Tải bản đầy đủ (.docx) (9 trang)

Tăng năng lực làm việc nhóm cho học sinh trung học thông qua học tập hợp tác làm việc nhóm

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (112.95 KB, 9 trang )

TĂNG NĂNG LỰC LÀM VIỆC NHÓM CHO HỌC SINH TRUNG HỌC
THƠNG QUA HỌC TẬP HỢP TÁC LÀM VIỆC NHĨM
Gần đây, các nhà lãnh đạo của thế giới kinh doanh và cơng nghiệp thường u cầu
những người lao động có khả năng làm việc cộng tác để làm cho doanh nghiệp của
họ thành công. Thật không may, các nghiên cứu khác nhau cho thấy rằng hầu hết
học sinh trung học không có khả năng hợp tác làm việc theo nhóm vững chắc. Vì
vậy, các trường phổ thơng phải phát triển năng lực làm việc nhóm của học sinh
trong q trình học tập. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát hiệu quả
của mơ hình học tập hợp tác theo nhóm nhằm nâng cao năng lực làm việc nhóm
của học sinh trung học phổ thơng. Đó là một nghiên cứu thử nghiệm với thiết kế
tiền kiểm-hậu kiểm một nhóm. Thí nghiệm được thực hiện ở ba trường trung
học. Họ là SMA Negeri 1 Pontianak, SMA Negeri 1 Mempawah và SMA Negeri 5
Singkawang. Có 4 khía cạnh cần phát triển năng lực làm việc nhóm của học
sinh. Những khía cạnh này là chia sẻ, hợp tác, quan tâm đến quyền lợi và phúc lợi
của người khác, và quan tâm đến người khác. Kết quả nghiên cứu cho thấy mơ
hình học tập hợp tác theo nhóm có tác dụng nâng cao năng lực làm việc nhóm của
học sinh ở ba trường THPT. Tất cả các khía cạnh điều tra đã được cải thiện. Họ
được phân loại là "cao", ngoại trừ khía cạnh 'quan tâm đến quyền và phúc lợi của
người khác'. Nó được phân loại là "trung bình". ngoại trừ khía cạnh 'quan tâm đến
quyền lợi và phúc lợi của người khác'. Nó được phân loại là "trung bình". ngoại trừ
khía cạnh 'quan tâm đến quyền lợi và phúc lợi của người khác'. Nó được phân loại
là "trung bình".
1. Giới thiệu
Tốc độ phát triển cơng nghệ, sự leo thang cạnh tranh tồn cầu và nhiều hình thức
thay đổi diễn ra quá nhanh đã dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ trong các lĩnh vực
kinh tế và công nghiệp ở các quốc gia phát triển và đang phát triển khác
nhau. Ngày nay, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp và ngành công nghiệp chủ yếu yêu
cầu những người lao động có thể hợp tác làm việc để đạt được thành công trong
lĩnh vực kinh doanh của họ1 . Thật không may, nhiều nghiên cứu cho thấy rằng
nhìn chung học sinh trung học khơng có khả năng làm việc hợp tác trong tinh thần
đồng đội vững chắc.2 . Hơn nữa, tuyên bố rằng năng lực đầu vào của người lao


động ngày nay nói chung là năng lực tư duy phản biện thấp và khả năng làm việc
hợp tác kém trong làm việc theo nhóm 3 . Về nguyên nhân này, năng lực hợp tác
làm việc phải được phát triển trong quá trình học tập ở trường phổ thông.


Thật khó để trả lời những câu hỏi như 'Chiến lược học tập nào có lợi để tạo điều
kiện cho học sinh phổ thông phát triển năng lực hợp tác làm việc theo nhóm?' và
'Những bước nào của q trình học tập nên được thực hiện để học sinh trung học
quen với việc phát triển năng lực hợp tác làm việc theo nhóm?' Khó khăn này có
thể do q trình học tập ở các trường phổ thông. Các sinh viên vẫn được giới thiệu
về khái niệm thành công liên quan nhiều đến cạnh tranh hơn là hợp tác. Thành
công vẫn được định nghĩa là kết quả của sự độc lập hơn là sự phụ thuộc lẫn nhau.
Khái niệm này đã bị bỏ rơi ở các nước phát triển. Trong cuốn sách đạt giải
bestseller của ơng có tựa đề “7 thói quen của người thành đạt” trước đó đã giới
thiệu rằng chính sự phụ thuộc lẫn nhau được coi là cao nhất trong mơ hình quản lý
hiện đại và cuộc sống hiện đại.4 . Nếu chúng được sắp xếp theo thứ tự, sự phụ
thuộc là thấp nhất, độc lập ở giữa và phụ thuộc lẫn nhau là cao nhất.
Sự chuyển dịch quan niệm như vậy là rất dễ hiểu bởi các lĩnh vực khoa học ngày
càng chuyển sang chun mơn hóa cao nên để sản xuất ra một sản phẩm, quản lý
sản xuất phải có khả năng phối hợp hài hịa giữa các lĩnh vực khoa học chun
ngành hiện có. Vì vậy, đó là một nhu cầu mà mọi người làm việc cộng tác.
Quá trình học tập nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác hơn là cạnh tranh hoặc
phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn là độc lập cũng được thể hiện bởi Flynn 5 và Graham
và Graham6 . Nếu phát triển tính cạnh tranh trong q trình học tập, sẽ có xu hướng
học sinh phổ thơng bị hướng suy nghĩ, tình cảm làm quen với việc khơng miễn
cưỡng tấn cơng người khác. Trên thực tế, mặt khác, sự phát triển của sự hợp tác và
phụ thuộc lẫn nhau có thể phát triển khả năng đương đầu với những thách thức,
khả năng lãnh đạo và quản lý được yêu cầu cao khi bước vào thế giới việc làm5 ,6 .
Hiệu quả của mơ hình làm việc nhóm cộng tác này đã được chứng minh bởi
Federal Express và Boeing Airlines khi tái cấu trúc tổ chức công ty của họ - điều

chưa từng được đề cập đến trong quá trình tái cấu trúc công ty 3 ,7 . Sau khi áp dụng
khái niệm hợp tác, Federal Express có thể tăng 40% năng suất của công ty. Tương
tự như vậy, khi sản lượng máy bay phản lực 777 giảm, áp dụng mơ hình hợp tác
này, Boeing có thể tăng sản lượng lên tới 50%1 .
Thơng qua mơ hình học tập hợp tác theo nhóm, giáo viên ít nhất có thể giúp học
sinh trung học (a) học cách làm việc nhóm thành cơng và (b) phát triển các kỹ năng
và nâng cao chất lượng làm việc nhóm cần thiết cho các kỹ năng hợp tác khi các
em sau này bước vào thế giới việc làm8 ,9 .


Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm xem xét sâu hơn về đặc điểm năng
lực làm việc nhóm của học sinh THPT và hiệu quả của việc học tập hợp tác theo
nhóm nhằm nâng cao năng lực làm việc nhóm của học sinh THPT. Kết quả có thể
được sử dụng bởi các giáo viên trong việc điều hành quá trình học tập trở thành
trách nhiệm của họ. Vì vậy, các sinh viên sẽ có năng lực làm việc nhóm tốt, điều
rất cần thiết khi họ bước vào thế giới việc làm và đại học.
2. Phương pháp
Các biến số của nghiên cứu này là (1) học tập hợp tác theo nhóm như một biến độc
lập, và (2) năng lực làm việc nhóm của sinh viên như là biến phụ thuộc, bao gồm
bốn khía cạnh, đó là chia sẻ, hợp tác, quan tâm đến quyền và phúc lợi. của người
khác và quan tâm đến người khác. Nghiên cứu này là một thiết kế gần như thử
nghiệm với thiết kế kiểm tra trước-sau kiểm tra một nhóm. Các quy trình thí
nghiệm bao gồm (1) phát triển sự hiểu biết của học sinh về tầm quan trọng của tinh
thần đồng đội; (2) thành lập đội; (3) giúp nhóm tập trung vào nhiệm vụ chính của
mình; (4) phân phát bài tập cho học sinh một cách khôn ngoan; (5) phát triển trách
nhiệm của học sinh; (6) cải thiện kỹ năng viết của học sinh; và (7) cung cấp cho
sinh viên sự trợ giúp ban đầu và đưa ra phản hồi;
Mỗi nhóm thực nghiệm ở mỗi trường gồm 35 học sinh. Do thí nghiệm được thực
hiện ở 3 trường nên tổng số đối tượng nghiên cứu là 105 học sinh. Dữ liệu được
thu thập bằng cách sử dụng Kho lưu trữ làm việc theo nhóm hợp tác do Asrori phát

triển10 . Bản kiểm kê này đã được dùng thử và kiểm tra tính hợp lệ và độ tin cậy
bằng kỹ thuật Cronbach Alpha và nó thu được kết quả là 0,853, nghĩa là nó đủ điều
kiện để sử dụng trong nghiên cứu.
Dữ liệu hồ sơ năng lực làm việc nhóm của sinh viên được phân tích bằng phân tích
so sánh giữa điểm thực tế và điểm tối đa lý tưởng dựa trên đường cong thông
thường11 . Để xác định hiệu quả của phương pháp học tập hợp tác theo nhóm đối
với việc nâng cao năng lực làm việc nhóm của sinh viên, dữ liệu được phân tích
bằng kiểm định t đối với các mẫu được ghép đôi. 11 ; đồng thời để xác định sự khác
biệt về hiệu quả của việc học tập hợp tác theo nhóm nhằm nâng cao năng lực làm
việc nhóm của học sinh liên trường, dữ liệu được phân tích bằng phương pháp
phân tích phương sai.11 .
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Hồ sơ năng lực làm việc nhóm ban đầu của học sinh THPT


Dựa trên phân tích tỷ lệ phần trăm, cụ thể là bằng cách chia điểm thực tế mà tất cả
học sinh đạt được với điểm tối đa lý tưởng, kết quả được thể hiện trong Bảng 1 .


Bảng 1. Hồ sơ năng lực làm việc nhóm ban đầu của học sinh trung học
phổ thơng

Qua bảng 1 có thể thấy , nhìn chung, năng lực làm việc nhóm ban đầu của học sinh
THPT vẫn được xếp vào loại “thấp”. Nếu xem xét chi tiết hơn, có thể thấy rằng hầu
hết các khía cạnh, tức là khía cạnh chia sẻ, quan tâm đến quyền và phúc lợi của
người khác, quan tâm đến người khác đều được xếp vào loại 'thấp'. Khía cạnh duy
nhất được phân loại là 'vừa phải' là sự hợp tác.
Kết quả của nghiên cứu này chỉ ra rằng học sinh trung học cần có sự can thiệp
nghiêm túc để giúp các em phát triển năng lực làm việc nhóm. Điều này rất quan
trọng vì năng lực làm việc nhóm được yêu cầu cao bởi thế giới công việc và ngành

công nghiệp khi sinh viên đã đi làm. Nếu không được xử lý nghiêm túc, một trong
số đó là thơng qua sự can thiệp của mơ hình học tập hợp tác, nó sẽ có xu hướng tạo
ra những sinh viên tốt nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn trong tương lai.
3.2. Chênh lệch trung bình về năng lực làm việc nhóm ban đầu của học sinh
giữa các trường trung học phổ thơng
Sự khác biệt trung bình về năng lực làm việc nhóm ban đầu của học sinh giữa các
trường trung học phổ thơng được phân tích bằng phân tích phương sai như
trong Bảng 2 .


Bảng 2. Chênh lệch trung bình về năng lực làm việc nhóm ban đầu của
học sinh giữa các trường trung học phổ thông


Như thể hiện ở bảng 2 , kết quả phân tích phương sai nếu nhìn từ sự khác biệt giữa
các trường cho thấy năng lực làm việc nhóm ban đầu của học sinh THPT khơng có
sự khác biệt đáng kể. Nghĩa là năng lực làm việc nhóm ban đầu của học sinh các
trường đều được xếp vào loại “thấp”. Cụ thể hơn, phân tích phương sai cũng được
thực hiện trên từng khía cạnh được đề cập trong năng lực làm việc nhóm ban đầu
của học sinh trung học phổ thơng. Kết quả phân tích được thể hiện trong Bảng 3 .


Bảng 3. Sự khác biệt trong từng khía cạnh của năng lực làm việc nhóm
ban đầu của học sinh từ các trường trung học phổ thông

Bảng 3 cho thấy nếu xem xét chi tiết hơn các khía cạnh thì năng lực làm việc nhóm
ban đầu của sinh viên các trường cũng khơng có sự khác biệt đáng kể. Trong bốn
khía cạnh, chỉ có một khía cạnh (cụ thể là quan tâm đến quyền và phúc lợi của
người khác) cho thấy sự khác biệt đáng kể.
Nếu nhìn từ các khía cạnh chia sẻ, hợp tác và quan tâm đến người khác, ba khía

cạnh này khơng cho thấy sự khác biệt đáng kể nào.
3.3. Hiệu quả của mơ hình học tập hợp tác làm việc nhóm nhằm phát triển
năng lực làm việc nhóm của học sinh từ SMA Negeri 1 Pontianak
Hiệu quả của mơ hình học tập hợp tác làm việc nhóm nhằm phát triển năng lực làm
việc nhóm của học sinh SMA Negeri 1 Pontianak được phân tích bằng cách so
sánh điểm thực tế trước và sau kiểm tra với điểm tối đa lý tưởng. Kết quả được thể
hiện trong Bảng 4 .


Bảng 4. Năng lực làm việc nhóm của học viên từ SMA Negeri 1
Pontianak trước và sau khi họ tham gia vào q trình học tập với mơ
hình học tập làm việc nhóm hợp tác


Bảng 4 cho thấy rằng trước khi học sinh được điều trị (kết quả của bài kiểm tra
trước), năng lực làm việc nhóm của học sinh từ SMA Negeri 1 Pontianak được xếp
loại 'thấp'. Nó có thể được nhìn thấy trong tất cả các khía cạnh. Sau khi họ được
điều trị và tiến hành kiểm tra hậu kỳ, tất cả các khía cạnh đều phát triển đến mức
'cao'.
Để kiểm tra tầm quan trọng hiệu quả của việc học bằng cách sử dụng mơ hình 'học
tập hợp tác theo nhóm', kiểm tra t đã được sử dụng cho các mẫu được ghép nối
(kiểm tra t cho các mẫu được ghép nối), cụ thể là dữ liệu kiểm tra trước và sau
kiểm tra. Kết quả phân tích t-test cho thấy giá trị t = -28,77 và p = 0,001. Do đó,
giả thuyết thống kê bị bác bỏ và giả thuyết làm việc được chấp nhận. Điều đó có
nghĩa là việc học theo mơ hình 'học tập hợp tác theo nhóm' rất hiệu quả để phát
triển năng lực làm việc nhóm của các học sinh từ SMA Negeri 1 Pontianak.
3.4. Hiệu quả của mơ hình học tập hợp tác làm việc nhóm nhằm phát triển
năng lực làm việc nhóm của học sinh từ SMA Negeri 1 Mempawah
Hiệu quả của mơ hình học tập hợp tác làm việc nhóm nhằm nâng cao năng lực làm
việc nhóm của học sinh SMA Negeri 1 Mempawah được phân tích bằng cách so

sánh điểm thực tế trước và sau kiểm tra với điểm tối đa lý tưởng. Kết quả được thể
hiện trong Bảng 5 .


Bảng 5. Năng lực làm việc nhóm của học sinh từ SMA Negeri 1
Mempawah trước và sau khi họ tham gia vào quá trình học tập với mơ
hình học tập làm việc nhóm hợp tác


Bảng 5 cho thấy rằng trước khi các sinh viên từ SMA Negeri 1 Mempawah được
điều trị (kết quả của bài kiểm tra trước) khả năng làm việc nhóm của họ được xếp
loại 'thấp'. Nó đã được thể hiện trong tất cả các khía cạnh. Sau khi các sinh viên
được điều trị và bài kiểm tra sau được thực hiện, tất cả các khía cạnh đều phát triển
đến mức "cao". Chỉ có một khía cạnh mà sự phát triển đạt đến loại "trung
bình". Khía cạnh này giải quyết các quyền và phúc lợi của người khác.
Để kiểm tra giả thuyết này, dữ liệu trước thử nghiệm và sau thử nghiệm được phân
tích bằng thử nghiệm t cho các mẫu được ghép nối. Kết quả phân tích t-test cho
thấy giá trị t = -22,75 và p = 0,001. Do đó, giả thuyết thống kê bị bác bỏ và giả
thuyết làm việc được chấp nhận. Điều đó có nghĩa là việc học theo mơ hình 'học
tập hợp tác theo nhóm' cũng có hiệu quả để phát triển năng lực làm việc theo nhóm
của các sinh viên từ SMA Negeri 1 Mempawah. Thật khơng may, nó khơng hiệu
quả như đã được thực hiện trong SMA Negeri 1 Pontianak vì vẫn cịn một khía
cạnh phát triển chỉ đạt loại "trung bình". Nó xử lý các quyền và phúc lợi của người
khác.
3.5. Hiệu quả của mơ hình học tập hợp tác làm việc nhóm nhằm phát triển
năng lực làm việc nhóm của học sinh trường SMA Negeri 5 Singkawang
Để tìm hiểu hiệu quả của mơ hình học tập hợp tác làm việc nhóm nhằm nâng cao
năng lực làm việc nhóm của sinh viên SMA Negeri 5 Singkawang, phân tích được
thực hiện bằng cách so sánh điểm thực tế trước và sau kiểm tra với điểm tối đa lý
tưởng. Kết quả được thể hiện trong Bảng 6 .



Bảng 6. Năng lực làm việc nhóm của học sinh từ SMA Negeri 5
Singkawang trước và sau khi họ tham gia vào q trình học tập với mơ
hình học tập làm việc nhóm hợp tác

Như có thể thấy trong bảng trên, trước khi các học sinh của SMAN 5 Singkawang
được điều trị (kết quả của bài kiểm tra trước), năng lực làm việc nhóm của họ được
xếp vào loại 'thấp'. Nó được thể hiện ở mọi khía cạnh. Sau khi điều trị và thực hiện
bài kiểm tra sau, tất cả các khía cạnh đều phát triển đến mức "cao". Có một khía
cạnh mà sự phát triển đạt đến loại "trung bình". Đó là khía cạnh chia sẻ.


Để kiểm tra giả thuyết này, dữ liệu trước kiểm tra và sau kiểm tra được tính tốn
bằng cách sử dụng t-test cho các mẫu được ghép nối (t-test for Paired sample). Kết
quả kiểm định t cho thấy giá trị của t = -17,28 và p = 0,001. Do đó, giả thuyết
thống kê bị bác bỏ và giả thuyết làm việc được chấp nhận. Điều đó có nghĩa là việc
học theo mơ hình 'học tập hợp tác theo nhóm' cũng có hiệu quả để phát triển năng
lực làm việc nhóm của học sinh ở SMA Negeri 5 Singkawang. Tuy nhiên, nó
khơng hiệu quả như đã làm ở SMA Negeri 1 Pontianak vì vẫn cịn một khía cạnh
mà sự phát triển của nó chỉ đạt đến loại "trung bình". Khía cạnh này là 'chia sẻ'.
3.6. Sự khác biệt về Hiệu quả của Mơ hình Học tập Hợp tác Làm việc Nhóm
nhằm Phát triển Năng lực Làm việc Nhóm của Học viên từ SMA Negeri 1
Pontianak, SMA Negeri 1 Mempawah và SMA Negeri 5 Singkawang
Kiểm tra sự khác biệt trung bình về năng lực làm việc nhóm của sinh viên từ SMA
Negeri 1 Pontianak, SMA Negeri 1 Mempawah và SMA Negeri 5 Singkawang
được tính tốn bằng phân tích phương sai. Kết quả được thể hiện trong Bảng 7 .


Bảng 7. Sự khác biệt về hiệu quả của mơ hình học tập làm việc nhóm

hợp tác nhằm nâng cao năng lực làm việc nhóm cho học sinh từ SMA
Negeri 1 Pontianak, SMA Negeri 1 Mempawah và SMA Negeri 5
Singkawang

Kết quả phân tích phương sai ở bảng 7 cho thấy khơng có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê về hiệu quả áp dụng mơ hình học tập hợp tác nhóm để nâng cao năng lực
làm việc nhóm của học sinh THPT nếu nhìn từ sự khác biệt của các trường. Điều
đó có nghĩa là mơ hình học tập hợp tác theo nhóm được áp dụng ở các trường
THPT được chọn làm địa điểm nghiên cứu đều có hiệu quả phát triển năng lực làm
việc nhóm của học sinh THPT.
Để xem xét một cách chi tiết, một phân tích về sự khác biệt đã được thực hiện đối
với từng khía cạnh trong năng lực làm việc nhóm của học sinh trung học. Kết quả
phân tích được thể hiện trong Bảng 8 .
Qua bảng 8 có thể thấy , nếu xem xét một cách chi tiết, năng lực làm việc nhóm
của sinh viên các trường nghiên cứu khơng có sự khác biệt đáng kể. Về bốn khía
cạnh được nghiên cứu, chỉ có một khía cạnh (tức là khía cạnh quan tâm đến quyền
lợi và phúc lợi của người khác) cho thấy sự khác biệt đáng kể. Khơng có bất kỳ sự


khác biệt đáng kể nào giữa các khía cạnh khác (cụ thể là chia sẻ, hợp tác và quan
tâm đến người khác).


Bảng 8. Sự khác biệt về hiệu quả của mơ hình học tập làm việc nhóm
hợp tác nhằm nâng cao năng lực làm việc nhóm của học sinh từ SMA
Negeri 1 Pontianak, SMA Negeri 1 Pontianak và SMA Negeri 5
Singkawang được xem xét từ mỗi khía cạnh

4. Kết luận
Dựa trên kết quả nghiên cứu và thảo luận, có thể kết luận rằng (1) về tổng thể, mơ

hình học tập hợp tác theo nhóm có hiệu quả để nâng cao năng lực làm việc nhóm
của học sinh từ ba trường trung học phổ thơng. Chỉ có một khía cạnh được cải
thiện lên mức “trung bình”, đó là khía cạnh quan tâm đến quyền và lợi ích của
người khác, các khía cạnh khác được cải thiện lên mức “cao”. (2) Nhìn từ sự khác
biệt giữa các trường, khơng có sự khác biệt đáng kể về hiệu quả của mơ hình học
tập hợp tác theo nhóm nhằm nâng cao năng lực làm việc nhóm của học sinh
THPT. Điều đó có nghĩa là tại các trường được chọn làm địa điểm nghiên cứu này,
mơ hình học tập hợp tác làm việc theo nhóm có hiệu quả như nhau nhằm nâng cao
năng lực làm việc nhóm của học sinh phổ thơng. (3) Nếu xem xét chi tiết, năng lực
làm việc nhóm của sinh viên các trường được chọn làm địa điểm nghiên cứu khơng
có sự khác biệt đáng kể. Trong bốn khía cạnh, chỉ có một khía cạnh (cụ thể là khía
cạnh quan tâm đến quyền lợi và phúc lợi của người khác) là khác biệt đáng
kể. Khơng có bất kỳ sự khác biệt đáng kể nào khác trong các khía cạnh chia sẻ,
hợp tác và quan tâm đến người khác.



×