Tải bản đầy đủ (.pdf) (12 trang)

Tìm hiểu mô hình tri thức trong việc xây dựng bài giảng điện tử

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (496.08 KB, 12 trang )

TÌM HIỂU MƠ HÌNH TRI THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG
BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ
Trần Thanh San
Khoa Công nghệ Thông tin. Trường Đại học Tài chính - Marketing
Email:

Tóm tắt: Qua việc khảo sát các mơ hình đào tạo hiện nay, có thể thấy các hình thức đào tạo
nổi bật như: Đào tạo từ xa, đào tạo trực tuyến, đào tạo bằng các bài giảng điện tử đã được đầu tư
phát triển mạnh mẽ nhằm đáp ứng nhu cầu phổ cập rộng rãi kiến thức cho mọi người. Tuy nhiên,
các hình thức đào tạo này vẫn cịn nhiều hạn chế. Vì vậy, việc xây dựng hệ thống tốn kém, xây
dựng bài giảng thì địi hỏi nhiều cơng sức và thời gian. Ý tưởng xây dựng hệ quản lý đào tạo thông
minh – ILMS (Intelligent Learning Management Systems); là sự kết hợp giữa hệ chuyên gia và hệ
quản lý đào tạo (LMS). ILMS có khả năng tự động xây dựng bài giảng và khóa học mới phù hợp
với nhu cầu và trình độ của học viên, qua đó khai thác hiệu quả hơn tài nguyên bài giảng điện tử
đã có, đồng thời cũng cập nhật và cung cấp thêm bài giảng điện tử mới, qua đó cũng làm cho
“kho” bài giảng điện tử ngày càng phong phú hơn. Đây là một mơ hình tri thức phục vụ cho việc
xây dựng hệ quản lý đào tạo thông minh (ILMS) dưa theo cách tiếp cận lập luận theo kinh nghiệm
(Case Base Reasoning – CBR)
Từ khóa: đào tạo thơng minh, LMS, ILMS

1. TÍCH HỢP HỆ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO VÀ HỆ CHUYÊN GIA
1.1. Hệ quản lý đào tạo (LMS) và chuẩn SCORM:
Hệ quản lý đào tạo (Learning Management System – LMS) là môi trường hỗ trợ giảng
dạy và kết hợp với môi trường truyền thông. Thông qua LMS, mọi người có thể tham gia
học và trao đổi kiến thức trên khơng gian mạng mà khơng có sự hạn chế về không gian và
thời gian, việc học, giảng dạy, tương tác được thực hiện từ bất cứ nơi đâu và bất cứ lúc nào.
Vấn đề quan trọng được đặt ra là làm thế nào để liên kết các LMS lại với nhau theo
cùng những quy ước chung để có được những tiêu chuẩn. Ví dụ chuẩn SCORM (Sharable
Content Object Reference Model) được nghiên cứu và kết hợp của nhiều tổ chức lớn như
ADL, IMS, AICC, IEEE dành cho chuẩn hóa bài giảng điện tử. SCORM ra đời dựa trên ý
tưởng chủ đạo là sử dụng được các bài giảng điện tử trên nhiều hệ thống LMS khác nhau



167


và có thể phục vụ nhiều mục đích giảng dạy khác nhau nhằm tiết kiệm thời gian, công sức
cũng như chi phí trong xây dựng các bài giảng và các khóa học điện tử.
Chuẩn SCORM được hiểu là mơ hình tham chiếu đối tượng nội dung có thể chia sẻ
và là một tập hợp các tiêu chuẩn và thông số kỹ thuật cho công nghệ giáo dục điện tử dựa
trên web (cịn gọi là e-learning). Nó xác định giao tiếp giữa nội dung phía máy khách và hệ
thống máy chủ (được gọi là "môi trường thời gian chạy"), thường được hỗ trợ bởi hệ thống
quản lý học tập. SCORM cũng xác định cách nội dung có thể được đóng gói thành các tập
ở dạng ZIP để có thể chuyển đi và được gọi là "định dạng trao đổi gói".
SCORM là một đặc tả của “sáng kiến học tập nâng cao” (ADL) từ Văn phòng Bộ
trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ. SCORM 2004 đã giới thiệu một ý tưởng phức tạp được gọi là
giải trình tự, là một tập hợp các quy tắc xác định thứ tự mà người học có thể trải nghiệm
các đối tượng nội dung. Nói một cách dễ hiểu, chúng ràng buộc người học vào một tập hợp
các con đường cố định thông qua tài liệu đào tạo, cho phép người học "đánh dấu" sự tiến
bộ của họ khi nghỉ giải lao và đảm bảo khả năng chấp nhận của điểm kiểm tra mà người
học đạt được. Tiêu chuẩn sử dụng XML và nó dựa trên kết quả công việc được thực hiện
bởi AICC, IEEE LTSC và Ariadne.
Điểm hạn chế của hệ thống LMS và chuẩn E-learning hiện nay chỉ chú trọng việc
phát triển môi trường E-learning mà chưa có hình thức đào tạo thơng minh nhằm xây dựng
cơ chế tự động để xây dựng bài giảng phù hợp với trình độ và nhu cầu của học viên dựa
trên cơ sở những thành phần bài giảng có sẵn.
1.2. Khả năng xây dựng hệ quản lý đào tạo thông minh
Với mong muốn có các hệ thống thơng minh hỗ trợ người dạy và học nhiều khóa học
linh hoạt, nhiều tài nguyên học tập và giúp người học trong việc lựa chọn những kiến thức
phù hợp với khả năng cũng như trình độ, tác giả đề xuất thay thế cơ chế quản lý thủ công
của hệ thống LMS bằng các cơng cụ thơng minh, qua đó tích hợp các hệ chuyên gia vào
LMS nhằm nâng cao khả năng tự động hóa quản lý cũng như hỗ trợ đào tạo cho LMS hệ

thống LMS cần được bổ sung các yếu tố cơ bản, các qui tắc của hệ chuyên gia như cơ sở
tri thức nhằm phục vụ cho xây dựng một hệ thống đào tạo linh động - thông minh, đáp ứng
các nhu cầu thực tiễn trong việc dạy và học.

168


Hệ quản lý đào tạo thông minh (ILMS)

Cơ sở tri thức

Hệ quản lý
đào tạo

Hệ chun gia

Hình 1: Tích hợp hệ quản lý đào tạo và hệ chun gia

2. MƠ HÌNH TRI THỨC CHO HỆ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THÔNG MINH
2.1. Hệ quản lý đào tạo thông minh (ILMS):
Về cơ bản hệ thống ILMS được xem là một phần mềm quản lý học tập, phân phối,
cung cấp toàn bộ các tài liệu, khóa học, video có liên quan đến chương trình đào
tạo. LMS được thiết kế giúp người quản lý dễ dàng tiếp cận và làm việc. Ngoài việc cung
cấp nội dung, hệ thống ILMS cũng có thể phân tích, xử lý những việc như đăng ký các khóa
học, quản trị khóa học và phân tích các kỹ năng mơn học, …
2.1.1. Đề xuất một số chức năng của hệ thống:
Chức năng lưu trữ dữ liệu: ILMS cho phép người dùng, bao gồm quản trị viên và cả
học viên có thể đăng tải các dữ liệu bản mềm, file words, video, ghi âm lên hệ thống. Các
dữ liệu được quản lý, phân loại theo danh mục, thời gian, loại tài liệu, … Qua đó, người
quản trị có thể kiểm sốt nội dung dễ dàng.

Độ bảo mật cao: là nhiệm vụ quan trọng trong hầu hết các hệ thống, là sự bảo mật
thông tin cá nhân người dùng (trong thời đại số hiện nay). Điều này đòi hỏi ILMS phải đáp
ứng và đảm bảo an tồn, tránh rị rỉ các thơng tin mật của người dùng, đặc biệt là các thông
tin về tài khoản tín dụng, credit card,…

169


Dễ dàng truy cập: cung cấp cơ chế tạo sự truy cập dễ dàng vào hệ thống qua nhiều
dạng thiết bị như: điện thoại, laptop, máy tính bàn, máy tính bảng,… đồng thời hỗ trợ tốt
với các hệ thống phần mềm và nhiều nền tảng điều hành khác nhau như: Windows, MacOS,
Linux, Android, IOS, ... Bên cạnh đó, ILMS phải đảm bảo lưu lượng trong tình huống nhiều
người dùng cùng truy cập (cùng lúc) vào hệ thống mà không bị trì trệ (lag) hay tệ hơn là
sập hệ thống.
Chức năng đa chủ thể: Hệ thống ILMS cho phép khóa học online có sự tương tác
giữa học viên và giảng viên, giữa các học viên bất cứ nơi đâu đề có thể cùng học tập, tương
tác và trao đổi học thuật, nội dung môn học và các vấn đề liên quan.
Đa ngôn ngữ, đa quốc gia: ILMS được phổ biến rộng rãi trên tồn thế giới, nó kết
nối tất cả mọi người thuộc nhiều quốc gia với nhiều ngôn ngữ khác nhau đồng thời cịn có
chức năng giúp chuyển đổi ngơn ngữ dễ dàng cho các thành viên trong cùng một khóa học.
Quản lý lượng người tham gia: thơng qua việc đăng ký khóa học, hệ thống ILMS có
tính linh hoạt tự động kiểm soát và quản lý học viên tham gia hệ thống một cách chặt chẽ.
Lịch trình cụ thể: một tính chất linh động trong hệ thống này là giảng viên có thể giới
hạn khoảng thời gian diễn ra khóa học, thời gian làm bài thi, … giảng viên cũng có thể lên
lịch trao đổi online với các học viên của lớp học của mình.
Quản lý giao dịch: Hệ thống sẽ tiếp nhận, kiểm soát các giao dịch giữa học viên đăng
ký tham gia khóa học với nhà quản lý hệ thống, với công ty hoặc doanh nghiệp giáo dục.
Quản lý tương tác và hỗ trợ người dùng: Học viên có thể trao đổi bài học thơng qua
hệ thống chat, tin nhắn. Họ cũng có thể tương tác với giảng viên qua đánh giá, email, tin
nhắn riêng. Học viên và giảng viên tương tác với quản trị viên hệ thống thông qua mục hỗ

trợ người dùng để giải quyết các vấn đề liên quan đến kỹ thuật, nội quy, giao dịch.
Đánh giá học viên dễ dàng: cung cấp cơ chế để học viên có thể tham gia kiểm tra bài
(hoặc thi) online qua đó giảng viên có thể kiểm tra mức độ hiểu bài của các học viên. Hệ
thống sẽ tự động chấm điểm và gửi kết quả cho các học viên. Bên cạnh đó, ILMS cung cấp
các hình thức như game, các “cuộc đua top” giữa các học viên thông qua bảng xếp hạng
học tập. Hệ thống cũng giúp giảng viên tăng độ hấp dẫn của khóa học thơng qua hình thức
tích lũy điểm lên level,…

170


Kiểm sốt q trình học tập của học viên: hệ thống quản lý học tập trực tuyến giúp
giảng viên và người học có thể đánh giá năng lực của học viên theoa từng giai đoạn cụ thể.
2.1.2. Mục đích của hệ thống
Là tích hợp các tác nhân thơng minh vào hệ quản lý đào tạo thông thường để xây
dựng nên một hệ quản lý đào tạo thông minh.
Hệ quản lý đào tạo thơng minh cần phải có khả năng tự động xây dựng các bài
giảng/khóa học điện tử phù hợp hơn với nhu cầu và trình độ học viên, thay thế những khóa
học có khung chương trình cứng nhắc nhằm đáp ứng nhu cấu đào tạo một cách linh hoạt,
hiêu quả và gần gủi đối với học viên.
2.1.3. Mơ hình quản lý đào tạo thông minh được đề xuất gồm:
Hệ trợ giúp giảng dạy (Teaching Assistant - TA): về bản chất khơng phải là giảng
viên trực tiếp giảng dạy chính nhưng cũng có nhiệm vụ quan trọng là hỗ trợ tốt công việc
giảng dạy của giảng viên với học viên, vì vậy những teaching assistant bắt buộc phải đáp
ứng được chuyên môn, kỹ năng và kiến thức vững vàng cũng như biết cách truyền tải kiến
thức cho học viên dễ hiểu nhất. Được xây dựng dựa trên hệ quản lý đào tạo, đóng vai trị
quan trọng trong việc tạo nên môi trường dạy và học cho học viên học tập và giáo viên
giảng dạy.
Xây dựng khóa học tự động (Automatic Course Builder – ACB): nhằm xây dựng các
khóa học, cung cấp các bài giảng phù hợp cho từng môn học, giai đoạn học với các học

viên một cách tự động dựa trên nhu cầu của mơn học, trình độ học và quá trình đánh giá
mực độ tiếp thu việc học của học viên.
Tích hợp khóa học (Course Integration – CI): nhằm xây dựng, mở rộng cơ sở tri thức
từ các bài giảng, bài học và khóa học đã có sẵn từ đó mở rộng khai thác và đưa vào chương
trình mới.
Hệ thống cải tiến cơ sở tri thức (Knowledge Base Refening System – KBRS): kiểm tra
các cập nhật trên hệ thống, nếu cần thì cập nhật. Mặc khác, cịn làm nhiệm vụ tinh giản và
mở rộng cơ sở tri thức.
Cơ sở tri thức (Knowledge Base): bao gồm các thông tin, dữ liệu và tri thức liên quan
đến khóa học hoặc phục vụ cho cho việc xây dựng khóa học tự động và các dịch vụ khác.

171


Đây chính là nền tảng để xây dựng các hệ quản lý đào tạo thông minh kết hợp giữa LMS
và ES.
Studenn
t

Teaching Assistant
(TA)

Professor

Course Integrator
(CI)

Automatic
Course Builder
(ACB)


Knowledge base

Knowledge Base
Refining System
(KBRS)

Hình 2: Mơ hình hệ quản lý đào tạo thơng minh

2.2. Mơ hình tri thức cho xây dựng bài giảng điện tử theo ngữ cảnh
Mơ hình tri thức cho xây dựng bài giảng điện tử theo ngữ cảnh là sự kết hợp của các
bài giảng/khóa học và các tri thức cần thiết để xây dựng hệ chuyên gia tạo ra các bài giảng
điện tử theo ngữ cảnh. Ngữ cảnh ở đây được hiểu là những nhu cầu, điều kiện và trình độ
của học viên cụ thể. Bài giảng theo ngữ cảnh là những bài giảng / khóa học phù hợp với
nhu cầu và trình độ của học viên.
Trên cơ sở đó, mơ hình tri thức có các thành phần cơ bản sau:
2.2.1. Bài giảng điện tử
Bài giảng điện tử được xây dựng theo chuẩn SCORM. Theo chuẩn SCORM, các bài
giảng được mô tả bởi các thành phần: Asset, SCO và mối quan hệ giữa chúng. Các mô tả
về SCO bao gồm mô tả chung (Description), các từ khóa (Keyword) hoặc định danh
(Identifier) và một số mô tả khác. Các mô tả này sẽ được sử dụng trực tiếp cho việc xây
mối quan hệ giữa các bài giảng, nội dung bài giảng nhằm xây dựng được các khóa học, bài
giảng một cách tự động và linh hoạt (phù hợp với các yêu cầu khác nhau). Trong đó: SCO
là một thành phần cơ bản cịn các Asset là các phương tiện để thể hiện nội dung của SCO.
172


2.2.2. Mối quan hệ giữa các thành phần tạo nên bài giảng
Việc xây dựng bài giảng hay khóa học một cách tự động từ các bài giảng đã có phụ
thuộc rất nhiều vào hiểu biết về mối quan hệ giữa nội dung các bài giảng. Khi một bài giảng

điện tử xây dựng sẳn bởi con người (Real course) được cập nhật (tích hợp) vào cơ sở tri
thức thì các SCO trong bài giảng này và mối quan hệ (Pathway) giữa các SCO đó phải được
biểu diễn trong cơ sở tri thức. Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa các SCO mới và các SCO đã
có trong cơ sở tri thức cần phải được cập nhật một cách tự động. Các quan hệ đó có thể là
quan hệ trình tự (học xong học phần A thì đến học phần B), quan hệ phụ thuộc (phải học
kiến thức A thì mới hiểu được kiến thức B) và quan hệ điều kiện.
2.2.3. Mẫu hình học viên (Student model)
Mẫu hình học viên gồm: Thơng tin về chun ngành, độ tuổi, giới tính, tơn giáo …
cùng với các thơng tin u cầu, mục đích học và trình độ của học viên. Bộ xây dựng bài
giảng sẽ tự động dùng thơng tin trong mẫu hình (trên) của học viên để tính tốn và đưa ra
bài giảng/khóa học sao cho phù hợp. Cùng với việc đưa ra các bài giảng cho học viên không
phải chỉ phụ thuộc vào trình độ, nhu cầu của học viên mà nhiều trường hợp cịn phụ thuộc
vào các thơng tin khác như giới tính, tơn giáo, chun ngành,…
2.2.4. Tri thức chun gia phục vụ cho việc xây dựng bài giảng tự động
Thông thường, để xây dựng bài giảng là công việc được thực hiện bởi các tập hợp bộ
môn quản lý môn học hay sự kết hợp giữa bộ môn và giảng viên giảng dạy mơn học đó. Vì
vậy, để xây dựng bài giảng mới phù hợp ngữ cảnh từ những bài giảng đã có một cách tự
động chúng ta phải nghiên cứu mơ hình hệ chun gia thực hiện cơng việc này.
Ý tưởng phát triển hệ chuyên gia xây dựng bài giảng tự động theo cách tiếp cận lập
luận theo kinh nghiệm (Case-based Reasoning – CBR). Tri thức cần thiết cho hệ chuyên
gia này là các bài giảng mẫu theo ngữ cảnh cụ thể (study case) và các luật biến đổi các bài
giảng mẫu này sử dụng cho trường hợp mới.
“Study-case” bao gồm mẫu hình học viên và cấu trúc bài giảng / khóa học tương ứng
với mẫu hình học viên đó. Cấu trúc bài giảng này được thể hiện bằng danh sách các SCO
và các quan hệ giữa các SCO trong bài giảng. Các SCO được chọn lựa là các SCO nằm
trong cơ sở tri thức; quan hệ giữa các SCO là các quan hệ đã có trong cơ sở tri thức (được

173



cập nhật từ các giảng viên và các bài giảng gốc xây dựng theo chuẩn SCORM) và các quan
hệ mới được sinh ra trong quá trình tự động xây dựng bài giảng.
2.2.5. Qui trình tìm mẫu và xây dựng bài học – bài giảng:
Giả sử ta có hai mẫu hình sinh viên (ở mức đơn giản) như sau:
 Mẫu hình sinh viên 1:
Nhu cầu: học môn Công nghệ phần mềm.
Kiến thức đã đạt được: Kiến trúc máy tính, Lập trình java, Hệ điều hành.
 Mẫu hình sinh viên 2:
Nhu cầu: học môn Hệ thống thông tin.
Kiến thức đã đạt được: Kiến trúc máy tính, Lập trình C, Phân tích và thiết kế hệ
thống thông tin.
Cấu trúc bài giảng môn công nghệ phần mềm:

Hình 3: Mơ hình mơn học Cơng nghệ phần mềm

Cấu trúc bài giảng mơn Phân tích thiết kế Hệ thống thơng tin

Hình 4: Mơ hình mơn học phân tích thiết kế HTTT
174


Qua kết quả khảo sát hai mẫu hình sinh viên vừa nêu, ta có thể thấy rằng hai mẫu
hình sinh viên này có một số nét “tương đồng” nhau như:
Tình huống 1:
Môn đăng ký học: Công nghệ phần mềm
Kiến thức đã có: Kiến trúc máy tính, Lập trình java, Hệ điều hành
Khi đó so sánh giữa SCO1 và SCO2 có thể thấy sinh viên này đạt mơn Phân tích thiết
kế hệ thống thông tin theo cấu trúc SCO2 nghĩa là sinh viên có đủ kiến thức về mơ hình
phát triển hệ thống (so sánh với bảng mẫu) và sinh viên này cũng đạt kiến thức Phân tích
và đặc tả yêu cầu (SCO1, SCO2). Từ đó, kiến thức bổ sung của sinh viên chỉ tập trung vào

mục Triển khai xây dựng phần mềm.
Tình huống 2:
Mơn đăng ký học: Phân tích thiết kế kệ thống thơng tin (i)
Kiến thức đã có: Hệ điều hành, Toán rời rạc (ii)
So sánh trong các trường hợp mẫu (i) và (ii), ta so sánh SCO1 và SCO2 tức là sinh
viên đã có đủ kiến thức về mơ hình phát triển và khơng nhất thiết phải học lại phần “vịng
đời phát triển của hệ thống thơng tin”.
Q trình tự động xây dựng bài giảng bao gồm các bước sau:
o Tìm study-case có mẫu hình sinh viên phù hợp với mẫu hình sinh viên hiện tại
(Current Student Model).
o Biến đổi cấu trúc bài giảng trong study-case tìm thấy sao cho phù hợp với mẫu
hình sinh viên đó.
o Với trường hợp study-case tìm thấy có mẫu hình sinh viên khơng “đủ gần” với
mẫu hình sinh viên hiên tại, cấu trúc bài giảng mới (practice course) và mẫu hình
sinh viên đó sẽ được ghi nhận lại thành study-case mới (new study-case). Các
study-case này sẽ được các giảng viên hay người xây dựng bài giảng xem xét và
hiệu chỉnh. Sau đó sẽ được lưu lại trong cơ sở tri thức nếu cần cho việc xây dựng
bài giảng sau này.

175


Current student
model
Study case
Student model
Course structure
Automatic Course Builder
Searching


Adaptatio
Study case
Student model
Practice structure

Practice course (x)
Professor

Hình 5: Xây dựng cấu trúc bài giảng điện tử một cách tự động

Khi cấu trúc bài giảng mới được hình thành, từ các phần tử là dữ lịệu hay asset có
trong các gói bài giảng (đã được cập nhật vào cơ sở tri thức), ta có thể xây dựng các bài
giảng điện tử mới và đóng gói theo chuẩn SCORM để có thể sử dụng cho các hệ thống
LMS khác cũng theo chuẩn SCORM.
Course

a

SCO

b
c

SCO
b

a

SCO
SCO


a1
c
c1

Knowledge Base
c

Hình 6: Cập nhật cơ sở tri thức từ bài giảng

.
176


Cơng việc tích hợp, cập nhật bài giảng vào cơ sở tri thức thực chất là cập nhật danh
sách các SCO và cập nhật đồ thị quan hệ giữa các SCO này trong bài giảng. Đối với SCO
a có trong bài giảng mới, khi cập nhật vào cơ sở tri thức, các quan hệ liên quan đến nó sẽ
gồm cả các quan hệ liên quan đến SCO a1 với a1 là SCO có sẵn trong cơ sở tri thức được
đánh giá là thể hiện cùng một nội dung như SCO a (hoặc hai SCO đó được chấp nhận là
tương đương nhau theo một ngưỡng nào đó) và ngược lại. Qua đó ta có được cơ sở tri thức
mở rộng nhờ tích hợp thêm nội dung của bài giảng mới mà các quan hệ giữa các thành phần
cấu thành nên bài giảng (SCO) vẫn đảm bảo tính quan hệ hợp lý giữa các nội dung bài giảng
có thể xây dựng trong tương lai.
3. KẾT LUẬN
Ý tưởng cơ bản về hệ quản lý đào tạo thông minh và đề xuất một mô hình tri thức
nhằm tiến tới xây dựng các hệ quản lý đào tạo thơng minh. Mơ hình này có thể được xây
dưng nhằm phát triển hệ chuyên gia theo cách tiếp cận CBR (Case- Based Reasoning) làm
tiền đề cho việc xây dựng hệ quản lý đào tạo thơng minh.
Mơ hình tri thức này được phát triển dựa theo chuẩn SCORM do đó có khả năng tái
sử dụng và khả chuyển cao.

Việc định hướng phát triển nghiên cứu và thiết kế chi tiết cơ sở tri thức theo mơ hình
tri thức này nhằm mục đích phát triển hệ chuyên gia phục vụ xây dựng bài giảng điện tử
một cách tự động qua đó tiến tới hồn thiện hơn mơ hình hệ quản lý đào tạo thơng minh
nhằm đơn giản hóa việc đào tạo bằng “sức lực” con người và thay dần bằng tri thức và công
nghệ thông tin trong thời đại mới.
Thông qua mộ số vấn đề vừa nêu, với phạm vi khảo sát tương đối nhỏ và kiến thức
có phần hạn hẹp, thời gian nghiên cứu ngắn nên bài viết chắc hẵn có nhiều thiết xót. Mong
đọc giả cùng trao đổi, đóng góp ý kiến để nhằm bổ làm cho việc nghiên cứu tiến đến xây
dựng mơ hình tri thức trong việc tạo bài giảng điện tử ngày càng hoàn thiện hơn và sớm
được triển khai thực hiện trong việc góp phần tạo bài giảng điện tử tự động sử dụng trong
giảng dạy tại trường.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] />[2] />177


[3] />book_review.pdf
[4] />[5] />
178



×