Tải bản đầy đủ (.pdf) (13 trang)

Các giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo theo hệ thống tín chỉ đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (408.83 KB, 13 trang )

CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG
TÍN CHỈ ĐÁP ỨNG NHU CẦU DOANH NGHIỆP
Trần Trọng Hiếu
Khoa Cơng nghệ Thơng tin. Trường Đại học Tài chính – Marketing
Email:

Tóm tắt: Hiện nay, để nâng cao sức hội nhập và phát triển nhanh-bền vững trong bối cảnh
kinh tế toàn cầu; các doanh nghiệp Việt nam rất cần nguồn nhân lực có chất lượng cao về chun
mơn-kỹ thuật. Bên cạnh đó, các cơ sở đào tạo đã và đang tiến hành đào tạo theo hệ thống tín chỉ
với nhiều ưu điểm nhưng cũng còn những hạn chế. Bài tham luận sẽ phân tích thực trạng đào tạo
tín chỉ hiện nay, nêu ra những và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo theo
hệ thống tín chỉ đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp hiện nay.
Từ khóa: Đào tạo tín chỉ/ Đào tạo theo hệ thống tín chỉ, Nhân lực, Doanh nghiệp.

1. GIỚI THIỆU
Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, với cạnh tranh kinh tế ngày càng tăng cao, đặc biệt
sự phát triển công nghệ trong thời đại 4.0. Do đó, nhu cầu doanh nghiệp về nhân lực có chất
lượng về chun mơn, có kỹ năng thuần thục về ngành nghề; để doanh nghiệp có thể sử
dụng nhân lực ngay sau đã được tuyển dụng.
Vì thế, nguồn nhân lực đủ chất lượng cũng như về số lượng, luôn được xem là một
yếu tố tạo nên sự thành công của mọi tổ chức, quốc gia. Đây là nguồn lực quan trọng nhất,
quyết định năng suất, chất lượng, hiệu quả sử dụng các nguồn lực khác trong hệ thống các
nguồn lực. Việt Nam đang có lợi thế với lực lượng lao động dồi dào và cơ cấu lao động trẻ.
Tuy nhiên, nhân lực còn yếu về chất lượng: thiếu hụt lao động có tay nghề cao, chưa đáp
ứng được nhu cầu của thị trường lao động và hội nhập; khoảng cách giữa giáo dục nghề
nghiệp và nhu cầu của thị trường lao động ngày càng lớn, lao động thiếu năng động và sáng
tạo, tác phong chuyên nghiệp… (Quỳnh, 2021).
Theo quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành “Quy
chế Đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”, và năm 2011 là hạn
cuối cùng để các trường liên quan phải chuyển đổi sang hệ thống đào tạo mới này. (Nhân,
2007). Với những ưu điểm của đào tạo theo hệ thống tín chỉ: lấy người học làm trung tâm,


người học tự quyết định chọn ngành nghề theo yêu cầu của xã hội,… Thế nhưng qua nhiều
11


năm thực hiện thí điểm ở một số trường đại học trên cả nước, thực trạng cho thấy có rất
nhiều thuận lợi lẫn khó khăn của việc thực hiện quy chế này. Đặc biệt là đào tào tín chỉ
chưa thực sự “khớp” với những nhu cầu của doanh nghiệp tại Việt Nam.
Với những khó khăn trong việc phát triển kinh doanh, do dịch bệnh Covid -19 từ cuối
năm 2019 đến cuối 2021 và những hệ lụy tác động đến nhân lực của doanh nghiệp như: thị
trường lao động không ổn định, gia tăng thất nghiệp, gián đoạn việc làm… Tuy nhiên, năm
2022 với sự thích ứng linh hoạt trong phịng chống dịch nên một số ngành, nghề sẽ có nhu
cầu tuyển dụng nhiều lao động. Một số chính sách giải pháp thích ứng, an tồn của Chính
phủ vừa chống dịch, vừa phục hồi phát triển kinh tế đã có tác dụng ổn định thị trường lao
động. Qua những số liệu việc làm quý 4/2021 của một số công ty cung cấp dịch vụ tuyển
dụng nhân sự cho thấy đầu năm 2022, nhiều ngành nghề đang có nhu cầu tuyển dụng lao
động lớn- (Đồn, 2022). Tuy nhiên, cịn đó tình trạng phổ biến việc các cơ sở đào tạo chưa
đáp ứng được nhân lực có chất lượng cao phù hợp với nhu cầu doanh nghiệp.
Bài tham luận này sẽ trình bày thực trạng đào tạo tín chỉ tại một số cơ sở đào tạo, chỉ
ra một số những vướng mắc cơ bản; trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp cốt lõi nhằm nâng
cao hiệu quả đào tạo tín chỉ theo nhu cầu doanh nghiệp. Bài tham luận gồm các phần chính:
- Tổng quan nghiên cứu trình bày: các khái niệm làm rõ các đối tượng nghiên cứu;
nhu cầu doanh nghiệp về nhân lực khi tuyển dụng trong tình hình hiện nay; thực trạng đào
tạo tín chỉ hiện nay nhằm chỉ ra sự cần thiết mối gắn kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp
trong đào tạo tín chỉ.
- Giải pháp nâng cao hiệu quả tín theo nhu cầu doanh nghiệp chỉ ra: giải pháp gắn kết
đào tạo tín chỉ với doanh nghiệp; từ đó nâng cao hiệu quả đào tạo tín chỉ với nhu cầu ngành
nghề; bên cạnh đó trình bày doanh nghiệp phải gắn kết với cơ sở đào tạo; về phía Chính
phủ cần tăng cường chính sách hỗ trợ Doanh nghiệp có gắn kết với nhà trường.
2. Tổng quan nghiên cứu
2.1. Các khái niệm

Đào tạo: là đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức
liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ
năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống
và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định. (Wikipedia, Đào tạo, 2020).
12


Đào tạo tín chỉ (Đào tào theo hệ thống tín chỉ): hiện nay có khoảng hơn 60 định nghĩa
về tín chỉ. Có định nghĩa coi trọng khía cạnh định tính, có định nghĩa coi trọng khía cạnh
định lượng, có định nghĩa nhấn mạnh vào chuẩn đầu ra của sinh viên, có định nghĩa lại nhấn
mạnh vào các mục tiêu của một chương trình học. Một định nghĩa về tín chỉ được các nhà
quản lý và các nhà nghiên cứu giáo dục ở Việt Nam biết đến nhiều nhất là của học giả người
Mỹ gốc Trung Quốc James Quann thuộc Đại học Washington. Tín chỉ học tập là một đại
lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học bình thường để học một mơn học
cụ thể, bao gồm:
-

Thời gian lên lớp.

-

Thời gian ở trong phịng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được
quy định ở thời khóa biểu.

-

Thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị
bài… (Wikipedia B. k., 2021)

Nhân lực/ Nguồn nhân lực: là những người tạo nên lực lượng lao động của một tổ

chức, lĩnh vực kinh doanh hoặc nền kinh tế. " Vốn con người " đôi khi được sử dụng đồng
nghĩa với "nguồn nhân lực", mặc dù vốn con người thường đề cập đến hiệu ứng hẹp hơn
(nghĩa là kiến thức mà các cá nhân thể hiện và tăng trưởng kinh tế). (Wikipedia, Nguồn
nhân lực, 2021).
Doanh nghiệp hay doanh thương là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có
trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục
đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. (Wikipedia, Doanh nghiệp, 2022).
2.2. Nhu cầu doanh nghiệp về nhân lực
Theo Tổng cục thống kê Việt Nam thì tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ
quý IV năm 2021 là 26,1%, không thay đổi so với quý trước và cao hơn 0,3 điểm phần trăm
so với cùng kỳ năm trước. Lao động có việc làm ở khu vực thành thị (có qua đào tạo) là
17,9 triệu người, tăng 890,1 nghìn người so với quý trước và tăng 498,9 nghìn người so với
cùng kỳ năm trước. (kê, 2022)

13


Đồ thị 1: Lực lượng lao động các quý, năm 2020 và 2021 – ĐVT: triệu người

(Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam)
Theo Navigos Search (thuộc Navigos Group Vietnam Joint Stock Company) đã thống
kê và công bố thông tin về nhu cầu tuyển dụng nhân sự trung và cao cấp tại thị trường Việt
Nam thông qua nhu cầu tuyển dụng của các khách hàng đối với Navigos Search trong quý
4/2021 và dự báo xu hướng tuyển dụng trong Quý 1/2022. Trong đó, (1) các doanh nghiệp
ngành Hàng tiêu dùng áp dụng chính sách thưởng để giữ chân hoặc thu hút nhân tài; (2) các
vị trí Cơng nghệ Thơng tin (Information Technology) và Bán hàng (Sales) đang được doanh
nghiệp Tài chính – Ngân hàng tuyển dụng số lượng lớn; (3) ngành Công nghệ thông tin và
Viễn thông (ICT - Information & Communication Technologies) vẫn là ngành sôi động trên
thị trường tuyển dụng; (4) Các thông tin tuyển dụng chung trong mảng sản xuất, lao động
phổ thổng (theo đào tạo trung cấp – nghề) đều được các doanh nghiệp xem xét khi chọn địa

điểm đặt nhà máy. (Search, 2022).

Đồ thị 2: Nhu cầu tuyển dụng theo cơ cấu nghề - 05/2022

(Nguồn: tuyensinhtdc.edu.vn)
14


3. THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈ
Hiện nay, hầu hết các cơ sở đào tạo các ngành nghề ở cấp bậc cao đẳng – đại học đã
chuyển chương trình học theo phương thức đào tạo hệ thống tín chỉ. Hình thức đào tạo theo
tín chỉ tổ chức theo từng học kỳ; một năm học có thể tổ chức đào tạo 2-3 học kỳ, mỗi hạng
mục đào tạo của một môn học nhất định khơng tính theo năm học mà căn cứ vào sự tích
lũy kiến thức của sinh viên. Nếu như sinh viên tích lũy đủ số tín chỉ theo quy định của
ngành học và sẽ nhận được bằng tốt nghiệp đại học hoặc chứng chỉ tốt nghiệp. Một năm
học có 02 hoặc 03 học kỳ chính với tổng số tối thiểu 30 tuần lên lớp. Ngồi các học kỳ
chính, cơ sở đào tạo có thể tổ chức thêm học kỳ phụ. (Nhân N. T., 2007). Điều này cho thấy
đào tạo theo hệ thống tín chỉ có những tính ưu việt: lấy sinh viên làm trung tâm, thời gian
học tập các học phần linh hoạt, người học được linh hoạt về thời gian tốt nghiệp, giảm thiểu
chi phí trong học tập,… Tuy nhiên, đào tạo tín chỉ cũng có một số nhược điểm:
3.1. Đối với sinh viên
Trong qui trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ địi hỏi sinh viên phải có kỹ năng tự học
và tự nghiên cứu; điều này gây khó khăn cho các đối tượng sinh viên mới bước vào mơi
trường đại học; với các thói quen học vẹt, chỉ học theo giáo trình-bài vở của giáo viên được
hình thành từ khi cịn học phổ thơng; khiến sinh viên mất phương hướng.
Đối với người học không chưa có kinh nghiệm học tập, hay khơng siêng năng; thì sẽ
rơi vào tình trạng kiến thức học tập khơng đầy đủ. Chính vì đào tạo học phần theo tín chỉ,
thời gian giảng viên truyền tải kiến thức ngắn, phương pháp giảng dạy chủ yếu gợi mở-dẫn
dắt, người học phải tự nghiên cứu, tự tìm kiến thức bổ trợ,…
Trong mơi trường lớp học theo tín chỉ, sự liên kết-hỗ trợ giữa các sinh viên sẽ khó

hơn. Vì mỗi sinh viên sẽ chọn cho mình những mơn học, thời gian và lớp học phần khác
nhau. Do đó, sự hỗ trợ kiến thức, thơng tin giữa các sinh viên trong lớp học tín chỉ bị cản
trở về thời gian, không gian; khiến cho sinh viên phải nỗ lực nhiều trong việc học tập của
bản thân.
3.2. Đối với giảng viên
Trên thực tế, đội ngũ giảng viên chưa được nghiên cứu và huấn luyện đầy đủ về
phương pháp dạy học tích cực; hoặc giảng viên hiểu một cách cố hữu về phương pháp dạy
học tích cực nên có hiện tượng đi từ thái cực này sang thái cực khác về phương pháp dạy
15


học như: giảng viên đi từ chỗ chỉ thiên về phương pháp đọc – chép hoặc diễn giảng đến chỗ
phủ định sạch trơn cácnphương pháp và thủ thuật đứng lớp truyền thống.
Với mục tiêu giảm số lượng giờ dạy nhưng khơng cắt xén chương trình, đó là phương
châm của những người thiết kế chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ. Điều này gây tình
trạng giảng viên phải tự tìm cách để thích nghi với hệ thống đào tạo tín chỉ mới. Vì thế, một
số giảng viên chọn cách làm dễ nhất là dạy đến hết giờ trên lớp, phần chương trình cịn lại
giao cho sinh viên tự học. Vì thế, việc tinh giản chương trình đào tạo chỉ còn mang ý nghĩa
thuần túy là cắt giảm giờ dạy một cách máy móc. Ngồi ra, trong mơi trường đại học, việc
kiểm soát tự học và tự nghiên cứu của sinh viên cũng chưa có qui định cơng việc cho giảng
viên; vì thế kiểm sốt việc tự học khơng được tiến hành có quy củ và đều đặn, khiến xảy ra
nguy cơ « khốn trắng » việc tự học cho tinh thần tự giác của sinh viên.
Chính vì đào tạo tín chỉ, thời gian giảng dạy cơ đọng, cần nhiều thời gian cho việc
chuẩn bị cho các kiến thức từng buổi giảng,… Vì thế, phần đơng đội ngũ giảng viên tuy có
kiến thức chun mơn có thể là sâu lý thuyết, nhưng khơng có thời gian để thử nghiệm trên
thực tế, chưa có nhiều cơ hội để ứng dụng kiến thức chuyên môn tại cơ sở kinh tế-sản xuất
của các doanh nghiệp.
3.3. Đối với hệ thống quản lý giáo dục
Hiện nay, các chương trình đào tạo hầu hết được tín chỉ hóa, bằng việc chuyển đổi cơ
học từ số lượng đơn vị học trình sang số lượng tín chỉ. Trong khi đó, đội ngũ gỉảng viên

chưa được đào tạo và bồi dưỡng một cách có hệ thống và hiệu quả về triết lý giáo dục và
các phương pháp dạy học mới phù hợp với phương châm giáo dục « lấy người học làm
trung tâm ».
Ngoài ra, phương pháp quản lý giáo dục đối với đào tạo theo hệ thống tín chỉ còn
cứng ngắt qua việc thể hiện đánh đồng tất cả các ngành nghề đào tạo theo một khuôn mẫu
duy nhất; không chú trọng đến đặc thù của từng ngành nghề với số tín chỉ nhất định đồng
đều cho các ngành nghề. Tạo áp lực, khập khiễng khi triển khai cho các ngành nghề đào tạo
cần có thời gian dài, chuyên sâu, thực tế với hoạt động doanh nghiệp.
Cơ chế đào tạo theo hệ thống tín chỉ cho phép việc rút ngắn thời gian học tập cho sinh
viên giỏi ở một số ngành đào tạo như dự tính trên chương trình đào tạo là chỉ trên lý thuyết,
là khơng khả thi. Vì một số ngành chỉ tổ chức các học phần cố định trong các học kỳ, không
được đi thực hành nghề nghiệp vì học phần này phải là sau cùng,…
16


Cơ chế đăng ký làm đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên chỉ áp dụng cho các
sinh viên có thành tích học tập giỏi trở lên. Điều này vơ tình cản trở hoạt động nghiên cứu
khoa học cần được phổ qt đến mọi sinh viên, và vì chính các đề tài nghiên cứu khoa học
sẽ trui rèn tính tự chủ khai phá kiến thức và ứng dụng thực tế của sinh viên. Qua các hoạt
động nghiên cứu khoa học, sinh viên có cơ may tiếp cận-thích nghi dễ dàng với các nhu
cầu của doanh nghiệp sau khi được tuyển dụng.
3.4. Thực trạng mối gắn kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp
Hiện nay, tình trạng mối quan hệ giữa các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp ở nước ta
hiện nay chưa có gắn kết chặt chẽ đang gặp nhiều bất cập. Nguyên nhân chính xuất phát từ
mặt nhận thức chưa đủ, chưa đúng về nhu cầu gắn kết và hợp tác giữa các cơ sở đào tạo và
doanh nghiệp, chưa thực sự thấy cần thiết việc chung tay xây dựng kinh tế-xã hội; thiếu
thông tin và hiểu biết về lợi ích và thế mạnh của nhau. Vì thế có một số thực trạng cần được
làm rõ:
3.4.1. Về phía doanh nghiệp:
Doanh nghiệp chưa được tham gia và đóng góp ý kiến về xây dựng chương trình đào

một cách chi tiết, thường xuyên. Do đó kiến thức của sinh viên nhận được sau khi ra trường
chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà tuyển dụng.
Hiện nay, doanh nghiệp cịn thiếu nhiều sự hỗ trợ từ phía nhà nước, chưa có chính
sách cụ thể để phát triển và duy trì mối gắn kết giữa doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo. Các
chính sách chưa hỗ trợ nhiều quyền lợi cho dn khi gắn kết với các cơ sở đào tạo thông qua
các hoạt động: bảo trợ nghiên cứu khoa học, chuyển giao và ứng dụng sản phẩm nghiên
cứu khoa học, bảo trợ học bổng đào tạo,… Điều này khiến cho doanh nghiệp bị “hụt hẫng”,
thiếu sự công nhận từ chính phủ và dần dẫn đến sự thiếu “mặn mà” với các hoạt động có
gắn kết với các trường.
Ngồi ra, khơng ít các lãnh đạo doanh nghiệp thiếu tầm nhìn, ít có khả năng nhìn xa
trơng rộng về sự kết hợp-hỗ tương giữa hai khối kinh tế và giáo dục. Vì trong bối cảnh hộp
nhập nhanh chóng với thế giới bên ngoài; nên tại Việt Nam, các cơ sở đào tạo và doanh
nghiệp đều “đặt nặng hướng nhìn” ra các nước trên thế giới để trau dồi-học hỏi, mà “quên
đi” sự cần thiết là cùng nhau gắn kết phát triển trong tại đất nước Việt Nam. Vì thế, cả phía
nhà trường lẫn doanh nghiệp đều: thiếu kinh nghiệm trong việc gắn kết hợp tác với nhau,
thiếu thông tin về nhau; dẫn đến thiếu sự tin tưởng giữa nhà trường và doanh nghiệp. Hệ
17


luỵ là mối gắn kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp khơng có hoặc nếu có thì sẽ rất lỏng
lẻo, chắp vá, khơng bền lâu.
3.4.2. Về phía các cơ sở đào tạo:
Nguyên nhân chính về phía nhà trường là cịn thụ động tìm đối tác doanh nghiệp để
gắn kết và song hành cùng phát triển. Vần cón khơng ít các cơ sở đào tạo chưa nhận ra sự
phát triển của nhà trường là có sự đóng góp của các doanh nghiệp đang hoạt động các ngành
kinh doanh-sản xuất trong xã hội.
Các cơ sở đào tạo chưa mạnh dạn tin tưởng chun mơn sư phạm, tính thiếu nhất
qn các qui định giáo dục về chương trình đào tạo, đánh giá doanh nghiệp qua bằng cấp,…
của các doanh nghiệp; nên các trường chưa thể mời thiết kế chương trình đào tạo ngành,
còn ngại mời giảng đối với các doanh nghiệp; cho dù phía doanh nghiệp là những đối tượng

có kinh nghiệm thực tế trong các ngành nghề.
Đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là các lãnh đạo phịng-ban, có thu nhập hơi cao,
nên thời gian làm việc tại cơ quan là chính yếu; vì thế việc bỏ cơng chính để làm một việc
khác bên ngoài phải được đánh đổi với thù lao cao hơn. Vì thế, các cơ sở đào tạo với tài
chính eo hẹp, khơng đủ kinh phí để trả thù lao cao cho các doanh nghiệp trong các quá trình
tham gia: thiết kế chương trình đào tao, giảng dạy, đánh giá kết quả sinh viên,…; nên việc
gắn kết đào tạo với doanh nghiệp là thực sự khó khăn
4. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐÀO TẠO TÍN CHỈ THEO NHU CẦU
DOANH NGHIỆP
4.1. Gắn kết đào tạo tín chỉ với doanh nghiệp
Liên kết hoạt động tuyển sinh, đào tạo: cơ sở đào tạo sẽ dựa trên nhu cầu của doanh
nghiệp đối với các ngành nghề đã và đang đào tạo; thì chỉ tiêu tuyển sinh sẽ dựa trên số
lượng nhu cầu đó. Điều này đảm bảo cho sinh viên sau khi tốt nghiệp sẽ có ngay việc làm
theo đúng ngành nghề đã chọn.
Ngoài ra cơ sở đào tạo sẽ đào tạo tín chỉ các học phần cho sinh viên theo đơn đặt
hàng hoặc theo các nhu cầu tuyển dụng ngành nghề cụ thể do doanh nghiệp đề ra. Khi đó,
các cơ sở đào tạo sẽ cùng doanh nghiệp lên kế hoạch đào tạo dài hạn, xác định mục tiêu sau
tốt nghiệp. Cơ sở đào tạo phải triển khai công tác tuyển sinh song hành việc hướng nghiệp

18


đến thí sinh ngay khi cịn học ở bậc trung học phổ thơng. Ngồi ra, trong q trình đào tạo
ln có sự hợp tác và góp ý hiệu chỉnh từ phía doanh nghiệp.
Để hỗ trợ đào tạo bổ trợ, đào tạo ngắn hạn; các cơ sở đào tạo sẽ đào tạo nguồn nhân
lực do doanh nghiệp gửi đến. Khi đó, doanh nghiệp sẽ chủ động tuyển sinh và tuyển dụng
nhân lực theo nhu cầu số lượng và chuẩn sàn của doanh nghiệp. Theo đó, cơ sở đào tạo dựa
trên số lượng và điều kiện nhất định đã thỏa thuận hợp tác với doanh nghiệp; mà đào tạo
theo yêu cầu đặt ra của DN trên cơ sở chương trình đào tạo đã được thơng qua.
Để phù hợp các hình thức liên kết trên, phương thức đào tạo cũng phải thay đổi phù

hợp nhằm thu hẹp khoảng cách giữa ĐT và DN theo phương thức: (1) Đào tạo chính quidài hạn: trong q trình học, ngồi những giờ học chun mơn trên lớp, SV sẽ được tham
quan, kiến tập, thực hành ngắn hạn theo các học phần; như tiếp xúc với thực tiễn tại doanh
nghiệp như: tham quan thực tế, thực tập giữa khóa, thực tập tốt nghiệp. (2) Đào tạo hồn
thiện/ bổ sung: theo hình thức vừa làm vừa học, để bổ sung kiến thức trong ngắn hạn, hoàn
thiện bằng cấp. Khi đó, người lao động vẫn tiếp tục đi làm vào ban ngày và đi học vào thời
gian nghỉ trong tuần.
4.2. Nâng cao hiệu quả đào tạo tín chỉ với nhu cầu ngành nghề
Các cơ sở đào tạo phải nêu cao mục tiêu đào tạo kiến thức “học phải đi đôi với hành”;
nghĩa là lý thuyết phải gắn với thực tiễn. Các trường đào tạo cần phải mạnh dạn phân bổ và
tổ chức chương trình học sao cho phù hợp nhu cầu tính thực tiễn ngành nghề; có thể với tỷ
lệ 50% và 50% giữa thời gian học lý thuyết và thời gian thực hành.
Nâng cao các kiến thưc bổ trợ, đào tạo trình độ ngoại ngữ và tin học vững cho sinh
viên, để sv có đủ trình độ phục vụ cơng việc địi hỏi chun mơn ngày càng cao. Sinh viên
cần phải được đào tạo kỹ năng giao tiếp, thuyết trình, một số kỹ năng mềm như làm việc
nhóm, xử lý tình huống,…, Ngồi ra, sinh viên cũng được cần trau dồi các bài học: đạo đức
nghề nghiệp, lòng yêu nghề, chấp nhận khó khăn, gian khổ và sẵn sàng đối mặt và đón nhận
những thử thách, khó khăn mới. Vì các điều này rất cần cho sinh viên sau tốt nghiệp sẽ là
người lao động trong doanh nghiệp. (Luận, 2015)
Gắn kết việc điều hành nhân sự và tham gia quá trình đào tạo bằng cách ưu tiên tuyển
dụng những giảng viên có kinh nghiệm làm việc trong các doanh nghiệp, xây dựng tiêu
chuẩn đứng lớp đối với giảng viên như căn cứ vào trình độ chun mơn, chun ngành,
19


kinh nghiệm thực tế… Các học phần mang tính chuyên sâu ngành thì nhà trường phải có
sự phân cơng và lựa chọn giảng viên cho phù hợp.
Các cơ sở đào tạo cần đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu khoa học và thương mại hóa các
kết quả nghiên cứu. Đây là chính là hình thức gắn kết hợp tác cao nhất giữa nhà trường và
doanh nghiệp.
Về phía các cấp quản lý thuộc cơ sở đào tạo cần tăng cường chặt chẽ hơn nữa về mối

quan hệ giữa cựu sinh viên thành đạt-đã là doanh nhân với nhà trường. Tranh thủ mối liên
hệ thuận lợi này, nhà trường phải tạo cơ chế gắn kết bền vững để những cựu sinh viên đang
làm việc tại DN hoặc đã là doanh nghiệp; sẽ liên hệ thường xuyên với nhà trường. Cơ sở
đào tạo có thể tổ chức những buổi hội thảo trao đổi kinh nghiệm giữa lý thuyết với thực
tiễn. Đây là cầu nối vững chắc giữa nhà trường và doanh nghiệp, rất hiệu quả, rất thiết thực.
Qua sự liên kết này, nhà trường sẽ cải tiến chương trình đào tạo theo từng thời điểm sao
cho phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp.
4.3. Doanh nghiệp gắn kết với cơ sở đào tạo
Về phía doanh nghiệp, cần có những kế hoạch cụ thể, thiết thực và lâu dài trong việc
phát triển nguồn nhân lực cho chính các hoạt động kinh doanh-sản xuất của mình. Với nhiều
cách thức khác nhau: có thể là cử người đi học tại các trường, trung tâm, đi tu nghiệp nước
ngồi, mời hoặc tuyển dụng người có trình độ chun mơn tay nghề cao,…nhưng có một
cách hữu hiệu nhất là việc gắn kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp với nhà trường trong việc
đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực tại Việt Nam. Khi đó, Doanh nghiệp cùng tham gia đào
tạo bằng cách góp ý kiến về xây dựng, đánh giá và cải tiến chương trình đào tạo thơng qua
việc cung cấp thơng tin, phản biện nội dung chương trình.
Về phía cơ sở đào tạo cần mạnh dạn chỉnh sửa các chương trình đào tạo sao cho phù
hợp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, “khớp” với quy trình hoạt động kinh doanh cũng
như sản xuất.
Doanh nghiệp cần có nhận thức sâu sắc về phía các cơ sở đào tạo, là nơi cung cấp
nguồn nhân lực, là nơi có tiềm năng khoa học cơng nghệ mang tính đột phá, là đối tác
“chiến lược” song hành cùng phát triển,…. Vì thế, Doanh nghiệp cần mạnh dạn hỗ trợ tài
chính cũng như cơ sở vật chất bằng các hình thức như: hỗ trợ học bổng cho sinh viên, ký
kết các hợp đồng tư vấn, nghiên cứu khoa học. Mặt khác, Doanh nghiệp cũng có thể hỗ trợ
20


tài chính cho nhà trường bằng việc thành lập các cơng ty, khu cơng nghệ, khu thực hành,
giảng đường, phịng thí nghiệm trang thiết bị cho giảng dạy và học tập.
Doanh nghiệp có thể cử các chuyên viên, chuyên gia, kỹ sư, công nhân lành nghề

tham gia trực tiếp giảng dạy hoặc hướng dẫn thực hành tại nhà trường hoặc tại các xưởng
sản xuất tại doanh nghiệp.
Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng cần có thiện chí và tạo điều kiện tiếp nhận các giảng
viên, cán bộ quản lý đến doanh nghiệp để học tập, học hỏi kinh nghiệm hoặc trao đổi những
vướng mắc giữa chương trình đào tạo và yêu cầu của thực tế.
4.4. Chính phủ tăng cường chính sách hỗ trợ Doanh nghiệp gắn kết nhà trường
Chính phủ có chính sách đổi mới và tăng cường cơng tác quản lý của nhà nước trong
việc xây dựng mối gắn kết bền vững giữa nhà trường và Doanh nghiệp. Có chính sách ưu
đãi, giảm thuế đối với các sản phẩm chuyển giao cơng nghệ giữa nhà trường và doanh
nghiệp. Chính phủ cần hỗ trợ các doanh nghiệp có qui định, có chính sách bảo trợ nhà
trường lâu dài.
Ngoải ra, Doanh nghiệp cần tranh thủ các cơ chế, quy định của chính phủ đối với các
doanh nghiệp có gắn kết, có bảo trợ các cơ sở đào tạo. Doanh nghiệp tạo các mối liên hệ
đến chính quyền cơ sở, để có thể thêm hỗ trợ các chính sách ưu đãi khi có gắn kết với các
cơ sở giáo dục trên địa bàn.
Các cơ quan quản lý giáo dục, quản lý nguồn nhân lực cần tạo ra các trung tâm dự
báo nhu cầu đào tạo nhân lực có sự phối hợp với các ngành ở địa phương và có sự tham gia
của các cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp để đảm bảo phát triển bền vững công tác đào tạo
với sử dụng nguồn nhân lực.
5. KẾT LUẬN
Trong nền kinh tế thị trường mở, phát triển nhanh với công nghệ 4.0, mức độ hội
nhập sâu rộng trong khu vực cũng như trên thế giới. Không chỉ các doanh nghiệp rất cần
phát triển bền vững kinh doanh-sản xuất, mà cịn có cả các cơ sở đào tạo cũng phải cần phát
triển và mở rộng hoạt động-uy tín. Do đó, mối quan hệ gắn kết giữa nhà trường và doanh
nghiệp trong sẽ góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo theo hệ thống tín chỉ và đáp ứng nhu
cầu thực tế của doanh nghiệp. Điều đó, xuất phát từ yêu cầu khách quan của quy luật kinh
tế, quy luật cung cầu, đảm bảo hài hịa lợi ích từ ba chủ thể: Doanh nghiệp, Nhà trường và
21



Chính phủ; mục tiêu quan trọng cần hướng đến là: đảm bảo và nâng cao chất lượng sản
phẩm đào tạo của cơ sở đào tạo, đồng thời là nguồn nhân lực chất lượng đầu vào của Doanh
nghiệp; Cung là nahưm đích đến là phát triển Kinh tế - Xã hội đất nước Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] KPMG Report (02/2021), “Pulse of Fintech, H2’20”
[2] Đoàn, C. (2022). Nhu cầu tuyển dụng lao động năm 2022 tăng cao. TP.HCM: Báo
điện tử Người Lao Động.
[3] Luận, N. Đ. (2015). Sự gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nguồn
nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị.
Phát triển và Hội nhập, 82-87. [4]
[5] Nhân, G. T. (2007). Quyết định 43/2007/QĐ-BGDĐT Quy chế đào tạo đại học cao
đẳng hệ chính quy hệ thống tín chỉ. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hà Nội: Bộ Giáo dục và
Đào tạo. Retrieved from ổng Thông tin điện tử Bộ Giáo dục và Đào tạo
[6] Nhân, N. T. (2007). Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống
tín chỉ. Hà Nội: Bộ Giáo dục và Đào tạo.
[7] Quỳnh, N. T. (2021, 10 28). Chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam. Hà Nội: Viện
Chiến lược và Chính sách Tài chính. Retrieved from Cổng Thơng tin Điện tử Bộ Tài
chính.
[8] Wikipedia, B. k. (2021, 11 16). Nguồn nhân lực. Retrieved from Bách khoa toàn thư
mở Wikipedia:
/>[9] Search, N. (2022). Báo cáo nhu cầJLu tuyển dụng nhân sự cấp Trung và cao cấp tại
thị trường Việt Nam quý 4/2021 và dự báo nhu cầu tuyển dụng trong quý 1/2022. Hà
Nội: Navigos Group Vietnam Joint Stock Company
[10] Wikipedia, B. k. (2020, 08 04). Đào tạo. Retrieved from Bách khoa toàn thư mở
Wikipedia: />[11] Wikipedia, B. k. (2021, 8 27). Phương pháp đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Retrieved
from Bách khoa toàn thư Wikipedia:
/>%A0o_t%E1%BA%A1o_theo_h%E1%BB%87_th%E1%BB%91ng_t%C3%ADn_c
h%E1%BB%89#:~:text=Ph%C6%B0%C6%A1ng%20ph%C3%A1p%20%C4%91%
22



C3%A0o%20t%E1%BA%A1o%20theo%20h%E1%BB%87%20th%E1%BB%91ng
%20t%C3%ADn%20ch%E1
[12] Wikipedia, B. k. (2022, 3 25). Doanh nghiệp. Retrieved from Bách khoa toàn thư mở
Wikipedia: />
23



×