DOANH NGHIỆP THAM GIA VÀO QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO
NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO:
NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHĨ KHĂN
Trần Anh Sơn
Khoa Cơng nghệ Thơng tin. Trường Đại học Tài chính – Marketing
Email:
Tóm tắt: Bài tham luận này nhằm mục tiêu phân tích, đánh giá vai trị của các bên liên quan
khi các doanh nghiệp cùng với các cơ sở đào tạo tham gia vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực
cũng như những thuận lợi, những khó khăn phát sinh khơng chỉ phía các doanh nghiệp tham gia
mà còn cả đối với các cơ sở đào tạo. Trên cơ sở kết quả phân tích, đánh giá, bài tham luận đưa ra
một số khuyến nghị để phát huy những thuận đồng thời hạn chế, khắc phục những khó khăn để
nâng cao hiệu quả phối hợp đào tạo nguồn nhân lực từ phía các doanh nghiệp, hướng tới mịc tiêu
cuối cùng trong công tác đào tạo là đào tạo được nguồn nhân lực có chất lượng cao và đáp ứng
được các đòi hỏi từ nhu cầu thực tiễn của xã hội.
Từ khóa: Đào tạo nguồn nhân lực, Cơ sở đào tạo, Doanh nghiệp tham gia
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra hết sức mạnh mẽ
và lan tỏa sâu rộng đến mọi lĩnh vực, mọi quốc gia như hiện nay thì chắc chắn giáo dục
khơng thể là ngoại lệ. Tại Việt Nam hiện nay khi mà hầu hết các trường Đại học đều xác
định mục tiêu đào tạo cho mình theo hướng ứng dụng thì việc đào tạo nguồn nhân lực sao
cho đáp ứng được các địi hỏi vơ cùng phong phú và đa dạng của xã hội là vấn đề luôn được
các cơ sở đào tạo đặt lên hàng đầu khi nói về mục tiêu đào tạo. Vấn đề "Ðào tạo theo nhu
cầu xã hội" này ngay từ năm 2007 cũng đã được Bộ Giáo dục và Ðào tạo chủ trương và
chính thức được triển khai tới các cơ sở đào tạo. Các cơ sở đào tạo nhanh chóng chuyển từ
"đào tạo những gì mình có" sang "đào tạo những gì xã hội cần", tức là đào tạo trên cơ sở
nhu cầu nguồn nhân lực từ xã hội nhằm thu hẹp khoảng cách cung - cầu giữa đào tạo và sử
dụng nguồn nhân lực. Vấn đề đặt ra là xã hội cần nguồn nhân lực như thế nào thì câu trả lời
chính xác chỉ có thể là từ các nhà sử dụng lao động. Để có được câu trả lời này từ phía cầu
lao động, nhiều cơ sở đào tạo đã tổ chức các buổi hội thảo bàn về chương trình "Ðào tạo
theo nhu cầu xã hội”, tổ chức ngày hội tư vấn việc làm, tổ chức tiếp cận các doanh nghiệp
để tìm hiểu nhu cầu, ký kết các hợp đồng đào tạo nhân lực, mời các doanh nghiệp tham gia
236
xây dựng và đánh giá chương trình đào tạo, tham gia đào tạo cho người học tại các cơ sở
đào tạo hay tại chính địa điểm kinh doanh hoạt động của doanh nghiệp, v.v... Tuy nhiên,
việc các doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực tại các cơ sở đào tạo
trong thời gian qua ngoài những thuận lợi thì cũng cịn tồn tại khơng ít những khó khăn cho
tất cả các bên tham gia cần được tháo gỡ. Những thuận lợi và khó khăn này sẽ được phân
tích đánh giá một cách chi tiết trong bài tham luận này.
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1. Một số khái niệm
a). Nhân lực
Có nhiều cách hiểu hay biểu đạt khác nhau về khái niệm “nhân lực”. Theo Phạm
Minh Hạc (2001) thì mỗi con người là một tác nhân độc lập làm chủ q trình lao động của
mình (có sự hợp tác, có kỹ năng lao động theo tổ, đội); lấy lợi ích của người lao động làm
nguyên tắc cơ bản của q trình lao động (trong sự hài hịa với lợi ích của cộng đồng, xã
hội); có các chính sách phát huy tiềm năng của người lao động, bảo đảm hiệu quả của cơng
việc. Cịn theo Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng (2004) thì cho rằng nhân lực chỉ người
lao động kỹ thuật được đào tạo trong nguồn nhân lực ở một trình độ nào đó để có năng lực
tham gia vào lao động xã hội. Năng lực của người lao động kỹ thuật được cấu thành bởi
các yếu tố: kiến thức, kỹ năng, thái độ và thói quen làm việc. Cách hiểu này cho phép xác
định cơ cấu nhân lực của cộng đồng và của quốc gia một cách cụ thể và thuận lợi cho việc
xác định các mục tiêu đào tạo nhân lực. Tuy nhiên, tiếp cận từ phía doanh nghiệp thì: Nhân
lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội, tức là tất cả
các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị
đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển trong doanh nghiệp.
b). Đào tạo nguồn nhân lực
Theo “Từ điển bách khoa Việt Nam” (1995) thì: Đào tạo là quá trình tác động đến
một con người, làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách
có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và có khả năng nhận một
sự phân cơng lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và
phát triển nền văn minh của lồi người. Theo tác giả Hồ Ngọc Đại (1991) định nghĩa: Đào
tạo được hiểu là q trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển
một cách có hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp và thái độ của người lao
237
động nhằm xây dựng nhân cách cơ bản cho mỗi cá nhân, tạo điều kiện cho họ có thể tham
gia lao động nghề nghiệp trong cuộc sống xã hội.
Như vậy đào tạo là quá trình làm biến đổi nhận thức, hành vi của con người thông
qua việc học tập một cách có hệ thống, có mục đích nhằm lĩnh hội kinh nghiệm, nghiệp vụ
chuyên môn, nâng cao năng lực cá nhân và đáp ứng nhu cầu thực tế của tổ chức, xã hội.
Chỉ khi quá trình đào tạo được biến thành q trình tự đào tạo một cách tích cực, tự giác thì
việc đào tạo mới có kết quả. Tùy theo tính chất chuẩn bị cho cuộc sống và người lao động,
người ta phân loại đào tạo gồm: đào tạo chun mơn và đào tạo nghề nghiệp.
2.2. Các hình thức tham gia vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực của doanh nghiệp
Doanh nghiệp với vai trò của người sử dụng lao động có thể tham gia vào q trình
đào tạo nguồn nhân lực tại các cơ sở đào tạo theo nhiều hình thức khác nhau: Từ việc đặt
hàng đào tạo đến tham gia xây dựng, đánh giá chương trình đào tạo và thậm chí là tham gia
giảng dạy trực tiếp tại các cơ sở đào tạo hay hướng dẫn thực hành, thực tập kỹ năng nghề
nghiệp tại địa điểm của doanh nghiệp, v.v.
a). Doanh nghiệp đặt hàng cho các cơ sở đào tạo để đào tạo nguồn nhân lực
Đào tạo theo đơn đặt hàng hay đào tạo theo địa chỉ từ lâu đã được thực hiện ở nhiều
nước phát triển và doanh nghiệp là khách hàng quan trọng của các cơ sở đào tạo, là người
chi trả kinh phí đào tạo và nhận sản phẩm của quá trình đào tạo. Tuy nhiên, việc này tại
Việt Nam thì chưa thực sự phổ biến và do vậy người học chính là người phải trả chi phí đào
tạo. Chính vì vậy trong thực tế có nhiều nhân tài do khơng đủ điều kiện kinh tế để có thể
được tham gia học tập tại các cơ sở đào tạo. Việc đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh
nghiệp tại Việt Nam chủ yếu vần là các khóa bồi dưỡng một số nội dung mới liên quan cho
chính đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp.
b). Doanh nghiệp tham gia xây dựng, đánh giá chương trình đào tạo
Việc xây dựng chương trình đào tạo phải được dựa trên mục tiêu và định hướng đào
tạo của các cơ sở đào tạo. Để chương trình đào tạo bám sát mục tiêu “Đào tạo đáp ứng nhu
cầu của xã hội” hay “Đào tạo cái xã hội cần” thì chính các doanh nghiệp trực tiếp sử dụng
lao động mới là người hiểu rõ nhất những gì cần được trang bị cho người học để khi ra
trường họ có thể bắt tay ngay vào công việc thực tế tại doanh nghiệp mà doanh nghiệp
khơng phải mất thời gian, chi phí để đào tạo lại. Chính vì vậy, sự tham gia của doanh nghiệp
238
vào cơng tác xây dựng, đánh giá chương trình đào tạo của các cơ sở đào tạo sẽ giúp các
chương trình đào tạo tại cơ sở đào tạo bám sát những đòi hỏi của thực tiễn và của xã hội.
c). Doanh nghiệp tham gia giảng dạy, hướng dẫn trực tiếp người học
Nếu như trước đây các doanh nghiệp chỉ tham gia vào việc hướng dẫn người học thực
tập nghề nghiệp, thực hành các kỹ năng ngay tại môi trường hoạt động của doanh nghiệp
thì hiện nay nhiều cơ sở đào tạo đã mời các doanh nghiệp tham gia giảng dạy trực tiếp tại
các giảng đường, phịng thực hành, thí nghiệm của chính các cơ sở đào tạo.
3. MỘT SỐ MƠ HÌNH THAM GIA ĐÀO TẠO CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TẠI
MỘT SỐ CƠ SỞ ĐÀO TẠO
Theo ơng Hồng Văn Điện - Hiệu trưởng trường Đại học Cơng nghiệp Hà Nội thì
liên kết với các doanh nghiệp là để thực hiện đào tạo theo nhu cầu của người sử dụng lao
động. Đây là một trong những thế mạnh trong công tác đào tạo của nhà trường, thông qua
hai kênh cơ bản là hợp tác quốc tế và liên kết với các cơ sở sản xuất. Cụ thể, trường đang
thực hiện chương trình hợp tác với các trường đại học của Australia đào tạo trình độ Cao
đẳng cho gần 3000 sinh viên, đã tốt nghiệp ra trường 1500 sinh viên. Hợp tác với tập đồn
giáo dục Aptech Ấn Độ đào tạo lập trình viên quốc tế cho hơn 200 học viên, hợp tác với
công ty Toyota đào tạo kỹ thuật viên sửa chữa ô tô… Nhà trường cũng tiếp nhận tài trợ của
tập đoàn BSE về trang thiết bị trị giá trên 50.000USD, tháng 12/2007 tập đoàn Hồng Hải
(Đài Loan) tài trợ 5 triệu USD trang thiết bị cho trường phục vụ công tác đào tạo nhân lực
chất lượng cao. Bên cạnh đó, công tác liên kết với cơ sở sản xuất cũng được trường quan
tâm với từng việc làm cụ thể: hàng năm, trường đưa học sinh đi thực tập tại các cơ sở sản
xuất để tiếp cận với môi trường làm việc thực tế, rèn luyện tác phong công nghiệp, kỹ năng
nghề nghiệp. Tổ chức kết hợp đào tạo với sản xuất ngay tại xưởng trường, ký các hợp đồng
gia công chế tạo sản phẩm phù hợp với nội dung đào tạo của trình độ học sinh, sinh viên.
Theo ơng Nguyễn Thanh Lành - Hiệu trưởng trường Cao đẳng công nghiệp xây lắp
điện thì việc gắn đào tạo với sản xuất cần phải có cơ chế cụ thể. Trong những năm qua, Nhà
trường đã thực hiện liên kết đào tạo theo địa chỉ cho nhiều trung tâm như Quảng Nam, Thái
Nguyên, Hà Nội, Nghệ An… Liên kết với điện lực các tỉnh phía Bắc và các doanh nghiệp
xây lắp điện thực hiện gắn đào tạo với thực tập tay nghề sản xuất cho học sinh và tạo việc
làm cho học sinh sau khi tốt nghiệp. Tuy nhiên, qua thực tế đào tạo, trường đã rút ra một số
kinh nghiệm sau: Thứ nhất, đã là trường kỹ thuật, cần phải có địa điểm cho học sinh thực
239
tập, sản xuất, thời gian thực tập phải chiếm 35-45% cơ cấu thời gian đào tạo bậc trung học
chuyên nghiệp. Thứ hai, nhà trường phải có một trung tâm thực nghiệm và chuyển giao
công nghệ hoặc một công ty cạnh trường để tổ chức nhiệm vụ trên như một đơn vị sản xuất
có hoạch tốn (phụ thuộc trường) và làm dịch vụ giới thiệu việc làm. Thứ ba, việc gắn đào
tạo với sản xuất muốn làm được phải có cơ chế. Cụ thể, doanh nghiệp tạo điều kiện cho
Nhà trường một số cơng trình vừa và nhỏ phù hợp với năng lực tổ chức thi công của Nhà
trường, ngược lại Nhà trường phải có chính sách thu hút người học từ doanh nghiệp trên
tinh thần lợi ích của cả hai bên.
Theo ơng Nguyễn Văn Hồn - Hiệu trưởng trường Cao đẳng công nghiệp Dệt may
thời trang Hà Nội cho biết hiệu quả lớn từ việc tổ chức mơ hình cơng ty trong nhà trường,
đưa công ty về tại nhà trường. Ông cho rằng Nhà trường luôn xác định đào tạo phải gắn
liền với sản xuất kinh doanh nên Trường đã tham gia sáng lập 2 công ty cổ phần trong
trường. Hai cơng ty cổ phần này hiện có 600 cơng nhân làm việc liên tục và mang sứ mệnh
quan trọng: Thứ nhất, tiến hành sản xuất kinh doanh đảm bảo có lãi để hỗ trợ một phần kinh
tế cho đào tạo. Thứ hai, phục vụ cho sinh viên của trường ra thực tập cuối khóa. Đây là một
việc làm rất thiết thực, minh họa bằng những con số: năm 2008, kim ngạch xuất khẩu của
hai công ty trên đạt trên 300 tỷ đồng, mỗi năm có tới 2000 sinh viên tham gia thực tập cuối
khóa tại tất cả các bộ phận của công ty như: điều hành sản xuất, xuất nhập khẩu, kế tốn,
phịng kỹ thuật, dây chuyền sản xuất… Nhờ đó, sinh viên nắm bắt được các khâu thực tiễn
sản xuất, đảm bảo sau khi ra trường có thể nhanh chóng hịa nhập với thực tiễn sản xuất tại
các doanh nghiệp.
Theo bà Trương Thị Thanh Hà - Tổng giám đốc công ty TNHH một thành viên Dệt
kim Đông Xuân thì cho rằng: Kỹ sư cũng phải đứng xưởng để cập nhật kiến thức. Bà cho
biết: Một thực tế chính tại doanh nghiệp chúng tôi là nhiều kỹ sư ra trường còn chưa được
cập nhật kiến thức thực tế và chưa thơng thạo vận hành máy móc. Chính vì thế, chúng tơi
thường bố trí kỹ sư mới ra trường cũng phải xuống xưởng đứng máy cùng cơng nhân để
tìm hiểu thực tế sản xuất và cập nhật những kiến thức về trang thiết bị mới (nhiều doanh
nghiệp có hệ thống trang thiết bị mới mà các trường chưa kịp cập nhật để đào tạo). Trong
thời gian tới, một việc làm cần thiết là các trường và doanh nghiệp phải kết hợp với nhau
để xây dựng bộ giáo án chung, để các doanh nghiệp có thể tự đào tạo cho các lao động phổ
thông ngay tại chỗ. Các trường cũng mạnh dạn hơn nữa trong công tác ký hợp đồng với các
cơ sở đào tạo và luôn cập nhật hệ thống giáo án để đào tạo cho phù hợp
240
4. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI DOANH NGHIỆP THAM GIA ĐÀO
TẠO TẠI CƠ SỞ ĐÀO TẠO
4.1. Những thuận lợi
Việc các doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo cùng với các cơ sở đào tạo có
rất nhiều thuận lợi cho các bên tham gia. Cụ thể:
Thứ nhất, cơ sở đào tạo thực hiện được mục tiêu, định hướng đào tạo của mình về
đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu của xã hội, đào tạo cái xã hội cần.
Thứ hai, các doanh nghiệp có thể nhận được những sản phẩm đào tạo trong tương lai
có chất lượng, đáp ứng ngay các nhu cầu thực tiễn tại đơn vị, tiết kiệm chi phí tuyển dụng,
chi phí bồi dưỡng, đào tạo lại.
Thứ ba, tạo cơ hội học tập cho mọi người, nhất là những người giỏi nhưng khơng có
điều kiện kinh tế, tạo sự an tâm cho người học khi ra trường chắc chắn có việc làm.
4.2. Những khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi từ việc các doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo
cùng với các cơ sở đào tạo thì vẫn cịn tồn tại một số khó khăn nhất định trong q trình
thực hiện. Cụ thể:
Thứ nhất, về phía các cơ sở đào tạo: Việc tìm kiếm, mở rộng các doanh nghiệp hay
tìm kiếm, mở rộng khách hàng không hề đơn giản, đặc biệt là đối với các cơ sở đào tạo
đóng trên các địa bàn khơng có nhiều đơn vị sử dụng lao động hoặc có thể là đối với một
số ngành đào tạo. Việc xây dựng mơ hình doanh nghiệp ngay tại cơ sở đào tạo cũng khơng
hề đơn giản vì các rào cản về cơ chế khi các doanh nghệp được xây dựng tại các cơ sở đào
tạo này phải thực sự đi vào hoạt động có hiệu quả hoặc cơ sở đào tạo phải sử dụng doanh
nghiệp ảo và khi đó thì sự mô phỏng doanh nghiệp ảo theo thực tế ảo là rào cản lớn nhất
mà các cơ sở đào tạo phải đối mặt.
Thứ hai, về phí các doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo: Mặc dù khi doanh
nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo thì nhiều nguyên tắc mang tính sư phạm được bỏ qua
hay tiết giảm song dạy học đòi hỏi rất nhiều kỹ năng, nghệ thuật từ người giảng dạy và nó
chỉ có thể được thực hiện tốt nhất bởi những người đã được kinh qua giảng dạy và đào tạo
các nghiệp vụ sự phạm một cách bài bản. Đay chính là khó khăn lớn nhất mà doanh nghiệp
tham gia gặp phải và nó sẽ ảnh hưởng đến kết quả giảng dạy của doanh nghiệp.
241
5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Như vậy, mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp là mối quan hệ biện chứng
giữa người sản xuất ra sản phẩm (nguồn nhân lực) và người sử dụng sản phẩm. Mặt dù sản
phẩm ở đay là cùng một đối tượng, nhưng khơng hồn tồn đồng nhất, thuần túy. Chính vì
vậy để phát huy những thuận lợi và hạn chế những khó khăn, tồn tại, trong chừng mực nhất
định các bên tham gia cần:
Một là, các bên phải phối hợp trong việc xây dựng kế hoạch đào tạo và sử dụng qua
việc hoạch định chiến lược phát triển của nhà trường cũng như của doanh nghiệp để xác
định nhu cầu nguồn nhân lực trước mắt cũng như lâu dài, về số lượng, cơ cấu ngành nghề,
cơ cấu nguồn lao động, các hình thức đào tạo phù hợp.
Hai là, sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp trong việc triển khai xây dựng
mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo theo quy chế chung của các Bộ Giáo dục và Đào
tạo, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và các Bộ chủ quản, quản lý chuyên ngành. Đây
là một yêu cầu xuất phát một cách tự nhiên, bởi vì thực tế đào tạo trong quá khứ là nhà
trường đào tạo những gì mình có, đơn vị sử dụng lao động khi tiếp nhận lao động phải "đào
tạo lại". Những năm gần đây, từ sự phối hợp này đã xuất hiện nhiều mơ hình có hiệu quả,
đem lại lợi ích cho các bên, trong đó điều quan trọng nhất là người lao động có việc làm ổn
định, tạo ra sản phẩm vật chất cho xã hội và bản thân họ có nhiều cơ hội để thăng tiến.
Ba là, các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo mà đứng đầu
là Bộ Giáo dục và Đào tạo và sau đó là các Sở Giáo dục và Đào tạo, các Bộ ngành chủ quản
liên quan cần xây dựng ngay quy chế phối hợp, thường xuyên tổ chức giao ban, tập huấn,
nắm bắt thơng tin, có tổ chức điều phối, tham mưu, đề xuất cấp có thẩm quyền quy định
chính sách khuyến khích, ưu đãi cụ thể cho cả nhà trường và doanh nghiệp nhằm mục đích
chung là đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng sự nghiệp cơng nghiệp hố,
hiện đại hóa của từng địa phương, từng vùng miền, từng lĩnh vực, ngành kinh tế.
Bốn là, các cơ sở đào tạo cần nhanh chóng chuyển hướng, thay đổi mơ hình đào tạo.
Theo đó, đào tạo cần tập trung theo hướng mở, linh hoạt, chuyển từ hướng “cung” sang
hướng “cầu”, đào tạo gắn kết với nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh
nghiệp địi hỏi lao động trực tiếp, có tay nghề cao ở các lĩnh vực công nghệ tiên tiến. Bên
cạnh các giải pháp phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý đáp ứng yêu cầu giảng dạy
vừa lý thuyết vừa thực hành, đủ năng lực để đào tạo chương trình chuyển giao từ nước
242
ngồi, có khả năng tiếp cận cơng nghệ mớ, v.v.. Đổi mới đào tạo theo mơ hình trường học
thơng minh. Quản trị nhà trường cần thay đổi mơ hình theo hướng tư duy và cơng nghệ,
bảo đảm tính sáng tạo và thích ứng nhanh với sự đổi mới, sự phát triển khơng ngừng của
khoa học và cơng nghệ. Trong đó, hệ thống cơng nghệ thơng tin được phân tích, thiết kế
theo hướng quản lý toàn diện và đồng bộ tất cả các hoạt động. Hoạt động dạy học chuyển
sang ý tưởng, sáng tạo và áp dụng công nghệ. Người học thực hiện quá trình học tập trên
lớp hoặc ngay tại nhà, chủ động lựa chọn không gian, thời gian, nội dung và phương pháp
học tập, có thể gọi là “trường di động, lớp học trực tuyến”. Người dạy - người học và người
học - người học chia sẻ, tương tác liên tục và linh hoạt. Chuyển các dữ liệu truyền thống
sang dữ liệu số trên máy tính. Áp dụng cơng nghệ IoTs (Internet vạn vật) để kết nối người
học, phụ huynh, giáo viên, giúp nắm bắt các thông tin kịp thời như: điểm, lịch học, các
thông báo, v.v..
Năm là, triển khai hiệu quả công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ gắn
thực tiễn nhu cầu xã hội. Hoạt động nghiên cứu khoa học cần được ưu tiên hàng đầu và
triển khai sâu, rộng trong toàn trường nhằm giúp nâng cao hiệu quả, chất lượng của công
tác dạy và học, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, giúp sinh viên nâng cao
khả năng tư duy, tự khám phá, tiếp cận khoa học công nghệ, từng bước rèn luyện kỹ năng
và thái độ học tập. Bên cạnh đó, các cơ sở đào tạo cần thường xuyên đổi mới công tác tuyển
sinh, đào tạo, chủ động mở các nghề mới có nhu cầu cao của xã hội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]
Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng (2004). Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai – Vấn
đề và Giải pháp, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội.
[2]
Hồ Ngọc Đại (1991). Giải pháp về giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội.
[3]
Hội đồng biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995). Từ điển Bách khoa Việt Nam, NXB
Từ điển bách khoa, Hà Nội.
[4]
Nguyễn Duyên. (2022). Đào tạo nguồn nhân lực gắn với nhu cầu xã hội: Đòi hỏi cấp bách.
Báo Công Thương. Truy cập: />
[5]
Phạm Minh Hạc (2001). Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội
[6]
Tạ Quang Vũ. (2022). Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội. Báo Lâm Đồng
Online. Truy cập: />243