết dịch từ tiếng mẹ đẻ.
Như vậy dạy tiếng Anh không chỉ dạy đơn lẻ một kỹ năng nào mà có sự liên kết các kỹ
năng với nhau. Vì vậy người quản lý cần chú ý đặc trưng này của học phần để khi đánh giá việc
giảng dạy của giảng viên được chính xác, khách quan.
- Quản lý chương trình giảng dạy của giảng viên: Giảng viên phải dạy đúng theo khung
chương trình qui định, đảm bảo thời lượng, nội dung. Người quản lý muốn thực hiện được yêu
cầu này cần phải chú ý một số việc sau:
+ Kế hoạch giảng dạy học phần của từng giảng viên. Kế hoạch này phải được thông qua
chương trình trao đổi và đóng góp ý kiến.
+ Tiến độ thực hiện chương trình. Thơng qua thời khố biểu, sổ theo dõi giảng dạy và
học tập, dự giờ, thăm lớp, … để kịp thời xử lý những trường hợp xảy ra ảnh hưởng đến việc
thực hiện chương trình giảng dạy. Đảm bảo cả thời gian thực hiện chương trình dạy học và nội
dung chương trình.
Quản lý giờ lên lớp:
Giờ lên lớp đóng vai trị quyết định chất lượng giảng dạy. Vì vậy cả giảng viên và người
quản lý đều cố gắng hết sức mình để chất lượng giờ lên lớp được nâng cao một cách tồn diện.
Người quản lý khơng trực tiếp đứng lớp nhưng vẫn có tác động đến giờ lên lớp hiệu quả. Người
quản lý phải có những biện pháp tạo khả năng, điều kiện cho giảng viên lên lớp có hiệu quả.
+ Xây dựng chuẩn đánh giá giờ lên lớp. Đây là nhiệm vụ chung của tập thể giảng viên,
của chương trình. Các tiêu chuẩn này được xây dựng dựa trên lý thuyết lý luận dạy học. Người
quản lý dựa vào các tiêu chuẩn này để kiểm tra, đánh giá, hướng tới mục tiêu nâng cao dần chất
lượng giờ lên lớp.
+ Quản lý giờ lên lớp qua thời khố biểu. Thời khố biểu giúp duy trì nền nếp dạy học,
tạo sự nhịp nhàng trong dạy học hàng ngày, kiểm sốt được tiến độ thực hiện chương trình dạy
học các học phần.
247
+ Thăm lớp, dự giờ, trò chuyện với giảng viên, sinh viên cũng là hình thức quản lý giờ
lên lớp.
+ Các báo cáo của chương trình về tình hình dạy trên lớp: thực hiện chương trình, nền
nếp, số tiết giảng dạy, điểm kiểm tra…
* Quản lý cách kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên.
Việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên không chỉ là cơ sở để phân loại sinh viên mà
cịn có vai trò quan trọng trong việc xác định chất lượng đào tạo, giúp việc điều chỉnh nội dung,
chương trình, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp hơn nhằm làm cho việc đào
tạo đảm bảo tính cập nhật, đáp ứng được các yêu cầu ngày càng cao của xã hội, nhất là trong
giai đoạn hiện nay. Việc kiểm tra, đánh giá tri thức, sự nhận thức của sinh viên khơng chỉ nhằm
mục đích kiểm tra kết quả lĩnh hội các kiến thức đơn thuần về nội dung mà cịn kiểm tra các
kiến thức về phương pháp, vì q trình học của sinh viên là học phương pháp, học cách thức để
tạo cho mình có năng lực tiếp nhận nghề nghiệp trong tương lai.
Việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên có thể thơng qua các đề bài thi, bài kiểm tra,
tiểu luận… Yêu cầu chung khi ra đề thi, đề kiểm tra, không nên đưa những dạng đề học thuộc
lịng, mang tính thụ động mà cần chú trọng những dạng đề phát triển tính tư duy, tính độc lập,
sáng tạo của sinh viên nhằm đánh giá được khả năng tự học, tự nghiên cứu của sinh viên.
Hoạt động dạy-học ngoại ngữ là một quá trình hành động liên tục, có định hướng, có điều
khiển, cho nên chỉ có việc thơng qua việc thi kiểm tra và thi kết thúc các học phần mới đảm bảo
được quá trình hoạt động đi đúng mục tiêu đã định, mới thấy được vấn đề nào, kỹ năng nào đã
hình thành đến đâu nơi người học và để phát hiện còn vấn đề nào, kỹ năng nào chưa đạt yêu
cầu của chương trình đào tạo.
Việc thi, kiểm tra học phần ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng từ khâu ra đề, tổ
chức coi thi, chấm thi cần tổ chức phối hợp với các hình thức đánh giá.
+ Phối hợp nhiều hình thức kiểm tra: vấn đáp, trắc nghiệm, viết, nghe, để việc đánh giá
được khách quan.
+ Cần quan tâm đến giờ luyện tập, thảo luận và đó cũng là cách đánh giá chính xác chất
lượng học tập và nhận thức của sinh viên (kiểm tra quá trình).
+ Tăng cường kiểm tra việc tự học, tự nghiên cứu tài liệu trong giờ học bằng hình thức
vấn đáp.
+ Tăng cường cho sinh viên làm các bài tập lớn, tiểu luận giúp sinh viên làm quen với
công tác nghiên cứu khoa học.
Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên được tiến hành một cách khách quan
có ý nghĩa thiết thực thúc đẩy, khích lệ sinh viên học tập tốt hơn. Đồng thời việc kiểm tra, đánh
giá cịn góp phần điều chỉnh nội dung, chương trình đào tạo, phương pháp dạy của thầy, phương
pháp học tập của trò nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.
3.3. Chương trình tiếng Anh khơng chun (Trường Đại học Thủ Dầu Một, 2018)
Chương trình tiếng Anh không chuyên (General English) bao gồm 06 cấp độ, giáo trình
giảng dạy và học tập, Outcomes - Second Edition.
- Tiếng Anh 1 (60 tiết): Unit 1-8, Outcomes Elementary
- Tiếng Anh 2 (60 tiết): Unit 9-14, Outcomes Elementary
248
- Tiếng Anh 3 (60 tiết): Unit 15-16, Outcomes Elementary + Unit 1-4, Outcomes Preintermediate
- Tiếng Anh 4 (60 tiết): Unit 5-10, Outcomes Pre-intermediate
- Tiếng Anh 5 (60 tiết): Unit 11-16, Outcomes Pre-intermediate
- Tiếng Anh 6 (60 tiết): Củng cố kiến thức, thực hành các kỹ năng ở trình độ B1
* Nội dung chi tiết chương trình tiếng Anh 1
- Kiến thức ngôn ngữ:
+ Sinh viên được luyện phát âm chính xác, rõ ràng và có ngữ điệu;
+ Củng cố ngữ pháp: thì (hiện tại đơn, hiện tại tiếp diễn, quá khứ đơn, tương lai đơn), cấu
trúc câu (khẳng định, phủ định, nghi vấn), hình thức của động từ (to infinitive/ - ing form), so
sánh hơn kém, giới từ chỉ nơi chốn, đại từ nhân xưng, đại từ chỉ định (this/that/these/those), trợ
động từ (auxiliary verbs); modifiers; trạng từ chỉ sự thường xuyên always, frequently,…), danh
từ đếm được và không đếm được;
+ Dạy và cũng cố một số từ vựng chính liên quan đến bài học (units); cung cấp kiến thức
cơ bản về văn hóa được đề cập trong bài học.
- Kỹ năng ngôn ngữ (thực hành):
+ Kỹ năng nghe thực hành kỹ năng nghe lấy ý chính, kỹ năng nghe ghi chú lại, và nghe
trả lời câu hỏi;
+ Kỹ năng đọc: thực hành đọc các đoạn thông tin ngắn (60-120 từ) để trả lời các câu hỏi
kèm theo bằng kỹ thuật đọc lướt lấy ý chính skimming) và đọc nhanh tìm thơng tin (scanning);
+ Kỹ năng viết: thực hành viết các mẫu câu được học trong phần ngữ pháp dựa trên các
từ cho sẵn; hướng dẫn đọc và phân tích yêu cầu của bài viết (writing topic); và thực hành viết
đoạn văn miêu tả (90-110 từ) về người (people), nơi chốn (places), cuộc sống (life), ngôi nhà
(house/flat), kỳ nghỉ (holiday) và kế hoạch (plan);
+ Kỹ năng nói thực hành giới thiệu bản thân, người quen và nơi chốn; thực hành sử dụng
các mẫu câu đơn giản để thảo luận nhóm, trình bày ý kiến về các chủ đề học tập, kế hoạch, gia
đình, kỳ nghỉ. (Đề cương chi tiết học phần tiếng Anh, Trường Đại học Thủ Dầu Một, 2018)
3.4. Kết quả và thảo luận
3.4.1. Nội dung chương trình
* Để đánh giá về việc quản lý thực hiện nội dung chương trình giảng dạy tiếng Anh khơng
chun, chúng tơi đã lấy ý kiến của 375 sinh viên các lớp không chuyên và 20 giảng viên đang
tham gia giảng dạy tiếng Anh không chuyên tại Trường về mức độ phù hợp của nội dung
chương trình với nhu cầu thực tế qua bảng khảo sát sau:
Bảng 1: Nhận xét của sinh viên về nội dung chương trình tiếng Anh.
N
11
115
175
49
25
Khơng trả lời
Rất phù hợp
Khá phù hợp
Chưa phù hợp
Ý kiến khác
249
%
2,9
30,7
46,7
13
6,7
Theo bảng số liệu trên cho thấy mức độ rất phù hợp của nội dung chương trình chiếm
30,7%, mức độ khá phù hợp có 46,7% ý kiến, có 13% ý kiến cho rằng giáo trình chưa phù hợp
lắm và 6,7% ý kiến đề xuất nên tăng thời lượng kỹ năng nghe, nói và được học tiếng Anh
chuyên ngành.
Bảng 2: Nhận xét của giảng viên về nội dung chương trình tiếng Anh
N
%
Không trả lời
0
0
Rất phù hợp
6
30
Khá phù hợp
11
55
Chưa phù hợp
3
15
Ý kiến khác
Qua khảo sát ý kiến giảng viên về chương trình tiếng Anh khơng chun cho thấy có 11
ý kiến nhận xét nội dung chương trình tiếng Anh khá phù hợp chiếm tỉ lệ 55%, 3 ý kiến cho
rằng nội dung chương trình chưa phù hợp lắm với tỉ lệ 15%. Ngồi ra giảng viên đề nghị cần
cập nhật giáo trình giảng dạy, tăng số giờ để sinh viên thực hành tương tác trên lớp, rèn thêm
kỹ năng nghe vì đây là kỹ năng sinh viên yếu nhất trong các kỹ năng.
❖ Từ bảng tổng hợp ý kiến của sinh viên và giảng viên qua giảng dạy thực tế cho thấy
nội dung chương trình khá phù hợp, cần tăng thời gian cho thực hành nghe, nói, viết. Sinh viên
mong muốn được học tiếng Anh chuyên ngành, trang bị vốn tiếng Anh cần thiết để nghiên cứu
tài liệu chuyên ngành phục vụ học tập và nghiên cứu khoa học.
* Nội dung chương trình có ảnh hưởng đến hứng thú học tập của sinh viên. Chúng tôi đã
tiến hành khảo sát ý kiến của sinh viên với nội dung câu hỏi như sau: “Bạn thích chương trình
tiếng Anh mình đang học ở mức độ nào?”
Bảng 3: Ý kiến của sinh viên về mức độ u thích chương trình tiếng Anh
N
%
Khơng trả lời
0
0
Rất thích
98
26,1
Khá thích
105
28
Khơng thích lắm
136
36,3
Hồn tồn khơng thích
36
9,6
Với kết quả bảng khảo sát thì 36,3% sinh viên được hỏi khơng thích chương trình đang
học lắm và có 9,6% hồn tồn khơng thích. So sánh kết quả trên chúng ta có thể thấy số sinh
viên khơng thích chương trình tiếng Anh chiếm tỉ lệ cao nhất. Từ kết quả khảo sát trên giấy,
chúng tơi cịn phỏng vấn sinh viên trực tiếp trong q trình giảng dạy trên lớp và trực tuyến,
cho thấy ngồi các ý kiến về nội dung chương trình đã nêu trên, cịn có những khó khăn như
kiến thức về tiếng Anh của sinh viên quá kém, sinh viên ngại tham gia các hoạt động trên lớp
nhất là nghe-nói, lớp học đông, thời gian tự học dành cho học phần tiếng Anh không nhiều,
giảng viên chưa tổ chức nhiều hoạt động cho sinh viên,…
* Để làm rõ hơn ý kiến trên, chúng tôi tiến hành khảo sát ý kiến của sinh viên về tự nhận
xét trình độ và khả năng ứng dụng tiếng Anh trong thực tế qua bảng sau.
250
Bảng 4: Tự nhận xét của sinh viên về trình độ tiếng Anh.
N
0
25
76
124
150
Khơng trả lời
Tốt
Khá
Trung bình
Yếu
%
0
6,7
20,3
33
40
Với kết quả khảo sát trên, nhìn chung trình độ sinh viên ở mức độ tốt chỉ có 6,7% trong
khi đó mức độ yếu rất cao 40%, mức độ trung bình cũng khá cao 33%.
Bảng 5: Nhận xét của sinh viên về khả năng ứng dụng tiếng Anh
N
0
23
79
117
156
Khơng trả lời
Tốt
Khá
Trung bình
Yếu
%
0
6,1
21,1
31,2
41,6
Kết quả khảo sát ở bảng 5, chỉ có 6,1% SV có khả năng ứng dụng tiếng Anh tốt, mức độ
khá là 21,1%, trung bình 31,2%, mức độ yếu 41,6%. So sánh bảng trên ta thấy sinh viên vận
dụng tiếng Anh vào thực tế còn hạn chế. Với hạn chế về kiến thức tiếng Anh cơ bản, thời lượng
phân bố cho từng phần trong đơn vị bài cịn chưa đồng đều và q trình tổ chức các hoạt động
trên lớp của giảng viên chưa phong phú cũng một phần làm ảnh hưởng đến khả năng ứng dụng
và hứng thú học tập của sinh viên. Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động trên lớp, điều chỉnh phân
bổ thời lượng cho từng kỹ năng, tăng cường rèn luyện các kỹ năng là điều cần thiết để góp phần
cải tiến kết quả dạy và học học phần.
3.4.2. Phương pháp giảng dạy
Phương pháp giảng dạy của giảng viên đóng vai trị khá quan trọng trong q trình dạy
học, tác động đến kết quả học tập của sinh viên. Chúng tôi đã tiến hành khảo sát giảng viên về
cách thức giảng dạy trên lớp thông qua bảng sau:
Bảng 6. Các hoạt động trên lớp của giảng viên
<50%
N
10
13
11
Đọc tài liệu, nghe giảng
Làm bài tập, thảo luận, quan sát, chơi
Thực hành ngay có sự hỗ trợ.
%
50
65
55
50-75%
N
%
8
40
7
35
5
25
76-100%
N
%
2
10
4
20
Kết quả cho thấy, đọc tài liệu và nghe giảng (dưới 50%) được một nửa giảng viên áp dụng,
40% giảng viên áp dụng ở mức trên 50-75%, có 10% giảng viên áp dụng hình thức này ở mức 76100%. Hoạt động làm bài tập, thảo luận, quan sát, trò chơi ở mức dưới 50% được 65% giảng viên
áp dụng và 35% áp dụng ở mức 50-75%. Mức độ thực hành có sự hỗ trợ (dưới 50%) có 55% giảng
viên áp dụng, 25% áp dụng ở mức 50-75% và mức 76-100% có 04 giảng viên chiếm tỉ lệ 20%.
Mức độ tiếp nhận kiến thức (đọc tài liệu nghe, giảng) quyết định 20% hiệu quả; thực hành
ngay có sự hỗ trợ quyết định 75% hiệu quả; làm bài tập, thảo luận, quan sát, trò chơi quyết định
từ 20-75% hiệu quả ghi nhớ và ứng dụng của sinh viên (Youtube.com/watch?v=nxR4KfIL8kk).
Vì thế giảng viên cần điều chỉnh thời lượng phân bổ cho các hoạt động hợp lý hơn để có thể
251
phát huy hết sức sáng tạo, khả năng tư duy của sinh viên cũng như làm cho khơng khí lớp học
thêm sôi động, hào hứng tạo được hiệu quả giảng dạy và học tập.
Bảng 7. Tổ chức các hoạt động đổi mới phương pháp dạy học cho giảng viên
Giảng viên
N
0
12
8
0
Rất thường xun
Thỉnh thoảng
Ít khi
Hồn tồn khơng
%
0
60
40
0
Qua kết quả khảo sát chúng ta thấy có 40% giảng viên nhận xét chương trình ít tổ chức
các hoạt động đổi mới phương pháp dạy học. 60% giảng viên cho rằng các hoạt động liên quan
đổi mới phương pháp giảng dạy ở mức thỉnh thoảng. Từ đó có thể thấy chương trình cần phải
chú trọng đến việc tổ chức các hội thảo, hoạt động thúc đẩy giảng viên thực hiện tốt phương
pháp giảng dạy hơn nữa.
Từ những lí do nêu trên đã ảnh hưởng khơng ít đến thực hiện đổi mới phương pháp giảng
dạy, làm ảnh hưởng đến hiệu quả giảng dạy và chất lượng đào tạo. Để nâng cao chất lượng đào
tạo thì việc đổi mới phương pháp giảng dạy và quản lý thực hiện chương trình giữ vai trị quan
trọng. Vì vậy, việc tìm ra nguyên nhân và đề xuất biện pháp để cải tiến phương pháp giảng dạy
tiếng Anh có hiệu quả là vấn đề cần được quan tâm đối với lãnh đạo chương trình.
3.4.3. Cơ sở vật chất, thiết bị, phương tiện dạy học
Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học là một trong những yếu tố quan trọng không thiếu được
để thực hiện nội dung và các phương pháp dạy học. Nhờ có cơ sở vật chất và thiết bị dạy học
mà giảng viên chuyển tải được nội dung chương trình đến sinh viên một cách hiệu quả. Để làm
rõ thực trạng cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ dạy học tiếng Anh, chúng tôi đã tiến hành thăm dò
ý kiến của các giảng viên đang trực tiếp giảng dạy qua bảng sau:
Bảng 8: Nhận xét về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học
N
0
13
7
0
Tốt
Khá
Trung bình
Chưa tốt
%
0
65
35
0
Từ bảng khảo sát trên cho thấy, khơng có ý kiến nào cho rằng cơ sở vật chất, thiết bị dạy
học là rất tốt, ở mức độ tương đối tốt có 65% ý kiến nhận xét, và chưa tốt có 35% ý kiến.
* Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học không chỉ ảnh hưởng đến việc dạy của giảng viên mà
còn tác động trực tiếp đến việc học của sinh viên. Vì thế chúng tơi đã tiến hành khảo sát ý kiến
của sinh viên kết quả được trình bày ở bảng sau:
Bảng 9. Nhận xét của sinh viên về cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ dạy học
Tốt
Khá
Trung bình
N
8
195
160
%
2,1
52
42,7
Chưa tốt
12
3,2
252
Kết quả khảo sát cho thấy chỉ có 08 ý kiến nhận xét cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ
dạy học tốt chiếm tỉ lệ 2,8%, ở mức độ khá có 195 ý kiến với tỉ lệ 52%, có 160 ý kiến đánh giá
ở mức độ trung bình với tỉ lệ 42,7%, cịn ở mức chưa tốt có 12 ý kiến với tỉ lệ 3,2%.
Từ những ý kiến nhận xét, đánh giá của giảng viên và sinh viên về cơ sở vật chất và thiết
bị phục vụ dạy học ở Trường là có cơ sở khách quan và phản ánh được hiện trạng như sau:
Số phòng học tại Trường đảm bảo số chổ ngồi cho sinh viên. Tuy nhiên khoảng cách giữa
các dãy bàn ghế khá hẹp, không đảm bảo không gian để tổ chức một số hoạt động trên lớp. Một
số phòng học chưa được lắp điều hòa, rất nóng vào buổi chiều cũng ảnh hưởng đến chất lượng
tiết học. Máy chiếu hầu như đã cũ, chất lượng hình ảnh kém, âm thanh khơng đảm bảo. Màn
hình tivi nhỏ, sinh viên ở các dãy phía cuối khơng nhìn rõ nội dung được trình chiếu trên màn
hình. Vì vậy, để có thể nâng cao hiệu quả giảng tiếng Anh, cần thiết phải có biện pháp cải tiến,
bổ sung, thay mới phương tiện phục vụ dạy học.
3.4.4. Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên: Kiểm tra đánh giá sinh viên trong
quá trình giảng dạy và học tập nhằm thúc đẩy hoạt động học của sinh viên, nâng cao chất lượng
dạy học, thông qua kiểm tra, đánh giá sinh viên người quản lý đánh giá đúng về trình độ nhận
thức của sinh viên, đồng thời giúp sinh viên rèn luyện tu dưỡng, phấn đấu trong học tập.
Học phần tiếng Anh được kiểm tra thông qua 04 kỹ năng Nghe, Nói, Đọc, Viết với các hình
thức trắc nghiệm, viết câu, đoạn văn, vấn đáp. Để thấy rõ năng lực tiếng Anh của sinh viên, chúng
tôi đã tổng hợp kết quả kiểm tra kết thúc học phần tiếng Anh 1 của sinh viên qua bảng sau.
Giỏi
N
Nghe
Nói
Đọc
Viết
16
20
54
19
Khá
%
4,2
5,3
14,4
5,1
N
108
113
135
103
%
28,8
30,1
36,0
27,4
Trung bình
N
%
139
37,1
136
36,3
171
45,6
199
53,1
Yếu
N
112
106
15
54
%
29,9
28,3
4,0
14,4
Phân tích bảng trên cho thấy kỹ năng nghe, nói của sinh viên kết quả chưa tốt, yếu chiếm
gần 30%. Kỹ năng đọc đạt kết quả cao so với các kỹ năng còn lại, khá giỏi đạt 50,4%, yếu chỉ
có 4%. Kỹ năng viết khá giỏi đạt 32,5%, yếu 14,4%.
Từ kết quả trên chúng ta có thể thấy sinh viên chưa phát triển đồng đều các kỹ năng, số sinh
viên còn yếu các kỹ năng vẫn còn, tập trung nhiều nhất ở kỹ năng nghe và nói. Vì vậy cần phải
có biện pháp tăng cường rèn luyện các kỹ năng, giúp cải thiện kết quả học tập của sinh viên.
4. KẾT LUẬN
Có thể rút ra một số kết luận chung về việc giảng dạy và học tập tiếng Anh của sinh viên
năm nhất tại Trường Đại học Thủ Dầu Một như sau:
- Nội dung chương trình khá phù hợp, tuy nhiên cần điều chỉnh thời lượng thực hành dành
cho các kỹ năng nghe-nói nhiều hơn, chưa biên soạn được giáo trình chuyên ngành cho các khoa
không chuyên nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng tiếng Anh của sinh viên trong học tập và nghiên cứu.
- Việc tổ chức giảng dạy của giảng viên gặp khó khăn do số lượng sinh viên trong lớp
đơng (40). Do đó việc rèn luyện các kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ của sinh viên bị hạn chế. Phần
lớn giảng viên đã sử dụng phương pháp giao tiếp trong giảng dạy nhưng hiệu quả chưa cao,
thiết kế tiết dạy chưa hợp logic, đơi khi chưa kiểm sốt được tất cả các hoạt động trên lớp. Thực
tế ở các lớp không chuyên, giảng viên sử dụng tiếng Việt thường xuyên, thời gian luyện tập
253
nghe và nói của sinh viên rất hạn chế. Vì thế cần tăng cường rèn luyện các kỹ năng giao tiếp
cho sinh viên, tăng cường cho sinh viên sử dụng tiếng Anh trong lớp ở mức nhiều nhất có thể.
Đối với giảng viên, chương trình cần quan tâm hơn nữa đến việc bồi dưỡng chuyên môn, tổ
chức nhiều hoạt động trao đổi chun mơn để giảng viên có cơ hội chia sẻ kinh nghiệm giảng
dạy được tốt hơn. Giảng viên cần nâng cao hơn nữa nhận thức đối với mục tiêu, nhiệm vụ giảng
dạy của mình. Khơng ngừng bồi dưỡng và tự bồi dưỡng để trang bị kiến thức, phương pháp và
năng lực sư phạm đáp ứng kịp thời xu thế phát triển của xã hội.
- Cơ sở vật chất và các phương tiện phục vụ giảng dạy và học tập cịn một số hạn chế nhất định.
Vì vậy cần cải tạo phòng học, trang thiết bị hoặc thay mới tạo ra môi trường học tập đạt chất lượng.
- Việc học tập của sinh viên: để sinh viên có định hướng, cơ sở học tốt học phần này thì
giảng viên cần phải hướng dẫn cách học cho sinh viên. Công việc này có ý nghĩa quan trọng
trong cơng tác giảng dạy, giúp cho sinh viên có phương hướng học tập đối với học phần. Ngoài
ra, ý thức học tập của sinh viên cũng góp phần thành cơng cho tiết học. Một số sinh viên không
chuẩn bị bài trước khi lên lớp, rất thụ động trong giờ học. Vì thế giảng viên cần quan tâm, tạo
điều kiện, dẫn dắt để sinh viên nhận thức được tầm quan trọng của học phần và có ý thức, thái
độ học tập một cách đúng đắn, tích cực. Sinh viên cần chủ động tìm tịi, nghiên cứu tài liệu,
tham gia các hoạt động trên lớp và nghiên cứu khoa học.
Trong phạm vi bài nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát một số khía cạnh
chủ yếu liên quan đến việc dạy-học, nhận diện thực trạng dạy và học tiếng Anh đối với sinh
viên năm nhất, đưa ra khuyến nghị giúp cải thiện một số hạn chế trong quá trình dạy của giảng
viên, học tập của sinh viên và các điều kiện phục vụ dạy học. Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu
thêm nhiều khía cạnh khác có tác động đến việc dạy và học, với mong muốn góp phần cải tiến
chất lượng học phần tiếng Anh ngày càng tốt hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Văn Ân (2006). Dạy ngoại ngữ không chuyên ở bậc Đại học. Tạp chí Giáo dục số 133, kì1.
2. Hồng Cơ Chinh (2000), Cải tiến quản lý q trình dạy học nhằm thực hiện đổi mới phương pháp
dạy học, Nghiên cứu Giáo dục.
3. Harmer, J (2001), The Practice of English language Teaching, Person Education Limited.
4. Bùi Hiền (1999), Phương pháp hiện đại dạy học ngoại ngữ, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.
5. Nguyễn Ngọc Hợi, Phạm Minh Hùng, Thái Văn Thành (2006), “Một số biện pháp quản lý hoạt
động chun mơn nghiệp vụ của giáo viên”, Tạp chí Giáo dục, 133, tr.5-6.
6. Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Trường Đại học Sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh. Thực trạng giảng
dạy ngoại ngữ không chuyên, những thuận lợi và khó khăn từ việc giảng dạy của giáo viên và học
tập của học sinh. Tháng 11/2005.
7. Thùy Ngân, Chu Ngọc Minh (2004), “Ngoại ngữ trong nhà trường: Vì sao học 10 năm vẫn khơng
nói được?”, Báo Thanh niên, (301), tr.7.
8. Nunan, David (1988), Syllabus Design, Oxford University Press.
9. Nguyễn Ngọc Quang (2000), Lý luận dạy học đại cương Tập II, Trường Cán bộ Quản lý Giáo dục
và Đào tạo, Hà Nội.
10. Nguyễn Cảnh Toàn (2000), Đổi mới cách dạy, cách học tất yếu dẫn đến sự quản lý dạy và học,
Nghiên cứu Giáo dục.
11. Trường Đại học Thủ Dầu Một (2018), Đề cương chi tiết học phần tiếng Anh.
12. Ur, P (1998), A Course in Language Teaching, Cambridge University Press.
13. Youtube.com/watch?v=nxR4KfIL8kk, Phương pháp giảng dạy hiện đại của Đại học Hardvard.
254