Tải bản đầy đủ (.pdf) (9 trang)

Một số giải pháp tăng cường hợp tác đào tạo gắn với nhu cầu doanh nghiệp ngành Công nghệ thông tin

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (364.37 KB, 9 trang )

MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC ĐÀO TẠO
GẮN VỚI NHU CẦU DOANH NGHIỆP
NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Trương Xuân Hương
Khoa Cơng nghệ Thơng tin. Trường Đại học Tài chính - Marketing
Email:

Tóm tắt: Hiện nay, chúng ta đang ở trong một quá trình chuyển đổi kỹ thuật số sâu sắc,
định hình nên cách thức ứng xử, kết nối và giao dịch của các tổ chức, các doanh nghiệp và người
dùng. Có thể nói, cơng nghệ thơng tin đã đến gần với từng người dân, từng người quản lý, từng
nhà khoa học. Sự hiện diện của ngành công nghệ thông tin lan rộng và phủ sóng từ trường học đến
bệnh viện, từ doanh nghiệp đến cơ quan hành chính, từ ngân hàng tới hàng không, từ viễn thông
tới cả những lĩnh vực như an ninh quốc phòng, ở đâu ứng dụng của Công nghệ thông tin cũng vô
cùng quan trọng. Khơng có lĩnh vực nào, khơng có nơi nào chúng ta không thấy sự hiện hữu của
Công nghệ thông tin. Bài viết tập trung các nội dung chính liên quan đến giải pháp tăng cường
hợp tác đào tạo gắn với nhu cầu doanh nghiệp nhóm ngành cơng nghệ thơng tin với mục đích phối
hợp chặt chẽ giữa khoa Cơng nghệ thơng tin- Trường đại học Tài chính Marketing với các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Công nghệ thông tin để chia sẻ kinh nghiệm, nguồn lực trong quá
trình đào tạo.
Từ khóa: Cơng nghệ thơng tin, cơ chế đặc thù nhóm ngành cơng nghệ thơng tin, đào tạo theo
cơ chế đặc thù, nhân lực công nghệ thông tin.

1. THỰC TRẠNG VỀ NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở VIỆT
NAM
Trong 5 năm trở lại đây, nhu cầu nhân lực công nghệ thông tin tại Việt Nam không
ngừng tăng cao. Tuy nhiên, theo một số khảo sát cho thấy, nhân lực ngành công nghệ thông
tin đang thiếu hụt khá lớn, riêng năm 2021 thiếu khoảng 20.000 nhân lực. Trong khi đó,
Việt Nam đề ra mục tiêu đến năm 2030 đạt ít nhất 100.000 doanh nghiệp cơng nghệ số và
có 1.500.000 nhân viên trong lĩnh vực kỹ thuật số.
Theo báo cáo thị trường nhân lực Công nghệ thông tin Việt Nam năm 2021 của
TopDev, nhu cầu nhân lực Công nghệ thông tin tại Việt Nam không ngừng tăng cao trong


5 năm trở lại đây. Năm 2021, Việt Nam cần 450.000 nhân lực Công nghệ thông tin. Tuy
nhiên, tổng số nhân lực hiện tại chỉ có 430.000 người. Thiết hụt 20.000 nhân viên đã gây
214


khơng ít khó khăn cho khâu tuyển dụng nhân sự Công nghệ thông tin ở các doanh nghiệp.
Sự thiếu hụt này xuất phát từ sự chênh lệch giữa trình độ của sinh viên ngành Công nghệ
thông tin với các yêu cầu của doanh nghiệp. Cụ thể, hiện nay chỉ có khoảng 16.500 sinh
viên (chiếm gần 30%) trong tổng số 55.000 sinh viên chuyên ngành Công nghệ thông tin
đáp ứng được những kỹ năng và yêu cầu mà doanh nghiệp cần.
Ông Nguyễn Văn Vũ, Giám đốc công nghệ Appota cho rằng “Với xu thể chuyển đổi
số ở các doanh nghiệp dẫn đến nguồn nhân lực để làm các công việc chuyển đổi số cần rất
lớn, sự thiếu hụt cơ bản là do nhu cầu của thị trường. Bên cạnh đó, chúng ta cũng nên làm
rõ vấn đề thiếu hụt giữa nhân sự chất lượng cao, nhân sự làm được việc chứ không phải
thiếu nhân sự ngành Công nghệ thông tin chung chung”. Thực vậy, thị trường nhân lực
ngành Công nghệ thông tin hiện nay không bị giới hạn bởi biên giới quốc gia, cũng không
bị ảnh hưởng nhiều bởi đại dịch COVID-19, do mọi người trong ngành có làm việc trực
tuyến tốt. Vấn đề là khơng có nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân lực làm được việc theo
đúng yêu cầu công việc đặt ra tại doanh nghiệp. Sự phát triển của ngành Công nghệ thông
tin cũng như sự biến động của thị trường ln địi hỏi người làm cơng nghệ thông tin phải
học hỏi liên tục, phát triển các kỹ năng cũng như khả năng thích ứng nhanh với mọi biến
đổi. Đặc biệt nhân sự công nghệ chất lượng cao là đối tượng săn đón của tất cả các cơng ty,
tập đồn lớn trên thế giới, chứ khơng phải chỉ riêng Việt Nam.
Cuối tháng 1/2022, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã ký quyết định 146 phê duyệt Đề
án “Nâng cao nhận thức, phổ cập kỹ năng và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số quốc
gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Cùng với đó, đào tạo ít nhất 1.000 chuyên
gia làm lực lượng nòng cốt dẫn dắt chuyển đổi số quốc gia. Việc tập trung phát triển nguồn
nhân lực CNTT này là mấu chốt để thực hiện chuyển đổi số hiệu quả và bền vững.
Năm 2022 được kỳ vọng là năm của kỷ nguyên số hóa các doanh nghiệp đang gấp
rút chuẩn bị nguồn lực, đặc biệt là nhân lực, để đáp ứng được nhu cầu công nghệ, kỹ thuật

của thị trường và của khách hàng.
Thống kê của công ty tuyển dụng Navigos Group cho thấy, mức lương nhân sự chủ
chốt Công nghệ thông tin dao động từ 30-90 triệu đồng, riêng lương kỹ sư mới ra trường ở
lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI) ở mức 1000-2000 USD/tháng; chưa kể với những lĩnh vực
này, nhân sự cịn có thể làm freelance cho nhiều cơng ty khác. Nhân sự Công nghệ thông
tin, nhất là các lĩnh vực cơng nghệ mới như blockchain, AI… đã có những thành tích và ghi
215


dấu ấn nhất định trên bản đồ công nghệ thế giới. Chính vì thế, nhiều tập đồn lớn đã lựa
chọn Việt Nam là điểm đến tìm kiếm nhân sự cơng nghệ.
Theo ông David Wei, Tổng Giám đốc Huawei Việt Nam, khu vực châu Á-Thái Bình
Dương đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt khoảng 47 triệu lao động trong lĩnh vực
Công nghệ thông tin vào năm 2030, với chi phí cơ hội hàng năm là 4.238 tỷ USD. Qua khảo
sát, hơn 50% giảm đốc điều hành trong khu vực cũng cho biết rất khó tìm được nguồn nhân
lực phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp. Ông David Wei cho biết “Thực trạng mất cân
đối lớn giữa nguồn cung và cầu về nhân lực trong lĩnh vực Công nghệ thơng tin, trong đó
70% nhu cầu nằm trong các lĩnh vực mới nổi, như dữ liệu lớn, điện toán đám mây, internet
vạn vật - IoT và AI. Kế hoạch trong thời gian tới, Huawei sẽ đầu tư 50 triệu USD với mục
tiêu đào tạo 500.000 chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ thông tin và thiết lập 8 học viện
cho các quốc gia ASEAN. Chiến lược quan trọng của Huawei tại Việt Nam trong tương lai
là hợp tác với các đối tác hình thành 15 học viện Huawei, phối hợp với 100 cơ sở (của các
trường đại học và các tổ chức) để đào tạo hơn 10.000 sinh viên trong ngành. Huawei sẵn
sàng hợp tác với các trường đại học và học viện của Việt Nam để phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao tại địa phương, thông qua việc tăng cường chuyển giao kiến thức, thúc đẩy
sự hiểu biết và quan tâm nhiều hơn đến lĩnh vực công nghệ thông tin cũng như sự tham gia
trong cộng đồng kỹ thuật số”.
Theo Bộ Giáo dục và Ðào tạo (GD và ÐT), hiện nay cả nước có 250 trường đại học
và cao đẳng, 164 trường dạy nghề có đào tạo về công nghệ thông tin và truyền thông (ICT).
Chỉ tiêu tuyển sinh đại học khoảng 68.000 và dạy nghề là 18.000 học viên. Ngồi ra, ở Việt

Nam cũng có hàng trăm cơ sở đào tạo và sát hạch chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông
tin. Thế nhưng, nguồn nhân lực giỏi trong lĩnh vực Công nghệ thông tin ở Việt Nam đáp
ứng được nhu cầu thực tế của doanh nghiệp khá khan hiếm. Hằng năm có khoảng 50 nghìn
sinh viên Công nghệ thông tin ra trường. Tuy nhiên, số lượng sinh viên ra trường so với
nhu cầu phát triển doanh nghiệp Công nghệ thông tin chưa nhiều. Mức độ tăng trưởng
doanh nghiệp Công nghệ thông tin và nhu cầu việc làm rất lớn, năm 2021 cần 100 nghìn cử
nhân Cơng nghệ thơng tin có chất lượng. Tuy nhiên, khảo sát trong số 50 nghìn cử nhân
Cơng nghệ thơng tin chỉ có 30% làm việc được ngay và có việc làm đúng nghề, còn lại 70%
phải đào tạo lại. PGS, TS Hoàng Minh Sơn, Hiệu trưởng Trường đại học Bách khoa Hà Nội
cho rằng, nhu cầu nhân lực những năm qua tăng 47%/năm nhưng nguồn nhân lực Công
nghệ thông tin chỉ tăng 8%/năm. Trong khi đó, chất lượng đào tạo nhân lực Công nghệ
216


thông tin chưa đáp ứng nhu cầu với tỷ lệ khi ra trường làm việc có 72% thiếu kinh nghiệm
thực hành, 42% thiếu kỹ năng làm việc nhóm... Phó Chủ tịch Hội Tin học TP Hồ Chí Minh
Phí Anh Tuấn cho rằng, Việt Nam đang có gần một triệu lao động làm việc trong ngành
Công nghệ thông tin nhưng các chương trình đào tạo ngành Cơng nghệ thơng tin trong nước
chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển, nhất là đào tạo kỹ sư chất lượng cao. Nhiều doanh
nghiệp, đơn vị tuyển dụng có tỷ lệ tuyển đạt khoảng 10 đến 15% trên tổng số ứng viên.
Nhân lực Công nghệ thông tin sau khi ra trường thường phải đào tạo lại ít nhất ba tháng
mới đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Một trong những bất cập trong đào tạo Công nghệ
thông tin là do tốc độ phát triển công nghệ quá nhanh đòi hỏi kỹ năng của người lao động
phải thay đổi... Ðiều đó đặt ra thách thức cần cập nhật, cải tiến thường xuyên và có sự phối
hợp đa dạng trong đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Công nghệ thông tin.
Trong thời đại công nghệ ngày càng phát triển, nhu cầu tuyển dụng nhân lực đảm bảo
đáp ứng tốt yêu cầu thực tế của doanh nghiệp ngày càng đặt ra các tiêu chuẩn chọn lọc khắt
khe hơn. Nhiều tổ chức, doanh nghiệp có nhu cầu cao về nhân lực nắm vững kiến thức cơ
bản về quản lý và kinh doanh, tin học và hệ thống thơng tin; có kiến thức và kĩ năng về thiết
kế, vận hành, quản trị các hệ thống thông tin quản lý; có năng lực tổng hợp, phân tích, trợ

giúp hoạch định và tổ chức triển khai ứng dụng Công nghệ thơng tin trong các tổ chức,
doanh nghiệp. Bên cạnh đó, người ứng tuyển cần có kỹ năng giao tiếp tốt, hiểu biết về kinh
doanh và có khả năng phân tích chiến lược hiệu quả. Chính vì vậy ngồi việc trang bị các
kiến thức, kỹ năng chun mơn, sinh viên cịn phải tự trang bị cho mình nhiều kỹ năng khác
như giao tiếp, ngoại ngữ, tinh thần trách nhiệm trong công việc … để thích ứng với nhu cầu
tuyển dụng.
Vì vậy, việc đẩy mạnh gắn kết đào tạo giữa khoa Công nghệ thơng tin- Trường đại
học Tài chính Marketing và các doanh nghiệp được ưu tiên thực hiện trong giai đoạn này.
2. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC GẮN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH
NGHIỆP TRONG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC
Việc gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nguồn nhân lực đem lại
nhiều lợi ích cho nhà trường, doanh nghiệp và cho cả sinh viên. Cụ thể:
Đối với nhà trường:
Nhà trường được doanh nghiệp tư vấn về việc sửa đổi và xây dựng nội dung chương
trình đào tạo. Góp phần nâng cao năng lực và trình độ chun môn cho người học.
217


Tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học và tổ chức các buổi tọa đàm, hội thảo chung.
Trao đổi các thông tin về khoa học, công nghệ tiên tiến và nhu cầu về nguồn nhân lực trong
thời điểm hiện tại và tương lai.
Nhà trường sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị, phần mềm của doanh nghiệp để
phục vụ thực hành nhằm nâng cao kỹ năng thực hành, ứng dụng thực tiễn của sinh viên.
Nhà trường có thể mời được chuyên gia từ doanh nghiệp tham gia giảng dạy, hướng
dẫn thực hành, thực tập, đánh giá kết quả học tập của sinh viên và tuyển dụng sinh viên sau
khi tốt nghiệp.
Nhà trường nâng cao được chất lượng đào tạo cũng như tìm được đầu ra phong phú
cho người học, từ đó nâng cao uy tín của nhà trường trước những yêu cầu của thị trường
lao động đa dạng và luôn biến động.
Đối với doanh nghiệp:

Doanh nghiệp luôn nhận được hỗ trợ từ nhà trường về đội ngũ nhân lực khi có nhu
cầu.
Doanh nghiệp ít tốn chi phí tuyển dụng, thử việc, vì doanh nghiệp đã đánh giá được
khả năng, năng lực, phẩm chất của sinh viên qua thời gian sinh viên thực tập tại doanh
nghiệp.
Doanh nghiệp có thể đặt hàng các đề tài nghiên cứu khoa học có chất lượng và thiết
thực từ nhà trường nhằm cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp được tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chương trình đào tạo và đánh
giá chất lượng đào tạo của nhà trường nhằm tạo ra nguồn nhân lực có kiến thức và kỹ năng
phù hợp để doanh nghiệp có thể tuyển dụng sau này.
Doanh nghiệp có thể tham gia giảng dạy, hỗ trợ cơ sở vật chất, trang thiết bị, phần
mềm của doanh nghiệp để phục vụ thực hành. Đây là một hình thức đầu tư, quảng bá thương
hiệu, hình ảnh của doanh nghiệp.
Đối với sinh viên:
Sinh viên có cơ hội lựa chọn địa điểm thực tập phù hợp để thực hành ở mơi trường
làm việc thực tế. Từ đó, sinh viên có thể phát triển được kỹ năng giải quyết những vấn đề
phát sinh khi làm việc tại các doanh nghiệp mà khi học tại trường khơng thể có.
218


Các đợt thực tập thực tế giúp sinh viên hiểu rõ hơn những bài học lý thuyết, cũng cố
những kiến thức cần thiết nhằm phục vụ cho công việc, nắm vững được các qui trình, các
nghiệp vụ khi tham gia làm việc thực tế tại doanh nghiệp.
Thực tập tại doanh nghiệp giúp sinh viên mở rộng mối quan hệ của mình. Với kinh
nghiệm thực tập sinh viên sẽ tự tin, sẵn sàng nhận công việc được giao sau khi ra trường.
Đợt thực tập cũng là cuộc khảo sát, thử thách đặt ra cho sinh viên trong quá trình lập nghiệp
khi ra trường.
Cho dù đạt được kết quả nhiều hay ít, các đợt thực tập cũng mang lại cho sinh viên
nhiều cơ hội khác nhau. Sinh viên có cơ hội nhận được việc làm trong khi tham gia thực
tập hoặc sau khi ra trường.

3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ
DOANH NGHIỆP TRONG ĐÀO TẠO
Thứ nhất, cần đổi mới công tác quản lý nhà nước để khuyến khích hợp tác đào tạo
giữa nhà trường và doanh nghiệp
Nhà nước cần có chính sách, cơ chế phối hợp chặt chẽ về nguồn nhân lực giữa nhà
trường và doanh nghiệp. Tăng quyền tự chủ cho nhà trường, chủ động về quy mơ đào tạo,
hình thức tuyển sinh, xây dựng chương trình đào tạo, thu chi nguồn tài chính. Đồng thời,
khuyến khích cạnh tranh giữa các cơ sở đào tạo để tăng động lực phát triển giữa các nhà
trường với nhau về chất lượng sản phẩm đào tạo, uy tín cũng như hình ảnh, thương hiệu
của trường. Cần có cơ chế rõ ràng trong việc cho phép các ngành đào tạo đặc thù thay đổi
chương trình đào tạo theo định hướng ứng dụng đến mức nào để các Khoa đề xuất xây dựng
đề án cụ thể và phù hợp thực tế.
Thứ hai, thiết lập nhiều kênh kết nối trường đại học với doanh nghiệp
Cơ quan quản lý giáo dục có thể đứng ra tổ chức các sân chơi, các diễn đàn để nhà
trường và doanh nghiệp gặp nhau, như sàn giao dịch công nghệ, gặp gỡ nhà trường – doanh
nghiệp. Tổ chức để nhà trường và doanh nghiệp rút kinh nghiệm sau mỗi giai đoạn hợp tác
để nâng cao hiệu quả liên kết trong tương lai.
Thứ ba, cần thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục
Nguồn tài chính của nhà trường chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách nhà nước và học
phí. Nhà trường muốn có nguồn tài chính dồi dào cần phải thực hiện tốt công tác xã hội hóa
219


dựa vào doanh nghiệp và nhà tài trợ thông qua các hình thức: học bổng cho sinh viên học
giỏi hoặc sinh viên nghèo vượt khó, cung cấp nguồn nhân lực cho công tác giảng dạy, hợp
đồng nghiên cứu khoa học. Ngược lại, doanh nghiệp hỗ trợ tài chính, cơ sở vật chất bằng
các cách hỗ trợ học bổng cho sinh viên, ký kết các hợp đồng tư vấn, nghiên cứu khoa học.
Mặt khác, doanh nghiệp có thể hỗ trợ tài chính cho nhà trường bằng việc thành lập các cơng
ty, khu cơng nghệ, khu thực hành, giảng đường, phịng thí nghiệm, trang thiết bị cho giảng
dạy và học tập.

Thứ tư, cần xây dựng tốt cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Xây dựng các Phịng thực hành Cơng nghệ thơng tin tại khoa Công nghệ thông tin
như các hệ thống mô phỏng bằng chương trình máy tính, hệ thống chương trình mã nguồn
mở cho đến các công cụ quản trị cơ sở dữ liệu, phân tích, đánh giá hiệu suất hoạt động của
các hệ thống mạng máy tính và các hệ thống ứng dụng. Trang bị phần mềm có bản quyền
cho các chương trình dạy học.
Thứ năm, cần gắn kết với doanh nghiệp trong việc xây dựng và cải tiến chương
trình đào tạo
Để nâng cao năng lực đào tạo, xây dựng chuẩn đầu ra cho người học, nhà trường cần
tham khảo nhu cầu của thị trường và doanh nghiệp. Từ đó, nhà trường xây dựng chương
trình giảng dạy cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, của từng giai đoạn phát triển. Từ đó
hạn chế, khắc phục đuợc tình trạng đào tạo lại sau khi doanh nghiệp tuyển dụng. Nhà trường
cần thực hiện tốt phương châm đào tạo những gì xã hội cần chứ khơng đào tạo những gì
nhà trường có. Vì vậy, chương trình đào tạo, nội dung, phương pháp, giáo trình, tài liệu,
cách kết nối của các trường phải thay đổi cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn.
Điều chỉnh chương trình đào tạo Cơng nghệ thơng tin theo hướng ứng dụng, mở, liên
thông gồm các học phần cốt lõi và các học phần tự chọn. Các học phần cốt lõi nhằm cung
cấp kiến thức, kỹ năng nền tảng về Công nghệ thông tin. Các học phần tự chọn là các hướng
đào tạo chuyên sâu Công nghệ thông tin ứng dụng. Nghiên cứu đưa nội dung đào tạo các
chứng chỉ nghề có uy tín trên thế giới (ví dụ: chứng chỉ của Microsoft, Oracle, Cisco,…)
vào nội dung đào tạo thực hành để đáp ứng chuẩn đầu ra khi tốt nghiệp.
Tăng cường ứng dụng Công nghệ thông tin trong công tác đào tạo, áp dụng phương
thức đào tạo trực tuyến, đào tạo kết hợp (blended learning) và đào tạo thực hành tại doanh
220


nghiệp. Triển khai hệ thống đào tạo trực tuyến và xây dựng nguồn tài nguyên, kho học liệu
điện tử dùng chung.
Thứ sáu, tạo điều kiện cho giảng viên và chuyên gia của doanh nghiệp học tập,
trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau

Nhà trường ưu tiên tuyển dụng những giảng viên có kinh nghiệm làm việc trong các
doanh nghiệp. Doanh nghiệp cử các chuyên gia, kỹ sư, tham gia giảng dạy, hướng dẫn thực
hành. Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng cần tạo điều kiện tiếp nhận các giảng viên, cán bộ
quản lý đến doanh nghiệp học tập kinh nghiệm, trao đổi những vấn đề giữa chương trình
đào tạo và yêu cầu của thực tế.
Thứ bảy, thiết lập bộ phận chuyên trách về liên kết, hợp tác với doanh nghiệp
Nhà trường cần thiết lập bộ phận chuyên trách về liên kết, hợp tác với doanh nghiệp,
phát huy vai trò cầu nối của các tổ chức và cá nhân để ký kết thỏa thuận hợp tác trong việc
tham gia đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin. Bộ phận này sẽ đảm nhận nhiệm vụ
tìm kiếm, xây dựng và duy trì mối quan hệ với các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ
thông tin. Việc lựa chọn các doanh nghiệp phù hợp sẽ đảm bảo yêu cầu thực hiện chương
trình cũng như duy trì mối quan hệ bền vững. Thường xuyên cung cấp thơng tin về chương
trình, giáo trình, nội dung, phương pháp giảng dạy cũng như đề xuất những nhu cầu thiết
yếu khác tới phía doanh nghiệp. Hỗ trợ quảng bá hình ảnh cho doanh nghiệp: đưa các thông
tin về doanh nghiệp tới sinh viên như cơ hội thực tập, thông tin tuyển dụng… Định kỳ tiếp
xúc tìm để hiểu nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp, qua đó góp phần xây dựng chuẩn đầu
ra cho quá trình đào tạo.
Thứ tám, tăng cường mối quan hệ giữa cựu sinh viên với nhà trường
Nhà trường cần tăng cường giữ mối quan hệ với cựu sinh viên. Đây là cơ hội để nhà
trường có thêm sự gắn kết hợp tác với các doanh nghiệp mới, và sinh viên cũng có thể nhận
được nhiều chia sẽ và trao đổi kinh nghiệm từ các anh chị khóa trước.
4. KẾT LUẬN
Đào tạo theo cơ chế đặc thù cần có sự phối hợp chặt chẽ và thống nhất cao giữa đơn
vị đào tạo – người tiếp nhận kiến thức và đơn vị sử dụng nguồn lực trong tương lai. Do đó,
việc tăng cường hợp tác giữa nhà trường và các doanh nghiệp yêu cầu cấp bách, là nhiệm
vụ bắt buộc hiện nay. Chiều rộng và độ sâu của mối liên kết này tùy thuộc nhiều vào sự
221


định hướng của các cơ quan quản lý giáo dục, sự lựa chọn phương thức cũng như sự liên

kết hợp tác của nhà trường và doanh nghiệp. Vì vậy, nhà trường và doanh nghiệp cần phải
có những giải pháp đồng bộ và tối ưu nhằm xây dựng và phát triển mối gắn kết bền vững
này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ thông tin và truyền thông (mic)
[2] Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP.HCM (FALMI)
[3] Bộ TT&TT (2021). Dự thảo Đề án “Nâng cao nhận thức, đào tạo và phát triển nguồn
nhân lực chuyển đổi số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
[4] Chính phủ (2019). Quyết định Phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghệ thông tin và
truyền thông Việt Nam đến năm 2020. />[5] Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP của chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục
đại học Việt Nam, 2005
[6] Công văn 5444/BBGĐT – GDĐH về việc áp dụng cơ chế đặc thù đào tạo các ngành
thuộc lĩnh vực cơng nghệ thơng tin trình độ đại học, 2017
[7] Vietnamworks, Báo cáo năm 2018 và dự báo năm 2019 về thị trường tuyển dụng trực
tuyến tại Việt Nam, 2019
[8] Trung tâm truyền thông giáo dục, BGD&ĐT, Gắn kết nhà trường - doanh nghiệp trong
đào tạo nguồn nhân lực ICT trình độ cao, 2017.
[9]
[10] />[11] />[12] Thiếu nhân lực công nghệ thông tin, nhất là nhân lực chất lượng cao cho chuyển đổi
số (ww.vov.vn).

222



×