Tải bản đầy đủ (.pdf) (14 trang)

Các giải pháp nâng cao hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (552.39 KB, 14 trang )

CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG
THƯƠNG MẠI HOÁ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Trần Trọng Hiếu
Khoa Công nghệ Thông tin. Trường Đại học Tài chính – Marketing
Email:

Tóm tắt: Trước sự phát triển và ứng dụng công nghệ 4.0 trong mọi lĩnh vực kinh tế trên thế
giới; các doanh nghiệp cần phát triển công nghệ cho hoạt động kinh doanh-sản xuất. Vì thế, hoạt
động thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học đã và đang là những vấn đề được nhiều nhà
nghiên cứu, cơ quan quản lý trong nước và quốc tế quan tâm. Bài tham luận sẽ trình bày thực trạng
các hoạt động nghiên cứu khoa học tại các trường cao đẳng - đại học hiện nay; từ đó đưa ra những
giải pháp thiết thực nâng cao hoạt động chuyển giao cũng như thương mại hoá các kết quả nghiên
cứu khoa học từ các cơ sở đào tạo.
Từ khóa: Nghiên cứu khoa học, Thương mại hố

1. TỔNG QUAN
Thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học tại các trường cao đẳng-đại học đã
và đang là những vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu, cơ quan quản lý trong nước và quốc
tế quan tâm. Chủ thể trực tiếp của các sản phẩm nghiên cứu khoa học là các sinh viên, các
giảng viên đã và đang hoạt động giảng dạy-học tập trong các chuyên môn ngành nghề tại
các cơ sở đào tạo. Với những lợi thế là hoạt động trong nhóm chun mơn, mơi trường đào
tạo, tư liệu nghiên cứu dồi dào,…; cho nên các sản phẩm nghiên cứu khoa học “đậm nét”
học thuật, cấp độ chuyên môn cao,… Tuy nhiên, phần lớn các sản phẩm nghiên cứu khoa
học tại các trường cao đẳng-đại học chưa được chuyển giao và ứng dụng nhiều trong xã
hội; không được nhiều các doanh nghiệp trong các ngành nghề “săn đón”,…; lý do chính
yếu ở đây là: các sản phẩm nghiên cứu khoa học chưa sát các yêu cầu của doanh nghiệp,
khó triển khai trong qui trình hoạt động sản xuất sẵn có của doanh nghiệp, tính hồi nghi
khả thi của doanh nghiệp đối với các sản phẩm nghiên cứu khoa học,… Đặc biệt, trong bối
cảnh hội nhập toàn cầu, với cạnh tranh kinh tế ngày càng tăng cao, với sự phát triển cơng
nghệ trong thời đại 4.0; do đó, nhu cầu doanh nghiệp về các cơng nghệ mới có chất lượng,
có thể ứng dụng ngay, khơng trì trệ hệ thống,…; và doanh nghiệp đã “điều hướng” cho các


doanh nghiệp “đặt hàng công nghệ” tại các công ty chuyên ngành hoạt động lâu năm, cho
dù giá thành có hơi cao.
78


Theo thống kê của Trung tâm Thông tin và Thống kê Khoa học và Công nghệ - Sở
KH&CN Tp.HCM; trong năm 2021, có 203 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh/thành phố đang
được triển khai thực hiện. Trong đó, 39 nhiệm vụ mới được phê duyệt trong năm 2021, 164
nhiệm vụ chuyển tiếp từ các năm trước. Lĩnh vực được nghiên cứu nhiều nhất là khoa học
kỹ thuật và công nghệ (51,7%), kế đến là khoa học y, dược (18,2%) và khoa học nơng
nghiệp (14,8%). (Sang, 2021)

Hình 1: Thống kê nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ 2021
(Nguồn Trung tâm Thông tin và Thống kê Khoa học và Công nghệ - Sở KH&CN Tp.HCM)

Bài tham luận này sẽ trình bày thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học tại các
trường cao đẳng-đại học, và nêu ra một số những vấn đề cản trở tính thương mại hố các
sản phẩm nghiên cứu khoa học. Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng
cao hoạt động thương mại hoá kết quả nghiên cứu khoa. Bài tham luận gồm các phần chính:
(1) Nghiên cứu khoa học tại các trường cao đẳng-đại học: mà các chủ thể trực tiếp
nghiên cứu khoa học là giảng viên đang giảng dạy và sinh viên đang theo học tại các ngành
nghề đào tạo, đã và đang hoạt động giảng dạy-nghiên cứu và học tập. Về phía nhà trườnggiảng viên khơng ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, về phía sinh viên ln nỗ lực trau dồi
học tập trong ngành nghề đã chọn; nhằm đáp ứng hiệu quả nhu cầu nguồn nhân lực cho xã
hội và doanh nghiệp. Chủ thể nhận các kết quả nghiên cứu khoa học từ các trường đại họccao đẳng là các doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh-sản xuất-dịch vụ tại nhiều ngành
nghề trong xã hội. Doanh nghiệp chính là chủ thể sử dụng nhân lực, thẩm định và đánh giá
79


những sản phẩm nghiên cứu khoa học. Qua công tác chuyển giao cơng nghệ, thương mại
hố sản phẩm nghiên cứu khoa học; cho thấy thực trạng tình hình nghiên cứu khoa học cịn

có nhiều thách thức về: tính nối kết cơng nghệ với qui trình sản xuất, thời gian thực hiện
nghiên cứu-chuyển giao bị trì trệ,… Điều này cho thấy, cần có các giải pháp thiết thực cho
cơng tác chuyển giao cơng nghệ, thương mại hố các sản phẩm nghiên cứu khoa học giữa
các trường đại học-cao đẳng và các doanh nghiệp trong nước cũng như ngoài nước.
(2) Doanh nghiệp và các sản phẩm nghiên cứu khoa học: có mối tương quan ở tầm
mức nhất định trong quá trình phát triển kinh doanh-sản xuất. Về phía doanh nghiệp đã và
đang hoạt động kinh doanh-sản xuất phục vụ xã hội: đã ứng dụng một số công nghệ nhất
định trong ngành nghề, qui trình hoạt động đã ổn định và mong muốn phát triển hơn nữa
và nâng cao hiệu quả kinh doanh-sản xuất, nhằm ứng phó cạnh tranh khốc liệt trong nền
kinh tế thị trường mở tại Việt Nam nói riêng và nền kinh tế tồn cầu nói chung. Chuyển
giao cơng nghệ, thương mại hoá các sản phẩm nghiên cứu khoa học từ các trường đại họccao đẳng đối với các doanh nghiệp có nhiều vướng mắc: tính bảo mật cơng nghệ đang ứng
của công ty cũng như sự bảo mật của các sản phẩm nghiên cứu khoa học đang hợp tác với
các trường đại học-cao đẳng, tính “thời sự” ứng dụng cơng nghệ của sản phẩm nghiên cứu
khoa học bị trì trệ do các thủ tục, năng lực nghiên cứu,… Từ các điều trình bày trên, đã cho
thấy doanh nghiệp muốn có được cơng nghệ chuyển giao từ các sản phẩm nghiên cứu khoa
học đến từ các trường đại học-cao đẳng, cần phải có nhiều phương án giải quyết hơn nữa.
(3) Giải pháp nâng cao hiệu quả thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học: được
đưa ra nhằm giải quyết thực trạng các kết quả nghiên cứu khoa học: còn mang nặng tính lý
thuyết, thời gian nghiên cứu trì trệ bị vuột mất tính hiện thực cơng nghệ thời đại, có khoảng
“chênh” với qui trình kinh doanh-sản xuất,… Vì thế, các giải pháp được khuyến nghị sẽ chỉ
ra những ưu điểm và các kết quả khả dĩ đạt được, cũng như đề xuất các giải pháp bổ trợ
nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thương mại hoá các kết quả nghiên cứu khoa học
2. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG-ĐẠI HỌC
2.1. Nghiên cứu khoa học đối với giảng viên
Trong năm 2020, bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư 20/2020/TT-BGDĐT
quy định về chế độ làm việc của giảng viên cơ sở giáo dục đại học. Theo đó, giảng viên tại
các cơ sở giáo dục đại học thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cụ thể như sau:
(Thưởng, 2020)
80



Giảng viên phải dành ít nhất 1/3 tổng quỹ thời gian làm việc trong năm học (tương
đương 586 giờ hành chính) để làm nhiệm vụ nghiên cứu khoa học;
Việc giao và triển khai thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cho giảng viên phải
phù hợp với điều kiện, tiềm lực khoa học, chiến lược phát triển của cơ sở giáo dục đại học
và phù hợp với năng lực chuyên mơn của giảng viên;
Mỗi năm, giảng viên phải hồn thành nhiệm vụ nghiên cứu khoa học được giao tương
ứng với chức danh hoặc vị trí cơng việc đang đảm nhiệm. Kết quả nghiên cứu khoa học của
giảng viên được đánh giá thông qua các sản phẩm khoa học và công nghệ, các hoạt động
nghiên cứu và chuyển giao công nghệ; tối thiểu tương đương với một đề tài nghiên cứu
khoa học cấp cơ sở được nghiệm thu từ đạt yêu cầu trở lên hoặc một bài báo được công bố
trên tạp chí khoa học có mã số chuẩn quốc tế ISSN hoặc một báo cáo khoa học tại hội thảo
khoa học chun ngành;
Đối với những giảng viên khơng hồn thành nhiệm vụ nghiên cứu khoa học theo quy
định, thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học căn cứ mức độ, hoàn cảnh cụ thể để xem xét khi
đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ trong năm học, xếp loại thi đua và giải quyết các chế
độ, chính sách liên quan; đồng thời, cho phép bù giờ chuẩn giảng dạy sang giờ nghiên cứu
khoa học đối với những giảng viên này.
Từ những qui định trên, người giảng viên ngoài việc tham gia đào tạo qua công tác
giảng dạy, giảng viên còn phải buộc thực hiện nghiên cứu khoa học hàng năm theo qui định
Bộ Giáo dục và Đào tạo. Điều này cho thấy, hoạt động nghiên cứu khoa học và giảng dạy
có mối quan hệ hữu cơ và hỗ trợ chặt chẽ: (1) hoạt động nghiên cứu khoa học tạo cơ sở,
điều kiện, tiền đề giúp cho giảng viên thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy ở trên lớp; (2) q
trình cơng tác giảng dạy của một giảng viên sẽ phản ánh kết quả của hoạt động nghiên cứu
khoa học của giảng viên đó. (HVBC_TT, 2013)
Vì thế hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên-sinh viên, cũng là một trong
những tiêu chí chính để đánh giá chất lượng của nhà trường trong việc nâng cao, đảm bảo
chất lượng của quá trình đào tạo. Tuy nhiên, thực trạng nghiên cứu khoa học tại các trường
đại học-cao đẳng cịn có một số bất cập, bị trì trệ,…có thể do: (1) mơi trường hoạt động
nghiên cứu khoa học chưa tạo động lực nghiên cứu cho giảng viên-sinh viên; (2) các chính

sách quản lí, đầu tư, hỗ trợ cho đội ngũ nghiên cứu khoa học nòng cốt chưa được quan tâm
đúng mức; các chế độ khuyến khích, khen thưởng đối với các đề án nghiên cứu khoa học
81


chưa kịp thời cịn mang tính “ban-cho”; (3) cơng tác bồi dưỡng đội ngũ nhà khoa học để
phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học cịn ít nhiều bất cập; (4) thủ tục đấu thầu, phê
duyệt, lập dự toán và thanh toán các đề tài, dự án nghiên cứu chưa thuận tiện và còn mất
nhiều thời gian nên chưa khai thác tốt tiềm năng, làm giảm cơ hội thương mại hố cơng
nghệ các đề tài nghiên cứu khoa học.
2.2. Nghiên cứu khoa học đối với sinh viên
Theo thông tư 19/2012/TT-BGDĐT, do bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành “Quy
định về hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên trong các cơ sở giáo dục đại học”.
Theo đó, trách nhiệm và quyền của sinh viên tham gia nghiên cứu khoa tại các cơ sở giáo
dục đại học cụ thể như sau: (Quý, 2012)
1. Trách nhiệm của sinh viên
- Thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học và
công nghệ vào thực tiễn theo kế hoạch hoạt động khoa học và công nghệ của trường
đại học.
- Tham gia các hội nghị, hội thảo khoa học và các hoạt động khoa học và công nghệ
khác trong trường đại học.
- Trung thực trong nghiên cứu khoa học, chấp hành nghiêm chỉnh các quy định hiện
hành về hoạt động khoa học và công nghệ.
2. Quyền của sinh viên
- Được tham gia thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên trong một năm
học.
- Được sử dụng các thiết bị sẵn có của trường đại học để tiến hành nghiên cứu khoa
học.
- Công bố kết quả nghiên cứu trên các kỷ yếu, tập san, tạp chí, thơng báo khoa học của
trường đại học và các phương tiện thông tin khác.

- Được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các kết quả nghiên cứu và công bố khoa
học do sinh viên thực hiện theo quy định hiện hành.
- Được ưu tiên xét cấp học bổng; xét các danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng
nếu có thành tích nghiên cứu khoa học xuất sắc.
82


Theo các quy định trên, công tác nghiên cứu khoa học đối với sinh viên tùy theo
năng lực, ngành nghề, khả năng,… cụ thể của sinh viên, đồng thời cũng theo qui định cụ
thể của các cơ sở đào tạo cao đẳng-đại học; thì hoạt động nghiên cứu khoa học của một sinh
viên sẽ: phản ảnh đúng năng lực học tập-nghiên cứu của chính sinh viên đó, phản ánh một
phần lớn công tác giảng dạy của giảng viên cũng như công tác đào tạo của các cơ sở đào
tạo cao đẳng-đại học, vì sinh viên chính là sản phẩm giảng dạy-đào tạo.
Trên thực tế, các nghiên cứu khoa học từ các sinh viên theo học tại các cơ sở đào tạo
đại học-cao đẳng đều có một số thực trạng cịn vướng mắc: (1) hoạt động nghiên cứu khoa
học hiện nay của sinh viên thiếu tính định hướng, thiếu thơng tin tuyên truyền và phổ biến
khuyến khích. Điều này tác động nhiều đến sinh viên, với tâm lý tự ti và cảm thấy nghiên
cứu khoa học là một hoạt động khó khăn-xa vời, không thể thực hiện được. Hệ luỵ là hầu
hết sinh viên đã bỏ dở giữa chừng hoặc làm nghiên cứu khoa học mang tính đối phó, mang
tính phong trào, tranh thủ cộng điểm rèn luyện,... Do đó, cơng tác nghiên cứu khoa học cho
đối tượng sinh viên: cần phải khuyến khích tham gia, có tính gợi mở hoặc định hướng
nghiên cứu khoa học, đến thời điểm thuận lợi thì hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh
viên được quy chuẩn đầu ra, phù hợp với chuyên ngành, trình độ đào tạo của sinh viên. Từ
đó, giúp sinh viên được rèn luyện các kỹ năng làm việc, chuyên môn thực tiễn ngành cho
đến khi ra trường và phù hợp với nhiệm vụ chính trị chức năng của cơ sở đào tạo.
2.3. Hoạt động nghiên cứu khoa học tại các trường cao đẳng-đại học
Hiện nay, tại các trường cao đẳng-đại học, vấn đề nâng cao chất lượng dạy và học là
những yếu tố quan trọng; điều này có sự tác động lớn đến kiểm định chất lượng đào tạo của
cơ sở đào tạo. Để đánh giá khả năng lao động chuyên môn, tư duy lý luận và nhận thức thực
tiễn của giảng viên tại trường cao đẳng-đại học, cần phải xem xét: sự kết hợp tốt giữa hoạt

động nghiên cứu khoa học của giảng viên với hoạt động giảng dạy, sự liên kết học tập và
nghiên cứu thông qua các sản phẩm nghiên cứu khoa học của sinh viên.
Thực trạng về công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên-giảng viên tại các cơ sở
đào tạo, xét thực tế còn nhiều vướng mắc, cụ thể:
 Nghiên cứu khoa học rất cần sự hỗ trợ kinh phí cũng như cần có cơ chế tài chính linh
hoạt, tránh tình trạng cơ chế “xin-cho”, tình trạng chờ thủ tục xác minh-thực
địa,…làm cho đề tài nghiên cứu khoa học mất đi tính thực tiễn-thời sự, cơ hội khả
thi đề tài nghiên cứu khoa học mất dần do có đề tài mới tương tự được nghiệm thu,…
83


 Đề tài nghiên cứu khoa học thiếu con đường đầu ra của sản phẩm; đó là hệ lụy do
thiếu sự gắn kết giữa cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp. Trong quá trình phát triển
của các trường cao đẳng-đại học cịn thiếu hoặc khơng có sự đồng hành cùng với các
doanh nghiệp kinh doanh-sản xuất có chung ngành nghề đào tạo. Xét từ phía các
trường cao đẳng-đại học, nhu cầu và khả năng liên kết với các doanh nghiệp còn
chưa cao do thiếu động lực và thiếu cơ chế gắn kết.
 Ngoài ra, sản phẩm nghiên cứu khoa học của sinh viên-giảng viên còn thiếu về chất
lượng, thiếu tính ứng dụng thực tiễn, khơng bắt kịp tiêu chuẩn cũng như qui trình
sản xuất,… Nguyên do dẫn đến tình trạng này có thể là: năng lực của đội ngũ nghiên
cứu khoa học còn hạn chế; trang thiết bị dành cho cơng tác nghiên cứu khơng có
hoặc cịn thiếu; thiếu thông tin cũng như sự bảo trợ về sản phẩm nghiên cứu khoa
học từ phí doanh nghiệp, thiếu bộ phận chuyên trách gắn kết nghiên cứu khoa học
với doanh nghiệp, …
 Về chế độ đãi ngộ đối với công tác nghiên cứu khoa học tại các cơ sở đào tạo; điều
này phụ thuộc vào tầm nhìn và nhận thức của lãnh đạo, chính sách đề ra danh cho
đội ngũ nghiên cứu khoa học giảng viên-sinh viên. Nếu như chế độ đãi ngộ dành
cho hoạt động nghiên cứu khoa học còn rất hạn chế, sẽ khiến người nghiên cứu
không chuyên tâm vào hoạt động nghiên cứu khoa học.
 Hiện nay, còn nhiều chính sách ưu tiên cho trường cao đẳng-đại học công lập; nên

hầu hết các sản phẩm nghiên cứu khoa học của sinh viên-giảng viên được cơ quan
chủ quản “bao tiêu”, được “gìn giữ” cẩn thận trên các thư viện,…; điều này đã tạo
nên tình trạng các trường cao đẳng-đại học cảm thấy không cần thiết gắn kết với các
doanh nghiệp để nâng tầm cho sản phẩm nghiên cứu khoa học.
 Ngồi ra, thơng tin từ các chính sách khuyến khích chưa được phổ biến đầy đủ, kịp
thời; thiếu cơ quan chuyên môn xúc tiến liên kết trường đại học – doanh nghiệp. Bên
cạnh đó, nhận thức và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cịn yếu kém nên đã ảnh hưởng
không nhỏ đến các kết quả nghiên cứu và hoạt động sáng tạo tại các trường đại học.
 Mô hình, cơ cấu tổ chức và quy mơ đội ngũ nghiên cứu giảng viên-sinh viên còn nhỏ
và thiếu sự phối hợp liên ngành, chưa phát huy được các ưu điểm trong nghiên cứu
khoa học của mơ hình đại học đa ngành của thế giới, kết quả dẫn đến là các trường

84


đại học của Việt Nam rất khó cạnh tranh trong các bảng xếp hạng đại học quốc tế.
(Tuân, 2019)
Bảng 1: Bảng xếp hạng tổng thể chỉ số nghiên cứu của các cơ sở giáo dục đại học
năm 2019

(Nguồn Việt Nam UPM (VietNam University Performance Metrics)

3. DOANH NGHIỆP VÀ SẢN PHẨM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam phát triển khơng những về khía cạnh đa ngành nghề
mà cịn phát triển quy mơ và tầm vực. Các sản phẩm công nghệ từ các đề tài nghiên cứu
khoa học của các trường cao đẳng-đại học đến với các doanh nghiệp cũng có nhiều rào cản:
(Trang, 2021)
85



 Phần lớn các doanh nghiệp tại Việt Nam đang hoạt động với quy mơ vừa và nhỏ, quy
trình sản xuất đơn giản, cịn nặng tính lắp ráp từ nhiều nguồn ngun liệu nhập về, tài
chính cịn hạn chế, nội lực chun ngành cịn hạn chế,… Do đó, các doanh nghiệp ở
tầm mức này khó có điều kiện liên kết với các cơ sở đào tạo, khơng đủ tài chính để tài
trợ cũng như bảo lãnh các sản phẩm nghiên cứu khoa học.
 Ngoài ra, đối với các doanh nghiệp có tầm vực hoạt động rộng, sản xuất-kinh doanh
phát triển trong nước và cả nước ngoài; cũng vẫn chưa quan tâm đúng mức đến cơ chế
đầu tư tài chính cho việc nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ, thẩm định giá
công nghệ,… Các doanh nghiệp không dám đương đầu-đột phá công nghệ mới, chưa
mạnh dạn khai phá ứng dụng mới,…; hiện nay chỉ “nhanh chân” thừa hưởng các cơng
nghệ sẵn có trên thế giới, đặt hàng máy móc cơng nghệ tại các cơng ty chun nước
ngồi để tránh rủi ro và giảm thiểu thời gian để chờ sản xuất.
 Đối với các cơng ty-doanh nghiêp, cịn có một vấn đề “nhạy cảm” là vấn đề bảo mật
kinh doanh, các qui trình cơng nghệ sản xuất phải được giữ kín, tránh các nhân lực bên
ngồi tiếp cận cơng nghệ mà cơng ty đang vận hành,… Vì thế, cịn khá nhiều doanh
nghiệp vẫn chưa thực sự tin tưởng và gắn kết với các cơ sở đào tạo cao đẳng-đại học.
Từ những thực trạng đã trình bày trên, việc triển khai chuyển giao cơng nghệ, cũng như
việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học, từ các cơ sở đào tạo cao đẳng-đại
học sang các doanh nghiệp; sẽ cần nhiều giải pháp đột phá và đồng bộ giữa các trường cao
đẳng-đại học và các doanh nghiệp trong môi trường kinh tế Việt Nam hiện nay
4. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI HOÁ NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC
4.1. Đối với cơ quan quản lý nghiên cứu khoa học của chính phủ
Trước hết, các cơ quan quản lý Khoa học-Công nghệ thuộc chính phủ phải thúc đẩy
cho các kết quả nghiên cứu bằng nhiều cách như mua lại các kết quả nghiên cứu, từ đó đầu
tư triển khai vào thực tế sản xuất và chuyển giao lại cho các doanh nghiệp. Như thế, các cơ
quan quản lý Khoa học-Công nghệ sẽ tạo nên “sân chơi”, một “thị trường” mua bán sáng
kiến, trao đổi công nghệ giữa các cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp.
Về qui trình quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, rất cần đổi mới phương thức
quản lý, xây dựng một hệ thống quản lý Khoa học-Công nghệ dựa trên cơ sở hợp đồng thỏa

86


thuận giữa bên cung cấp và sử dụng sản phẩm nghiên cứu khoa học. Các cơ quan quản lý
Khoa học-Công nghệ đi đầu trong việc kiếm khách hàng (là các doanh nghiêp), cùng khách
hàng lựa chọn mặt hàng, sau đó bắt tay cùng khách hàng nghiên cứu khi đã nhận được tiền
hợp đồng. Như vậy, một khi doanh nghiệp đã tài trợ cho nghiên cứu thì chính doanh nghiệp
đó đã tự nguyện ứng dụng thiết bị, công nghệ mới, và kết hợp với cơ sở đào tạo nghiên cứu
khoa học sẽ cải tiến, hiệu chỉnh,… để tránh những rủi ro.
Về tổ chức chuyển giao, cơ quan quản lý Khoa học-Công nghệ phải hình thành những
tổ chức trung gian chuyên giới thiệu- chuyển giao khoa học-công nghệ từ các nhà nghiên
cứu tới doanh nghiệp. Theo các mơ hình của các nước phát triển, những tổ chức trung gian
là “mắt xích” quan trọng để liên kết giữa cung và cầu về công nghệ, kết nối từ nhà khoa
học tới doanh nghiệp và ngược lại.
Về phía chính phủ cần phải tạo lập những cơ chế, chính sách thiết thực nhằm thúc
đẩy mối liên kết, hợp tác giữa: các nhà khoa học, các cơ quan quản lý, và các doanh nghiệp;
với mục tiêu chính là vì những mục tiêu, quyền lợi của mỗi bên và cho cả sự phát triển
chung của nền Khoa học-Công nghệ của Việt Nam.
4.2. Đối với các cơ sở đào tạo
Các cơ sở đào tạo cần có chính sách ưu tiên phù hợp để khuyến khích các nhà nghiên
cứu; thơng qua một loạt các hành động như: ban hành chính sách đào tạo, bồi dưỡng, trọng
dụng, đãi ngộ, tôn vinh đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học. Trong công tác tuyển dụng thì
đổi mới chuẩn cơng tác tuyển dụng, bố trí, đánh giá và bổ nhiệm cán bộ nghiên cứu khoa
học dựa trên những giá trị đóng góp nổi bật trong nghiên cứu khoa học và cải tiến kỹ thuật.
Có chính sách ưu đãi nhằm thu hút các chun gia, nhà khoa học ở trong và ngoài nước
tham gia hoạt động.
Cần thiết tăng kinh phí dành cho hoạt động nghiên cứu khoa học sao cho hiệu quả,
phân bổ chính xác đối tượng, đúng mục đích. Trên thực kinh phí dành cho nghiên cứu khoa
học ở nước ta so với một số nước trong khu vực hiện nay không phải là quá thấp nhưng
việc phân bổ chưa hợp lý đã ảnh hưởng đến tính hiệu quả và là yếu tố làm cho kinh phí

nghiên cứu khoa học tăng lên
Hoạt động nghiên cứu khoa học cần gắn liền với quá trình phát triển của các trường
cao đẳng-đại học. Cần thiết thay đổi phương thức tổ chức nhiệm vụ nghiên cứu khoa học,
tổ chức theo chương trình nghiên cứu gắn với mục tiêu từng giai đoạn hoạt động và phát
87


triển của trường. Quy hoạch phát triển tiềm lực nghiên cứu khoa học đội ngũ giảng viênsinh viên gắn với các ngành đào tạo, hướng tới nghiên cứu sản phẩm khoa học chất lượng
cao. Bên cạnh đó, đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động nghiên cứu khoa học gắn với doanh
nghiệp; đồng thời dần hướng tới tự chủ hoạt động nghiên cứu khoa học tại cơ cở đào tạo .
4.3. Đối với đội ngũ nghiên cứu khoa học
Trước hết, tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của
nghiên cứu khoa học trong các trường đại học-cao đẳng cho đội ngũ giảng viên cũng như
sinh viên. Vì nghiên cứu khoa học là cả một quá trình lao động cơng phu, nghiêm túc mang
tính tích cực, chủ động, sáng tạo; vì thế cần địi hỏi sinh viên-giảng viên phải tăng cường
giáo dục nâng cao nhận thức, vai trò, tầm quan trọng của hoạt động NCKH.
Đội ngũ nghiên cứu khoa học sinh viên-giảng viên phải luôn chủ động, tích cực tham
gia các hoạt động bồi dưỡng kĩ năng nghiên cứu khoa học. Chủ động độc lập, sáng tạo trong
phát hiện và lựa chọn vấn đề khoa học, mạnh dạn giải quyết những vấn đề khoa học mới và
kiên trì vượt qua những thử thách trong quá trình nghiên cứu khoa học.
Đối với giảng viên, tham gia nhiều hoạt động nghiên cứu khoa học như: tham gia dự
án, viết giáo trình, tài liệu, đề tài khoa học, chuyên đề khoa học, viết báo khoa học, tọa đàm
khoa học, sinh hoạt học thuật, hội thảo khoa học các cấp, báo cáo khoa học, hướng dẫn
khóa luận, luận văn cho sinh viên,… Từ đó, giảng viên sẽ hình thành kinh nghiệm cũng
như tạo nền tảng và nâng cao trình độ lí luận cơ bản nhất về các kiến thức nghiên cứu khoa
học của thời đại.
Đối với sinh viên, cần có sự hợp tác với Đoàn thanh niên của khối khoa-trường; đẩy
mạnh hoạt động trong các câu lạc bộ chuyên môn. Ngoai ra, cần có sự thúc đẩy sự kết nối
giữa các câu lạc bộ trong các trường đại học và cao đẳng trong hoạt động nghiên cứu khoa
học; tạo một diễn đàn chung nhằm hỗ trợ sinh viên nghiên cứu khoa học về cách lựa chọn

đề tài, triển khai và thực hiện nghiên cứu cũng như phát triển hệ thống thông tin tuyên
truyền phổ biến tới các sinh viên. Các cơ sở đào yạo cũng cần thành lập Hội đồng khoa học
dành cho sinh viên; nhằm hỗ trợ sinh viên trong việc phát triển về chất lượng nghiên cứu
khoa học, cũng như tạo môi trường hoạt động nghiên cứu khoa học, làm động lực giúp trao
đổi chuyên môn giữa các sinh viên tại các ngành nghề đang theo học.

88


4.4. Đối với doanh nghiệp
Cần có sự trao đổi thơng tin nghiên cứu khoa học giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo
nhanh chóng-minh bạch. Do thiếu thơng tin về khả năng chế tạo của các đề tài nghiên cứu
khoa học trong nước, doanh nghiệp thiếu sự tin cậy đối với các sản phẩm mang tính “nghiên
cứu”; doanh nghiệp hồi nghi về sản phẩm NCKH chưa được thử nghiệm thực tế; nên phần
lớn các doanh nghiệp chưa mạnh dạn tìm đến những sản phẩm NCKH từ các cơ sở đào tạo;
thay vào đó doanh nghiệp thường chọn phương án nhập khẩu thiết bị, cơng nghệ nước ngồi
với giá cao nhưng có vẻ bảo đảm, ít mạo hiểm và giảm thiểu rủi ro hơn.
Doanh nghiệp cần nhận thức về hoạt động nghiên cứu khoa học cần được gắn liền
với sự đột phá, cải tiến và phát triển đối với hoạt động kinh doanh-sản xuất. Chính vì nhận
thức nắm bắt cơng nghệ mới, dẫn đầu trong các ngành nghề đang hoạt động, doanh nghiệp
có thể dễ dàng phát triển, tăng lợi nhuận-thị phần.
Qua đó, doanh nghiệp sẽ đẩy mạnh hợp tác với các cơ sở đào tạo trong hoạt động
nghiên cứu khoa học, đăng ký bào hộ và sở hữu trí tuệ trong suốt quá trình phát triển của
các đề tài nghiên cứu khoa học, nhanh chóng chuyển giao và ứng dụng các sản phẩm công
nghệ; từ dố thúc đẩy nhanh hoạt động thương mại hoá các kết quả nghiên cứu khoa học tại
các cơ sở đào tạo.
5. KẾT LUẬN
Hoạt động chuyển giao và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu tại trường đại họccao đẳng phải được tạo nên từ mối liên kết chặt chẽ giữa ba chủ thể: cơ quan quản lý khoa
học-công nghệ, các nhà nghiên cứu khoa học và doanh nghiệp; nhằm thúc đẩy và nâng cao
hoạt động thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học tại các cơ sở đào tạo. Hướng

đến mục tiêu: tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học trong đào tạo; giảm thiểu các rủi
ro, nâng cao năng suất, gia tăng giá trị sản phẩm cho doanh nghiệp; tạo mối liên kết bền
vững giáo dục và kinh tế. Từ đó, sẽ rút ngắn khoảng cách giữa cơ sở đào tạo và doanh
nghiệp; tiến tới thúc đẩy hoạt động chuyển giao cơng nghệ, thương mại hóa các kết quả
nghiên cứu, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đoàn, C. (2022). Nhu cầu tuyển dụng lao động năm 2022 tăng cao. TP.HCM: Báo
điện tử Người Lao Động. Retrieved from />89


[2] HVBC_TT. (2013). Nghiên cứu khoa học của giảng viên - yếu tố khoa học góp phần
nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường Đại học hiện nay. Hà Nội: Học viện
Báo chí và Tuyên truyền
[3] kê, T. c. (2022). Thơng cáo Báo chí Tình hình lao động việc làm quý IV năm 2021 và
chỉ số phát triển con gười Việt Nam 2016-2020. Hà Nội: Tổng cục Thống kê.
[4] Nhân, G. T. (2007). Quyết định 43/2007/QĐ-BGDĐT Quy chế đào tạo đại học cao
đẳng hệ chính quy hệ thống tín chỉ. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hà Nội: Bộ Giáo dục
và Đào tạo. Retrieved from ổng Thông tin điện tử Bộ Giáo dục và Đào tạo.
[5] Nhân, N. T. (2007). Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống
tín chỉ. Hà Nội: Bộ Giáo dục và Đào tạo
[6] Quý, T. Q. (2012). Thông tư 19/2012/TT-BGDĐT, Ban hành Quy định về hoạt động
nghiên cứu khoa học. Hà Nội: Bộ Giáo dục và Đào tạo
[7] Quỳnh, N. T. (2021, 10 28). Chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam. Hà Nội: Viện
Chiến lược và Chính sách Tài chính. Retrieved from Cổng Thơng tin Điện tử Bộ Tài
chính.
[8] Sang, D. (2021). Số liệu thống kê ngành KH&CN TP. HCM năm 2021. HCM:
TRUNG TÂM THÔNG TIN VÀ THỐNG KÊ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ SỞ KH&CN TP.HCM
[9] Search, N. (2022). Báo cáo nhu cầu tuyển dụng nhân sự cấp Trung và cao cấp tại thị
trường Việt Nam quý 4/2021 và dự báo nhu cầu tuyển dụng trong quý 1/2022. Hà
Nội: Navigos Group Vietnam Joint Stock Company.

[10] Thưởng, P. N. (2020). Thông tư 20/2020/TT-BGDĐT quy định chế độ làm việc của
giảng viên cơ sở giáo dục đại học. Hà Nội: Bộ Giáo dục và Đào tạo
[11] Trang, V. H. (2021). Thúc đẩy hoạt động chuyển giao ứng dụng các kết quả nghiên
cứu của trường đại học vào doanh nghiệp. Hà Nội: Tạp chí Quản lý Nhà nước
[12] Tuân, N. V. (2019). Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động Nghiên cứu khoa học. Tạp
chí Giáo dục, số 468, 18-22
[13] Wikipedia, B. k. (2020, 08 04). Đào tạo. Retrieved from Bách khoa toàn thư mở
Wikipedia: />[14] Wikipedia, B. k. (2021, 11 16). Nguồn nhân lực. Retrieved from Bách khoa toàn thư
mở Wikipedia:
/>[15] Wikipedia, B. k. (2021, 8 27). Phương pháp đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Retrieved
from Bách khoa toàn thư Wikipedia:
/>3%A0o_t%E1%BA%A1o_theo_h%E1%BB%87_th%E1%BB%91ng_t%C3%ADn_
ch%E1%BB%89#:~:text=Ph%C6%B0%C6%A1ng%20ph%C3%A1p%20%C4%91
90


%C3%A0o%20t%E1%BA%A1o%20theo%20h%E1%BB%87%20th%E1%BB%91
ng%20t%C3%ADn%20ch%E1
[16] Wikipedia, B. k. (2022, 3 25). Doanh nghiệp. Retrieved from Bách khoa toàn thư mở
Wi kipedia: />
91



×