VAI TRÒ GẮN KẾT NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
GIỮA ĐẠI HỌC VÀ DOANH NGHIỆP
Thái Thị Ngọc Lý
Khoa Công nghệ Thông tin, Trường Đại học Tài chính –Marketing
Email:
Tóm tắt: Một trong những điều quan tâm của chính phủ, các trường đại học và cao đẳng là
việc nghiên cứu khoa học trong sinh viên gắn liền với nhu cầu xã hội. Dựa trên việc phân tích ưu
điểm và hạn chế của việc nghiên cứu khoa học sinh viên tại các trường đại học nói chung và trường
đại học Tài chính Marketing nói riêng, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển nghiên
cứu khoa học cho sinh viên mà có sự hỗ trợ từ các doanh nghiệp.
Từ khóa: nghiên cứu khoa học, nghiên cứu khoa học sinh viên, gắn kết đào tạo với doanh
nghiệp
1. MỞ ĐẦU
Với sự phát triển của công nghệ ngày càng mạnh, cuộc cách mạng 4.0 càng ngày càng
phổ biển, điều đó là thách thức lớn đối với các trường đại học. Vai trò chủ chốt của các
trường đại học là cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội. Để có được nguồn
nhân lực chất lượng cao, ngồi việc đào tạo chun mơn có tay nghề giỏi cịn cần có cơng
tác hướng dẫn nghiên cứu khoa học cho sinh viên ở trình độ cao. Điều 39, Khoản 2, Luật
Giáo dục Đại học xác định tầm quan trọng của việc gắn kết doanh nghiệp trong giáo dục
nghề nghiệp, trong những năm qua, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách về
tăng cường hoạt động đào tạo gắn kết với doanh nghiệp.
Theo chủ trương của Đảng, Nhà nước về thúc đẩy doanh nghiệp tham gia hoạt động
trong giáo dục. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (năm 2011) của Đảng đã
xác định: “Đẩy mạnh đào tạo nghề theo nhu cầu phát triển của xã hội; có cơ chế và chính
sách thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp với cơ sở đào tạo”. Nghị quyết
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (năm 2016) của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “…Đẩy
mạnh dạy nghề và gắn kết đào tạo với doanh nghiệp… Tăng cường quản lý nhà nước về
nguồn nhân lực, gắn kết cung-cầu”. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII
(năm 2021) của Đảng đề ra “Thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng mạnh mẽ thành
tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chú
trọng một số ngành, lĩnh vực trọng điểm” [5]. Trong những năm gần đây, sự đồng hành của
doanh nghiệp với các trường đại học đang tăng về qui mô và chất lượng. Trong sự liên kết
67
này, có vấn đề đặt ra làm sao đẩy mạnh được kết quả đào tạo vào hiện thực của các doanh
nghiệp ngay khi sinh viên tốt nghiệp mang lại lợi ích tối đa cho cả doanh nghiệp và sinh
viên. Công tác này cần được thực hiện thông qua việc kết nối giữa doanh nghiệp và trường
đại học, cao đẳng trong nghiên cứu khoa học của sinh viên. Bài tham luận này sẽ trình bày
ý kiến cá nhân của tác giả về lợi ích của sinh viên và doanh nghiệp, thực trạng trong nghiên
cứu khoa học của sinh viên tại các trường đại học, cao đẳng từ đó đưa ra các đề xuất giải
pháp thực hiện việc nghiên cứu khoa học trong sinh viên dưới sự hỗ trợ từ doanh nghiệp.
2. LỢI ÍCH CỦA SINH VIÊN VÀ DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC
Để thực hiện công tác liên kết giữa các bên cần phải biết được lợi ích đạt được cho
mỗi bên là như thế nào.
2.1. Lợi ích của sinh viên trong công tác nghiên cứu khoa học đặt trong bối cảnh liên
kết giữa trường đại học và doanh nghiệp
Hầu hết các trường đại học đang khuyến khích sinh viên tham gia nghiên cứu khoa
học nên sinh viên có được rất nhiều lợi ích từ hoạt động chủ yểu tập hợp thành hai kỹ năng
chính là kỹ năng cứng và kỹ năng mềm.
Kỹ năng thứ nhất, kỹ năng cứng được mô tả như là kỹ năng về kiến thức chuyên môn
và kỹ năng nghiên cứu khoa học. Tham gia công tác nghiên cứu khoa học yêu cầu người
nghiên cứu phải liên tục cập nhật kiến thức và tri thức thông qua việc tìm kiếm và đọc thêm
nhiều tài liệu liên quan cần thiết. Đó là q trình làm cho kiến thức chun mơn của sinh
viên ngày càng hồn thiện và nâng cao. Hành trình nghiên cứu cịn giúp cho sinh viên tìm
ra định hướng nghiên cứu và làm việc của mình trong tương lai rõ ràng hơn.
Kỹ năng thứ hai, kỹ năng mềm được mô tả như là kỹ năng tư duy phản biện, kỹ năng
quản lý thời gian, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng làm việc với các giáo viên hướng dẫn,
kỹ năng đọc tài liệu, trích lọc thông tin, kỹ năng ngoại ngữ, tin học … của sinh viên ngày
càng tăng lên. Điều này vơ cùng có ích cho việc học và làm việc sau này của sinh viên.
Trong tất cả kỹ năng mềm, kỹ năng tư duy phản biện là quan trọng nhất vì rèn cho sinh viên
suy nghĩ vấn đề độc lập ở nhiều khía cạnh từ đó có thể hiểu sự vật, sự việc toàn diện nhất.
Khi gắn kết nghiên cứu khoa học với doanh nghiệp thì sinh viên sẽ có được những
thuận lợi: tiếp cận với kiến thức, kỹ năng cập nhật của ngành, nghề; cơ hội trải nghiệm thực
tế tại nơi làm việc để tự tin và sẵn sàng ở môi trường làm việc sau khi tốt nghiệp; định
68
hướng nghề nghiệp tốt hơn; cơ hội có thu nhập khi thực tập tại doanh nghiệp; cơ hội việc
làm ngay sau khi tốt nghiệp.
Sinh viên có được lợi ích nhiều thì nghiên cứu khoa học của sinh viên cũng mang lại
nhiều điều lợi ích cho trường đại học. Đầu tiên phải nói đến đó là hình ảnh, uy tín của
trường tăng cao sẽ là lợi thế cạnh tranh trong nước và ngồi nước. Tiếp theo đó là lợi nhuận
thu về từ các nghiên cứu khoa học thành công của sinh viên thậm chí có thể sẽ là chuyển
giao cơng nghệ. Và nắm bắt được nhu cầu kỹ năng của doanh nghiêp để xây dựng và thiết
kế nội dung chương trình đào tạo phản ánh yêu cầu thực tiễn của doanh nghiệp.
2.2 Lợi ích của doanh nghiệp trong việc hỗ trợ cho sinh viên trong việc nghiên cứu
khoa học
Hỗ trợ cho công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên cũng tạo điều kiện thuận lợi
cho doanh nghiệp ở nhiều khía cạnh: giảm chi phí liên quan đến tuyển dụng nhân sự, tiếp
cận được với ứng viên tốt khi tuyển dụng và lựa chọn được nhân sự phù hợp với yêu cầu
thực tế của doanh nghiệp; giảm chi phí đào tạo nhân sự của doanh nghiệp, đảm bảo đào tạo
đúng mục tiêu và phù hợp hơn; tiếp cận sự hỗ trợ và tư vấn từ phía các trường đại học (đặc
biệt đối với doanh nghiệp có quy mơ nhỏ); giải quyết được nhu cầu đào tạo nâng cao trình
độ, kỹ năng cho lao động của doanh nghiệp (trong trường hợp các trường đại học cung cấp
khóa đào tạo cho doanh nghiệp); tiết kiệm phần lớn chi phí đầu tư vào cơng tác nghiên cứu
và phát triển (R&D) của doanh nghiệp. giải quyết vấn đề thiếu hụt lao động trình độ cao
hiện tại; tác động tích cực (gián tiếp) đến phát triển kinh doanh, quảng bá thương hiệu của
doanh nghiệp (ví dụ: sinh viên được doanh nghiệp hỗ trợ đào tạo sẽ hiểu biết về sản phẩm
của doanh nghiệp nhờ đó sẽ giới thiệu sản phẩm và quảng bá tốt hơn đến người tiêu dùng).
Là cơ hội để doanh nghiệp phản hồi về chất lượng đào tạo của các trường đại học để các
trường đại học đào tạo sát hơn với thực tiễn yêu cầu của doanh nghiệp; nâng cao vị thế và
hình ảnh của doanh nghiệp; là cơ hội doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội; thực hiện
các quy định liên quan đến trách nhiệm của doanh nghiệp, liên quan đến gắn kết với giáo
dục nghề nghiệp.
Ích lợi của xã hội khi phát triển được sự gắn kết giữa các trường đại học và doanh
nghiệp trong công tác nghiên cứu học của sinh viên là năng suất lao động tăng, góp phần
nâng cao năng lực cạnh tranh; khai thác nguồn nhân lực tốt hơn; chi tiêu cho đào tạo đảm
bảo đúng mục tiêu; phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
69
3. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
3.1. Thực trạng
Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên ở các trường nhìn chung là có sự cố
gắng. Nói chung, sinh viên có tham gia nghiên cứu khoa học và các cuộc thi cấp trường,
cấp thành và cấp quốc gia. Nói riêng, tại trường Đại học Tài chính – Marketing, việc tham
gia các cuộc thi năm 2021 được thống kê như sau:
Bảng 1: Thống kê giải thưởng của sinh viên năm 2021
Cuộc thi/Giải thưởng
Giải khoa học và công nghệ dành cho
Sinh viên của Bộ giáo dục và đào tạo
Giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa
học- Euréka của Thành đồn TPHCM
Tổng số
giải thưởng
Giải
nhất
04
Giải
nhì
Giải
ba
Giải
khuyến
khích
01
02
01
01
01
Giải thưởng Hội thi khoa học sinh viên
toàn quốc Olympic Kinh tế lượng và ứng
02
01
01
06
03
dụng lần thứ VI
Giải thưởng cấp Trường “Tài năng kinh
tế trẻ” lần 10
14
01
04
(Nguồn: [4])
Qua bảng thống kê từ nguồn [4], sinh viên đạt giải thưởng thuộc khoa Marketing,
khoa Thương mại, khoa Kinh tế - Luật, khoa Tài chính – Ngân hàng của trường Đại học
Tài chính – Marketing. Riêng sinh viên khoa Công nghệ thông tin trong năm 2021 chưa có
được giải thưởng. Bên cạnh hoạt động nghiên cứu trong nước, hoạt động nghiên cứu khoa
học của sinh viên mang tính quốc tế là khơng có.
Từ năm 2015 đến năm 2021, nghiên cứu khoa học của sinh viên khoa Cơng nghệ
thơng tin có được 01 đề tài. Số liệu nói lên việc nghiên cứu khoa học của ngành rất hạn chế.
Sinh viên khơng có thích làm nghiên cứu khoa học. Hoặc là, việc triển khai nghiên cứu
khoa học không tạo nên sự thu hút với sinh viên.
70
Trên website của trường đại học Tài chính – Marketing, chuyên mục nghiên cứu khoa
học của sinh viên cũng chưa được đầu tư nội dung chất lượng.
Hình 1: Liên kết Nghiên cứu khoa học trên site ufm.edu.vn
Kết quả của đường liên kết
Hình 2: Sau khi nhấn Liên kết Nghiên cứu khoa học (Hình 1) trên site ufm.edu.vn
Từ những thực trạng đã được trình bày, tác giả nêu ra một số nguyên nhân của việc
nghiên cứu khoa học sinh viên hiện nay. Thứ nhất, kỹ năng nghiên cứu khoa học của sinh
viên chưa vững. Thực hiện một nghiên cứu khoa học thành cơng thì sinh viên phải có được
kỹ năng nghiên cứu khoa vững vàng. Kỹ năng này chưa được dạy chính thức trong q
trình học của sinh viên. Cụ thể, trong chương trình đào tạo, sinh viên khơng có mơn học
nào về phương pháp nghiên cứu khoa học. Thứ hai, đề tài nghiên cứu khoa học chưa thực
sự gắn liền với thực tiễn. Những đề tài nghiên cứu khoa học hiện nay của sinh viên phần
lớn được giảng viên hướng dẫn nêu ra, sinh viên chưa chủ động trong việc lựa chọn đề tài.
Có thể là do sinh viên chưa có nhiều kiến thức xã hội do chưa làm việc thực tế hoặc là có
đề tài nhưng đề tài lớn, khơng thể thực hiện. Vì vậy, sản phẩm sau khi thực hiện nghiên cứu
khoa học chưa có ứng dụng thực tiễn nhiều. Điều này làm cho việc ứng dụng nghiên cứu
71
khoa học kém hiệu quả, không thu hút được nhiều sinh viên. Thứ ba, kiến thức liên ngành
chưa được sự hỗ trợ đúng mức trong quá trình nghiên cứu. Một đề tài nghiên cứu khoa học
ln địi hỏi hai yếu tố đó là chun mơn và nghiệp vụ. Ví dụ, đối với một đề tài của ngành
công nghệ thông tin ngồi việc lập trình cho sản phẩm thì các kiến thức liên quan đến nghiệp
vụ vô cùng quan trọng cho nên để thực hiện được một đề tài sinh viên cũng cần có kiến
thức nghiệp vụ liên quan đến đề tài. Do việc nghiên cứu phải thực hiện trong khoảng thời
gian qui định, việc có được kiến thức nghiệp vụ liên quan đến tài nhanh chóng là hữu ích.
3.2. Giải pháp
Từ 3 nguyên nhân được phân tích ở mục trên, để khắc phục những tồn tại, khó khăn,
thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên tại trường đại học Tài chính –
Marketing, thời gian tới cần quan tâm đến một số giải pháp sau.
(3)
(1)
Sự hỗ trợ kiến
thức liên
ngành
Kỹ năng
nghiên cứu
(2)
Doanh nghiệp hỗ trợ
đề tài nghiên cứu
Giải pháp cho (1), cần có mơn học về nghiên cứu khoa học hoặc sinh viên phải được
giảng viên hướng dẫn về kỹ năng nghiên cứu khoa học [1]. Việc được trang bị các bước
thực hiện nghiên cứu khoa học là cần thiết và sinh viên phải thực sự hiểu rõ cách thực hiện.
Vì đây là nền tảng làm cho một đề tài nghiên cứu khoa học thực hiện đúng qui trình. Cơ
bản thì sinh viên phải thực hiện nghiên cứu khoa học theo các bước:
1. Lựa chọn vấn đề nghiên cứu;
2. Xác định đề tài NCKH;
3. Lập đề cương nghiên cứu sơ bộ;
72
4. Thu thập tài liệu nghiên cứu;
5. Lập đề cương nghiên cứu chi tiết;
6. Triển khai đề tài nghiên cứu;
7. Tổng hợp kết quả nghiên cứu;
8. Kiểm chứng kết quả nghiên cứu;
9. Viết báo cáo tổng hợp đề tài NCKH;
10. Cơng bố kết quả nghiên cứu.
Ngồi ra, sinh viên cần phải hiểu về các loại nghiên cứu đặc biệt là nghiên cứu trong
kinh doanh vì khi liên kết với doanh nghiệp các đề tài doanh nghiệp đề xuất là từ thực tiễn
thì lúc này nghiên cứu của sinh viên là nghiên cứu kinh doanh. Nghiên cứu trong kinh doanh
[1] trình bày các nội dung là:
1. Quan sát để xác định vấn đề quan tâm;
2. Khảo sát, phỏng vấn thu thập dữ liệu;
3. Xác định vấn đề nghiên cứu bằng việc thu hẹp vấn đề ở (1);
4. Viết văn luận trong báo cáo;
5. Suy luận theo khung lý thuyết;
6. Suy luận tổng quát của các giả thuyết;
7. Thiết kế đề tài nghiên cứu;
8. Tập hợp dữ liệu, phân tích và giải thích dữ liệu;
9.
a. Giới thiệu vấn đề nghiên cứu của đề tài được trả lời không?
b. Suy luận theo giải thuyết thì câu hỏi nghiên cứu có được trả lời khơng?
10. Viết báo cáo;
11. Trình bày báo cáo;
12. Doanh nghiệp ra quyết định với đề tài nghiên cứu.
73
Hình 3: Các bước làm nghiên cứu kinh doanh. Nguồn [1]
Việc báo cáo là rất quan trọng nên một đề tài nghiên cứu được báo cáo chỉnh chu là
cả một quá trình làm nghiên cứu nghiêm túc của sinh viên. Như những kinh nghiệm được
rút từ lần đầu tiên viết bài báo của GS Nguyễn Văn Tuấn [6], ông đã bị từ chối rất nhiều
lần và viết rất nhiều bài báo trước khi có một bài báo chính thức được đăng. Do vậy, chuẩn
bị cho sinh viên nền tảng làm nghiên cứu khoa học trong tương lai thì lúc học đại học sinh
viên cần được trang bị những kỹ năng làm nghiên cứu và viết bài báo. Các bài học [6] từ
BS Tuấn rất đáng học hỏi: kỹ năng tự học, đọc nhiều bài báo trên các tạp chí uy tín, trau
dồi ngoại ngữ cho kỹ năng viết báo, cách viết văn luận khoa học, nội dung và thông điệp
bài báo rất quan trọng cần đầu tư thời gian để thuyết phục, hình thức trình bày dữ liệu,
chuẩn bị tinh thần bị từ chối. Từ những kinh nghiệm của ông, trang bị cho sinh viên yếu tố
về tâm lý bị từ chối, hướng dẫn cách sinh viên học được và sẽ phải làm những gì sau khi bị
từ chối để có thể tiếp tục hồn thành bài nghiên cứu của mình.
Giải pháp thực hiện (2), các đề tài nghiên cứu khoa học nên có được sự hỗ trợ từ
doanh nghiệp vì nó gắn liền với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Những doanh nghiệp
lớn đòi hỏi các đề tài có kiến thức chuyên sâu hoặc tiên tiến cho nên nhà trường cũng nên
74
có sự liên kết với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Doanh nghiệp cung cấp đề tài cho sinh viên
nghiên cứu phải có qui trình tuyển dụng nhóm nghiên cứu sinh viên và yêu cầu sinh viên
có đề cương và kế hoạch thực hiện đề tài. Việc làm này tạo ra chất lượng của sản phẩm và
uy tín của đề tài sẽ thu hút những sinh viên có năng lực. Bên cạnh cung cấp đề tài, các
doanh nghiệp xem xét hỗ trợ kinh phí thực hiện đề tài cho sinh viên tạo thêm điều kiện để
sinh viên bớt gánh nặng chi phí khi thực hiện đề tài, sinh viên sẽ tập trung vào làm nghiên
cứu nhiều hơn. Việc hỗ trợ kinh phí này khơng được tính vào phần chuyển giao công nghệ
nếu sinh viên nghiên cứu đề tài thành công. Song song với kinh phí được hỗ trợ từ doanh
nghiệp thì trường và khoa cũng nên có quỹ nghiên cứu cho sinh viên. Quỹ này cung cấp
kinh phí cho sinh viên thực hiện đề tài.
Các bước thực hiện giải pháp (2):
Các bước thực hiện
Stt
1
2
3
Trường và khoa liên kết doanh nghiệp và doanh
nghiệp cung cấp đề tài nghiên cứu.
Khoa phân loại các đề tài nghiên cứu.
Khoa lập và tuyển chọn các nhóm nghiên cứu sinh
viên.
Khoa đề nghị các đề tài phù hợp với từng nhóm
4
sinh viên nghiên cứu.
Hoặc, nhóm sinh viên nghiên cứu lựa chọn đề tài.
5
6
Doanh nghiệp sẽ tuyển chọn nhóm sinh viên
nghiên cứu.
Kết quả
Số lượng đề tài nghiên cứu
Các đề tài nghiên cứu được
phân loại từ dễ đến khó.
Nhóm nghiên cứu sinh viên
được phân loại theo năng
lực chuyên ngành.
Các nhóm sinh viên và đề
tài nghiên cứu. Có thể một
đề tài sẽ có nhiều hơn một
nhóm sinh viên nghiên cứu.
Kết quả tuyển chọn
Lập lại bước 4 cho đến khi nào các nhóm sinh viên
Nhóm nghiên cứu có được
nghiên cứu đều có đề tài phù hợp.
đề tài.
75
Các bước thực hiện
Stt
7
8
Sinh viên đề nghị mức kinh phí được hỗ trợ cho đề
tài
Doanh nghiệp và khoa quyết định mức hỗ trợ.
Kết quả
Kinh phí hỗ trợ được xuất
Kinh phí hỗ trợ thực hiện
Giải pháp (3), một đề tài nghiên cứu thường sẽ liên quan đến nhiều kiến thức không
chỉ chuyên ngành mà còn nghiệp vụ. Sinh viên chưa đi làm, những kiến thức nghiệp vụ có
thể gây nên sự khó khăn cho sinh viên. Nếu tự liên hệ mà khơng có sự dẫn dắt của giảng
viên hoặc doanh nghiệp liên kết thì sinh viên gặp nhiều trở ngại và có thể phải dừng vì
khơng thể liên hệ được. Vậy nên, trường nên có đội ngũ giảng viên liên ngành hỗ trợ cho
các đề tài nghiên cứu của sinh viên. Khi ở giai đoạn trình bày đề tài nghiên cứu khoa học,
ban tổ chức nên hướng dẫn ssinh viên ngoài việc hướng dẫn liên hệ giảng viên chuyên
ngành còn nghiệp vụ liên quan đến lĩnh vực nào thì hướng dẫn sinh viên liên hệ giảng viên
chuyên ngành đó. Nếu đề tài nhỏ trong phạm vi chỉ cần một giảng viên hướng dẫn thì khơng
cần hướng dẫn thêm giảng viên thứ hai.
Ngoài việc hỗ trợ liên ngành của giảng viên, các sinh viên liên ngành cũng có thể kết
hợp với nhau trong một đề tài nghiên cứu dưới sự khảo sát, giới thiệu, kết hợp từ giảng viên
liên ngành để thành lập một nhóm nghiên cứu thành cơng.
Và các đề tài nghiên cứu có thể triển khai một cách mềm dẻo, linh động tạo ra sự hợp
tác và phát triển trong các nhóm nghiên cứu. Khi liên kết với doanh nghiệp, các nhóm
nghiên cứu có thể làm việc tại các doanh nghiệp, hoặc có phịng nghiên cứu dành cho sinh
viên tại các trường đại học tạo cho sinh viên có mơi trường nghiên cứu chuyên nghiệp. Điều
này giúp cho sinh viên thấy việc nghiên cứu của mình được quan tâm đúng mức, yên tâm
có nơi nghiên cứu và có thể là giảm chi phí cho sinh viên.
4. KẾT LUẬN
Nghiên cứu khoa học là sự phát triển của ngành học, của trường và của đất nước. Nếu
nghiên cứu khoa học được quan tâm đúng mức ngay tại các trường đại học, cao đẳng thì sẽ
tạo nên những sản phẩm có giá trị trong tương lai. Không kỳ vọng, tất cả sinh viên đều làm
nghiên cứu khoa học xuất sắc. Nghiên cứu khoa học của sinh viên cũng cần nên được đưa
vào chiến lược phát triển của khoa, của trường đại học, cao đẳng theo lộ trình rõ ràng và
76
chặt chẽ theo từng năm. Vậy nên đặt các chỉ tiêu cụ thể sẽ thúc đẩy được nghiên cứu khoa
học. Ví dụ: 100% sinh viên thì sẽ có 20% sinh viên có đề tài nghiên cứu tốt, 60% sẽ hồn
thành nghiên cứu khoa học, 10% thực hiện đề tài có rủi ro khơng thành cơng. Và, có nên
chăng nghiên cứu khoa học cũng sẽ là một số tín chỉ bắt buộc phải có khi tốt nghiệp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Uma Sekaran và Roger Bougie, “Research Methods for Business A Skill-Building
Approach 7th Edition”, Nxb: John Wiley & Sons, 2016
[2] PGS.,TS. Ngô Thị Thu Hồng và ThS. Phạm Thị Lan Anh, “Tháo gỡ khó khăn trong
nghiên cứu khoa học tại các trường đại học Việt Nam”, 2019. [Trực tuyến]. Địa chỉ:
/>
[Truy
cập
28/04/2022]
[3] Khoa điện tử Đại học Công nghiệp Hà Nội, “Sinh viên và vấn đề nghiên cứu khoa học”,
2019 . [Trực tuyến]. Địa chỉ: [Truy cập 29/04/2022]
[4]. Đại học Tài chính-Marketing, “Hội nghị Tổng kết Nghiên cứu khoa học sinh viên
2021”, 2022. [Trực tuyến]. Địa chỉ: [Truy cập 29/04/2022]
[5]. Báo điện tử chính phủ, “Tồn văn Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII
của Đảng”, 2021. Địa chỉ: [Truy cập 29/04/2022]
[6] GS Nguyễn Văn Tuấn, “Bài báo đầu tiên của tôi từng bị quăng vào thùng rác”, 2018.
[Trực tuyến]. Địa chỉ: [Truy cập 29/04/2022].
77