Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường
đại học của học sinh trung học phổ thông trên
địa bàn tỉnh Phú Yên
Nguyễn Thị Phúc Hậu - Nguyễn Võ Tuyết Trinh
Phân viện Phú Yên, Học viện Ngân hàng
Ngày nhận: 24/08/2022
Ngày nhận bản sửa: 26/10/2022
Ngày duyệt đăng: 26/10/2022
Tóm tắt: Bài nghiên cứu xác định các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của từng
nhân tố đến quyết định chọn trường đại học (ĐH) của học sinh trung học phổ
thông (THPT) trên địa bàn tỉnh Phú Yên. Với dữ liệu khảo sát từ 588 học sinh
THPT vào tháng 4/2022, thông qua bảng câu hỏi theo thang đo Likert 5 mức
độ, bài viết sử dụng mơ hình hồi quy đa biến và phân tích nhân tố khám phá
EFA. Kết quả nghiên cứu chỉ ra có 4 nhân tố gồm: (1) đặc điểm nhà trường, (2)
đặc điểm người học, (3) công tác truyền thông của nhà trường và (4) ý kiến
của những cá nhân có tác động cùng chiều đến quyết định chọn trường ĐH
của học sinh THPT tỉnh Phú Yên. Nghiên cứu cũng cho thấy hơn 90% học sinh
THPT trên địa bàn tỉnh có mong muốn đăng ký học vào các trường ĐH ở ngoài
Factors affect the university choice of high school students in Phu Yen province
Abstract: The study determines the factors and the influences of each factor on the decision of high school
students in Phu Yen province to choose a university. The survey was conducted on 588 students from high
schools in April 2022 by answering the 5-level Likert scale questionnaires, the article uses a multivariate
regression model and exploratory factor analysis EFA. Research results show that there are 4 factors
including (1) universities’ characteristics, (2) learners’ characteristics, (3) universities’ communication, and (4)
opinions of influential individuals which have positive impacts on the decision of high school students in Phu
Yen province to choose a university. The research also shows that more than 90% of high school students in
the province are more willing to enroll in universities in other provinces than local ones. This has contributed
to making enrollment in local universities very difficult. Thereby, the article gives some recommendations to
improve the effectiveness of enrollment at universities in Phu Yen province.
Keywords: high school students, influencing factors, a decision of choosing a university, Phu Yen province.
Nguyen, Thi Phuc Hau
Email:
Nguyen, Vo Tuyet Trinh
Email:
Organization of all: Banking Academy of Vietnam, Phuyen Campus
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
Số 246- Tháng 11. 2022
26
© Học viện Ngân hàng
ISSN 1859 - 011X
NGUYỄN THỊ PHÚC HẬU - NGUYỄN VÕ TUYẾT TRINH
tỉnh hơn là ở trong tỉnh. Điều này đã góp phần làm cho việc tuyển sinh của các
trường ĐH tại địa phương gặp rất nhiều khó khăn. Dựa trên mức độ ảnh hưởng
của các nhân tố, bài viết đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công
tác tuyển sinh tại các trường ĐH ở tỉnh Phú Yên.
Từ khóa: học sinh THPT, nhân tố ảnh hưởng, quyết định chọn trường ĐH, tỉnh
Phú Yên
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập
quốc tế sâu rộng, giáo dục đào tạo nói
chung và giáo dục ĐH Việt Nam nói riêng
phải đổi mới tồn diện. Điểm thay đổi rõ
rệt nhất đó là giáo dục ĐH chuyển dần sang
hướng tự chủ. Các trường ĐH đã được giao
quyền tự chủ mạnh mẽ, nhiều trường đã
chủ động, sáng tạo hình thức lựa chọn, thu
hút thí sinh có năng lực và nguyện vọng
vào học tập và nghiên cứu; đồng thời thực
hiện công khai, minh bạch các điều kiện
đảm bảo chất lượng, tuyển sinh và thực
hiện trách nhiệm giải trình trước xã hội
(đặc biệt là trước phụ huynh và học sinh/
sinh viên).
Thực tế tuyển sinh trong những năm gần
đây, các trường ĐH phải đối mặt với nhiều
khó khăn, nhất là các trường cơng lập tại
các địa phương, hầu hết các trường đều
không thực hiện được kế hoạch tuyển sinh
của mình. Do có sự chuyển biến trong thị
trường tuyển sinh, bên cung tăng do các
trường ĐH thành lập ồ ạt, bên cầu là sự sụt
giảm về nhu cầu học ĐH do học sinh THPT
có nhiều sự lựa chọn khác hấp dẫn hơn như
du học, đi làm, học nghề… Vì vậy, áp lực
tuyển sinh đối với các trường ĐH tại địa
phương ngày càng tăng.
Phú Yên là một tỉnh ven biển Nam Trung
bộ, phía Bắc giáp tỉnh Bình Định, phía Nam
giáp tỉnh Khánh Hịa. Hiện tồn tỉnh có 06
trường Cao đẳng, ĐH, nhưng các trường
tuyển sinh gần như không đạt chỉ tiêu
trong những năm qua. Đơn cử trường ĐH
Phú Yên tuyển chỉ được 400 trong tổng số
775 chỉ tiêu (Huy Luân, Yến Anh, 2021).
Bài viết này nghiên cứu những nhân tố ảnh
hưởng đến quyết định chọn trường ĐH của
học sinh THPT trên địa bàn Phú Yên, đánh
giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này,
từ đó đề xuất khuyến nghị nhằm nâng cao
hơn nữa hiệu quả công tác tuyển sinh của
các trường Cao đẳng, ĐH trên địa bàn Tỉnh.
2. Tổng quan nghiên cứu các nhân tố
ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn
trường đại học
2.1. Tổng quan các nhân tố ảnh hưởng
đến quyết định lựa chọn trường đại học
của học sinh trung học phổ thông
- Nhân tố đặc điểm của nhà trường: Đặc
điểm của nhà trường bao gồm các yếu tố
như: Danh tiếng của trường, vị trí địa lý
thuận lợi, sự đa dạng của ngành học, cơ sở
vật chất nhà trường, phương tiện học tập,
thư viện, ký túc xá, học phí, chế độ chính
sách hỗ trợ tài chính, cơ hội tìm việc làm sau
khi tốt nghiệp, các hoạt động ngoại khóa để
phát triển kỹ năng mềm… Trước khi quyết
định lựa chọn trường ĐH, học sinh thường
có xu hướng tìm hiểu kỹ về trường, quan
tâm trường đó ở khu vực nào, danh tiếng
của trường, trường đào tạo chuyên ngành
gì, học phí cao hay thấp, cơ hội tìm được
việc làm dễ khơng, nếu chọn trường ĐH thì
chỗ ở thế nào, mơi trường học tập ra sao, có
Số 246- Tháng 11. 2022- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
27
Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh trung học phổ thông trên
địa bàn tỉnh Phú n
nhiều hoạt động ngoại khóa khơng… Nếu
một trường ĐH nằm ở vị trí thuận lợi, có
nhiều ngành học hấp dẫn, cơ hội tìm kiếm
việc làm cao, điều kiện học tập, ăn ở tốt,
thường xuyên tổ chức các hoạt động ngoại
khóa cho sinh viên tham gia thì sẽ càng thu
hút học sinh chọn lựa để học. Điều này đã
được kiểm định trong nghiên cứu của D.W.
Chapman (1981), Kee Ming (2010), Trần
và Cao (2009).
- Nhân tố tiếp cận, truyền thông của nhà
trường: Kết quả nghiên cứu của Hossler và
cộng sự (1989) đã cho rằng nỗ lực quảng
cáo, tiếp thị của các trường ĐH thông qua
các phương tiện truyền thông như đăng
quảng cáo lên báo chí, truyền hình, truyền
thanh sẽ có hiệu quả đặc biệt trong việc xây
dựng hình ảnh và uy tín. Do đó, quảng cáo
có sức ảnh hưởng khá lớn đến khả năng
chọn trường ĐH của học sinh THPT.
Các chuyến thăm trường THPT của đại diện
tư vấn tuyển sinh trường ĐH được đánh giá
có ảnh hưởng hiệu quả trong việc thu hút
học sinh. Những chuyến thăm này có thể
mang lại lợi ích cho cả học sinh và đại diện
tuyển sinh (Hossler và cộng sự, 1989). Do
đó, đại diện tư vấn tuyển sinh là một trong
những yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ đến
quyết định chọn trường ĐH của học sinh.
Theo Hossler (1989) tổ chức các chuyến
thăm khuôn viên trường dành cho học sinh
THPT là công cụ tuyển sinh tốt nhất của
trường ĐH. Vì vậy nó là việc làm khơng thể
thiếu ở các trường ĐH vì nó có ảnh hưởng
đến quyết định nên chọn trường nào để đăng
ký theo học của các em.
- Nhân tố đặc điểm bản thân người học:
D.W Chapman (1981) cho rằng, các yếu tố
của tự thân cá nhân học sinh là một trong
những nhóm yếu tố ảnh hưởng lớn đến
quyết định chọn trường của bản thân họ.
Trong những yếu tố đó, yếu tố về năng lực
và sở thích của bản thân học sinh là 2 yếu
tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường
28
ĐH rõ nhất. Dựa trên cơ sở 2 yếu tố này,
trường ĐH có điểm chuẩn đầu vào phù hợp
với năng lực; có ngành đào tạo phù hợp
sở thích, năng lực, giới tính của học sinh
thì quyết định chọn trường ĐH đó của học
sinh càng cao.
- Nhân tố các cá nhân có ảnh hưởng:
Trong quá trình chọn trường ĐH, các học
sinh thường bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi sự
thuyết phục, khuyên nhủ của gia đình và
bạn bè. Bên cạnh gia đình và bạn bè, các cá
nhân tại trường cũng có ảnh hưởng khơng
nhỏ đến quyết định này, điều này được
kiểm định qua nghiên cứu của Chapman
(1981), Hossler (1989). Xét trong điều
kiện giáo dục của Việt Nam, theo Nguyễn
Thị Kim Chi (2018) cá nhân có ảnh hưởng
lớn đến quyết định chọn trường của các em
chính là các thầy cơ của họ. Do vậy, gia
đình, bố mẹ, anh chị, bạn thân, thầy cô phổ
thông, thầy cô của trường ĐH tư vấn tuyển
sinh chính là những người có ảnh hưởng
nhất định trong việc đưa ra quyết định chọn
trường học cho học sinh.
2.2. Tổng quan nghiên cứu
Đã có rất nhiều cơng trình nghiên cứu về
quyết định lựa chọn trường ĐH để theo học
của học sinh THPT trong và ngoài nước.
Trong khn khổ giới hạn bài báo này,
chúng tơi trình bày một số cơng trình chính
và nổi bật liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
Các cơng trình nghiên cứu nước ngồi:
- Cơng trình nghiên cứu của D.W. Chapman
(1981) đã đề xuất mơ hình tổng qt của
việc lựa chọn trường ĐH của các học sinh.
Qua quá trình khảo sát nhằm kiểm định mơ
hình, Chapman (1981) đã phát hiện có 2
nhóm yếu tố ảnh hưởng nhiều đến quyết
định chọn trường ĐH của học sinh đó là:
(1) Đặc điểm của gia đình và cá nhân học
sinh, (2) Các yếu tố thuộc bên ngoài ảnh
hưởng đến cá nhân như: các đặc điểm cố
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 246- Tháng 11. 2022
NGUYỄN THỊ PHÚC HẬU - NGUYỄN VÕ TUYẾT TRINH
định của trường ĐH và nỗ lực giao tiếp của
trường ĐH với các học sinh.
- A.F. Cabrera và S.M. La Nasa (2000) tiếp
nối kết quả nghiên cứu của Chapman (1981)
đã nghiên cứu mơ hình 3 giai đoạn lựa chọn
trường ĐH của học sinh, trong đó nhân tố
mong đợi về cơng việc trong tương lai của
học sinh rất quan trọng, tác động lớn đến
quyết định chọn trường ĐH của học sinh.
- Joseph Sia Kee Ming (2010) đã đề xuất
mơ hình khung khái niệm các yếu tố ảnh
hưởng đến quyết định chọn trường ĐH
của sinh viên tại Malaysia. Kết quả nghiên
cứu đã chỉ ra rằng quyết định chọn trường
ĐH của sinh viên chịu sự ảnh hưởng của
“Nhóm yếu tố các đặc điểm cố định của
trường ĐH” bao gồm: vị trí; chương trình
đào tạo; danh tiếng; cơ sở vật chất; chi phí
học tập; hỗ trợ tài chính; cơ hội việc làm và
“Nhóm yếu tố các nỗ lực giao tiếp với sinh
viên” bao gồm: quảng cáo; đại diện tuyển
sinh, giao lưu với các trường phổ thông;
thăm viếng khn viên trường ĐH.
Cơng trình nghiên cứu trong nước tiêu biểu
có cơng trình của Trần Văn Q và Cao Hào
Thi (2009) đã nghiên cứu “Các nhân tố ảnh
hưởng đến quyết định chọn trường ĐH của
học sinh THPT” đã đề xuất mơ hình có 7
nhân tố bao gồm: (1) nhân tố về cá nhân, (2)
nhân tố về đặc điểm trường ĐH, (3) nhân tố
về bản thân học sinh, (4) nhân tố về cơ hội
học tập cao hơn, (5) nhân tố về cơ hội làm
việc trong tương lai, (6) nhân tố về nỗ lực
giao tiếp với sinh viên của trường ĐH, (7)
nhân tố đặc trưng giới tính.
Như vậy, các nghiên cứu ở nước ngoài và
trong nước đã chỉ ra nhiều nhân tố khác
nhau ảnh hưởng tích cực đến quyết định lựa
chọn trường ĐH của học sinh THPT như:
đặc điểm gia đình và cá nhân học sinh; đặc
điểm cố định của nhà trường; cơ hội làm
việc trong tương lai; sự nỗ lực giao tiếp của
nhà trường với học sinh; yếu tố đặc trưng
giới tính... Xét theo khơng gian phạm vi,
chưa có nghiên cứu nào đánh giá nhân tố
ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trường
ĐH của học sinh THPT trên địa bàn tỉnh
Phú Yên. Trong nghiên cứu này, kế thừa
các nghiên cứu trên, nhóm tác giả lựa chọn
04 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến quyết định
lựa chọn trường đại học của học sinh THPT
trên địa bàn tỉnh Phú Yên gồm: (i) Nhân tố
đặc điểm của nhà trường; (ii) Nhân tố tiếp
cận, truyền thông của nhà trường; (iii) Nhân
tố đặc điểm bản thân người học; (iv) Nhân
tố các cá nhân có ảnh hưởng.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Mơ hình nghiên cứu
Trên cơ sở lý thuyết, tổng quan nghiên cứu
Nhân tố đặc điểm của nhà trường
H1 (+)
Nhân tố tiếp cận, truyền thông của nhà trường
H2 (+)
Nhân tố đặc điểm bản thân người học
H3 (+)
Nhân tố các cá nhân có ảnh hưởng
Quyết định
chọn trường
đại học
H4 (+)
Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất dựa trên tổng quan nghiên cứu
Hình 1. Mơ hình nghiên cứu theo đề xuất của nhóm tác giả
Số 246- Tháng 11. 2022- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
29
Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh trung học phổ thông trên
địa bàn tỉnh Phú Yên
và kết hợp với các yếu tố đặc trưng của
học sinh THPT trên địa bàn tỉnh Phú Yên,
nhóm tác giả đề xuất mơ hình nghiên cứu
như Hình 1.
Giả thuyết nghiên cứu:
H1: Nhân tố đặc điểm của nhà trường có
ảnh hưởng cùng chiều đến quyết định chọn
trường ĐH của học sinh.
H2: Nhân tố tiếp cận truyền thơng của
trường có ảnh hưởng cùng chiều đến quyết
định chọn trường ĐH của học sinh.
H3: Nhân tố liên quan đến đặc điểm bản
thân người học có ảnh hưởng cùng chiều
đến quyết định chọn trường của học sinh.
H4: Nhân tố các cá nhân có ảnh hưởng
cùng chiều đến quyết định chọn trường ĐH
của học sinh.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
Để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến
quyết định chọn trường ĐH của học sinh
THPT trên địa bàn tỉnh Phú Yên, nhóm
tác giả tiến hành nghiên cứu thực nghiệm
bằng hình thức khảo sát thơng qua bảng
hỏi. Thang đo chính thức cho 05 biến trong
mơ hình được đưa vào phiếu điều tra tương
ứng với 25 biến quan sát (items) để đo
lường các biến trong mơ hình nghiên cứu
thể hiện trong Bảng 1. Các câu hỏi khảo sát
(biến quan sát) được xây dựng bằng thang
đo Likert5 với thang điểm đánh giá từ 1
(Rất không đồng ý) đến 5 (Rất đồng ý).
Ngồi ra, trong phiếu khảo sát cịn có một
số câu hỏi liên quan đến thơng tin định
danh của người học như: giới tính; trình
độ học vấn; học lực; thời điểm quyết định
chọn trường ĐH; địa điểm trường đại học
muốn học ở đâu...
Sau khi thiết kế phiếu khảo sát, nhóm tác
giả đã tiến hành phát phiếu dưới hình thức
bảng câu hỏi trực tuyến thông qua Google
Form cho hơn 650 học sinh của các trường
THPT, chủ yếu là học sinh đang học
và vừa tốt nghiệp (TN) trên địa bàn tỉnh
Phú Yên, trong khoảng thời gian từ ngày
05/01/2022 đến ngày 15/4/2022, thu về
600 phiếu (đạt 92,3%). Bảng câu hỏi khảo
sát có 25 biến quan sát (các câu hỏi sử dụng
thang đo Likert5), do vậy mẫu tối thiểu sẽ
là 25x5=125 (Hoàng Trọng, Chu Nguyễn
Mộng Ngọc, 2008). Qua quá trình làm sạch
đã loại bỏ những phiếu không đạt yêu cầu,
số phiếu đạt yêu cầu đưa vào xử lí và phân
tích 588 phiếu - đạt yêu cầu mẫu tối thiểu.
Dựa vào dữ liệu thu thập được, nhóm
Bảng 1. Các biến và mã hóa
Biến
Mã hóa
Nhóm nhân tố liên quan về đặc điểm của nhà trường
DDNT
Trường là địa chỉ đào tạo có danh tiếng, thương hiệu
DDNT1
Trường có vị trí địa lý gần nhà, thuận lợi cho việc đi lại và học tập
DDNT2
Trường có ngành đào tạo đa dạng và hấp dẫn
DDNT3
Trường có cơ sở vật chất hiện đại, khang trang phục vụ tốt cho việc giảng dạy và
DDNT4
học tập
Trường có mức học phí phù hợp với điều kiện kinh tế gia đình
DDNT5
Trường có chế độ học bổng và các chính sách hỗ trợ tài chính hợp lý cho sinh viên
DDNT6
đang theo học
30
Có cơ hội tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp
DDNT7
Có cơ hội tìm được việc làm có thu nhập cao
DDNT8
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 246- Tháng 11. 2022
Nguồn
tham khảo
Chapman
(1981);
Kee Ming
(2010);
Trần Văn
Quý & Cao
Hào Thi
(2009);
Cabrera &
La Nasa
(2000).
NGUYỄN THỊ PHÚC HẬU - NGUYỄN VÕ TUYẾT TRINH
Biến
Mã hóa
Nhóm nhân tố liên quan về tiếp cận, truyền thông của nhà trường
TT
Trường thực hiện quảng cáo cung cấp đầy đủ thơng tin về trường qua các phương
tiện truyền thơng
TT1
Trường có các hoạt động tư vấn tuyển sinh, hướng nghiệp tốt
TT2
Trường có khu ký túc xá sinh viên hiện đại, rộng rãi, thống mát
TT3
Trường có nhiều hoạt động ngoại khóa để phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên
như: hoạt động của các CLB, đội, nhóm
TT4
Nhóm nhân tố liên quan đến đặc điểm bản thân người học
DDNH
Điểm chuẩn đầu vào của Trường phù hợp với năng lực cá nhân
DDNH1
Trường có ngành đào tạo phù hợp với sở thích và nguyện vọng của cá nhân
DDNH2
Trường có ngành đào tạo phù hợp với năng lực bản thân
DDNH3
Trường có ngành đào tạo phù hợp với giới tính cá nhân
DDNH4
Nhóm nhân tố liên quan đến các cá nhân có ảnh hưởng đến quyết định chọn
trường
CNAH
Theo ý kiến của người thân trong gia đình
CNAH1
Theo ý kiến của thầy/cô giáo chủ nhiệm, giáo viên hướng nghiệp ở trường trung học CNAH2
Theo ý kiến của các anh/chị sinh viên đã và đang học tại Trường
CNAH3
Theo ý kiến của các thầy/ cô của trường tư vấn tuyển sinh
CNAH4
Theo ý kiến của bạn bè
CNAH5
Do bản thân đã được đến tham quan trực tiếp tại Trường
CNAH6
Biến phụ thuộc: Quyết định chọn trường đại học
HL
Em hài lòng với Trường em sẽ chọn/ đang học
HL1
Em vẫn chọn Trường này, nếu có cơ hội thay đổi quyết định lựa chọn của mình
HL2
Nguồn
tham khảo
Kee Ming
(2010);
Trần Văn
Quý & Cao
Hào Thi
(2009).
Chapman
(1981);
Trần Văn
Quý & Cao
Hào Thi
(2009).
Chapman
(1981);
Trần Văn
Quý & Cao
Hào Thi
(2009).
Em sẽ giới thiệu Trường này đến những học sinh (người thân quen) chuẩn bị dự thi
HL3
vào Đại học
Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả dựa trên tổng quan
nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS 20 tiến
hành kiểm tra độ tin cậy của các biến qua
Cronbach’s Alpha, xác minh nhân tố khám
phá (EFA) và cuối cùng là phân tích các
biến để ra phương trình hồi quy tuyến tính.
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1. Kết quả về thống kê mẫu
Đối tượng khảo sát chủ yếu là học sinh
THPT đang học và vừa TN trên địa bàn
tỉnh Phú Yên. Kết quả khảo sát (Bảng 2)
cho thấy 60% người tham gia khảo sát là
nữ, 40% là nam. Đa phần các đáp viên hiện
đang học lớp 11 và lớp 12 của các trường
THPT. Hiện nay lớp 10 đã có phân ban và
hầu hết các em đã có ý định chọn trường
đại học. Với ý định đó, các em có thể tìm
hiểu các đặc điểm liên quan đến nhà trường
(bao gồm cơ sở vật chất và các điều kiện
khác của nhà trường…) bằng nhiều kênh
khác nhau, chẳng hạn như qua Website,
Fanpage hoặc các diễn đàn của nhà trường
để tra cứu thông tin cũng như nhận được
những lời chia sẻ, lời khuyên của người
thân và của các sinh viên, cựu sinh viên
của trường. Khi đó người học đã có những
Số 246- Tháng 11. 2022- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
31
Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh trung học phổ thông trên
địa bàn tỉnh Phú n
Bảng 2. Đặc điểm mẫu khảo sát
Giới tính
Trình độ học vấn
Học lực
Nam
Nữ
L.10
L.11
L.12
HS vừa
TN
40
60
19,3
41,7
35,4
3,6
100%
Thời điểm lựa chọn trường ĐH
XS
Giỏi
Khá
TB
L.10
L.11
L.12
Hiện chưa
có ý định gì
0,3
42
53,1
4,6
11,7
18,2
38,8
31,3
100%
100%
100%
Nguồn: Tổng hợp kết quả khảo sát của nhóm tác giả (2022)
Nguồn: Tổng hợp kết quả khảo sát của nhóm tác giả
(2022)
Hình 2. Kết quả lựa chọn trường đại học
theo địa điểm
định hướng riêng của mình là sẽ đăng ký
vào trường ĐH nào. Về học lực, phần lớn
các em đều có học lực khá, giỏi trở lên với
tỷ lệ hơn 95%. Tỷ lệ các em học sinh chọn
trường ở lớp 12 chiếm đa số với 38,8%.
Tuy nhiên, lượng các em học sinh chưa có
ý định gì về việc chọn trường cũng chiếm
một tỷ trọng tương đối lớn với 31,3%. Đây
cũng là cơ hội để cho các trường ĐH có thể
tác động thêm đến các em để các em chọn
đăng ký học ĐH.
Ngoài ra, kết quả khảo sát (Hình 2) cho
thấy hầu hết các em tham gia khảo sát đều
hướng đến việc chọn học ở các trường ĐH
ngoài tỉnh Phú Yên hơn. Điều này cũng
phản ánh đúng thực trạng với tình hình hiện
nay, mặc dù trên địa bàn hiện có rất nhiều
trường cao đẳng, ĐH với đầy đủ các khối
ngành từ kinh tế đến kỹ thuật… nhưng đa
số học sinh chọn đăng ký học các trường ở
ngoài tỉnh, nhất là ở các thành phố lớn như
TP. Hồ Chí Minh.
4.2. Mức độ hài lòng của người học với
quyết định chọn trường
Sử dụng bảng hỏi để đánh giá mức độ hài
lòng của người học đã lựa chọn tại mẫu
nghiên cứu. Kết quả tổng hợp mức đánh
giá này như Bảng 3.
Kết quả ở Bảng 3 cho thấy giá trị trung
bình của các biến quan sát trong nhóm mức
độ hài lịng và chắc chắn với quyết định
chọn trường đều nằm trong mức điểm xấp
xỉ bằng hoặc hơn 4 trên thang đo Likert 5
Bảng 3. Tổng hợp mức độ hài lòng của người học với quyết định chọn trường đại học
Nhân tố
Tỷ lệ đánh giá sự hài lòng với lựa chọn vào Trường
ĐH hiện tại theo cấp độ (%)
Trung bình
cộng
Độ lệch
chuẩn
1
2
3
4
5
HL1
0,9
1,7
18,5
37,9
41
4,16
0,85
HL2
3,1
3,1
29,1
31,3
33,5
3,89
1,01
HL3
2,4
3,4
26,7
29,1
38,4
3,98
1,00
HL
0,7
3
22
44,2
31,1
4,01
0,79
Mức độ hài
lịng
Hài lòng
Nguồn: Xử lý số liệu nghiên cứu bằng SPSS 20
32
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 246- Tháng 11. 2022
NGUYỄN THỊ PHÚC HẬU - NGUYỄN VÕ TUYẾT TRINH
điểm. Bên cạnh đó, giá trị độ lệch chuẩn
của các biến từ HL1 cho đến HL3 đều từ
1 trở xuống, chứng tỏ người học trả lời
không chênh lệch nhau nhiều. Như vậy,
phần lớn các đáp viên tham gia trả lời bảng
khảo sát đều đồng ý với các tiêu chí trong
nhóm Mức độ hài lòng và chắc chắn với
quyết định chọn Trường. Và khi tổng hợp
lại thì điểm trung bình về mức độ hài lịng
là khá cao 4,01/5,0 điểm; và có trên 31%
người học được hỏi cảm thấy rất hài lòng
về quyết định chọn trường của mình, 44,2%
người học đánh giá hài lịng, 22% đánh giá
bình thường, 3% cảm thấy khơng hài lịng
và chỉ có 0,7% thấy rất khơng hài lịng về
quyết định lựa chọn của mình. Như vậy đa
số các đáp viên hài lịng với lựa chọn vào
trường ĐH của mình.
4.3. Kiểm định độ tin cậy Cronbach’s
Alpha
Kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s
Alpha: Những biến quan sát có hệ số tương
quan biến tổng phù hợp lớn hơn 0,3 và có
hệ số Cronbach’s Alpha> 0,6, thì được chấp
nhận và đưa vào phân tích những bước tiếp
theo (Nunnally và BernStein, 1994).
Trong q trình thu thập số liệu, các phiếu
khảo sát chưa có sự đồng đều giữa các
trường THPT trên địa bàn tỉnh, cũng như
chưa tập trung nhiều ở các trường chuyên
Bảng 4. Tổng hợp kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo
Nhân tố
(1)
Trung bình thang đo
nếu loại biến
Phương sai thang đo
nếu loại biến
Hệ số tương quan
biến tổng
Cronbach’s Alpha nếu
loại biến
Nhân tố đặc điểm của nhà trường- DDNT (Cronbach’s Alpha= 0,861)
DDNT3
22,12
8,767
,530
,860
DDNT4
22,02
8,308
,679
,833
DDNT5
21,97
8,326
,635
,841
DDNT6
22,05
8,282
,659
,837
DDNT7
21,86
8,105
,733
,823
DDNT8
22,00
8,109
,687
,831
(2)
Nhân tố tiếp cận, truyền thông của nhà trường- TT (Cronbach’s Alpha= 0,820)
TT1
12,74
4,010
,688
,751
TT2
12,52
4,461
,665
,765
TT3
12,72
4,128
,594
,800
TT4
12,50
4,479
,636
,777
(3)
Nhân tố đặc điểm của người học- DDNH (Cronbach’s Alpha= 0,780)
DDNH1
12,64
4,149
0,612
,713
DDNH2
12,44
4,329
0,653
,701
DDNH3
12,49
4,189
0,716
,672
DDNH4
12,95
3,774
0,455
,831
(4)
Nhân tố các cá nhân có ảnh hưởng- CNAH (Cronbach’s Alpha = 0,902)
CNAH1
16,79
23,625
,719
,887
CNAH2
16,83
23,001
,821
,871
Số 246- Tháng 11. 2022- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
33
Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh trung học phổ thông trên
địa bàn tỉnh Phú Yên
CNAH3
16,72
23,617
,794
,876
CNAH4
16,75
23,109
,839
,869
CNAH5
17,06
23,904
,708
,888
CNAH6
16,78
23,573
,534
,914
(5)
Quyết định chọn trường đại học- HL (Cronbach’s Alpha = 0,765)
HL1
7,87
2,990
,639
,651
HL2
8,14
2,637
,587
,698
HL3
8,06
2,673
,578
,708
Nguồn: Xử lý số liệu nghiên cứu bằng SPSS 20
Bảng 5. Kiểm định KMO and Bartlett’s
Test
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of
Sampling Adequacy.
Bartlett’s
Test of
Sphericity
,926
Approx. Chi-Square
6530,203
Df
190
Sig.
,000
Nguồn: Xử lý số liệu nghiên cứu bằng SPSS 20
THPT, do đó học sinh ngại khi chọn các
trường ĐH đào tạo có danh tiếng, thương
hiệu. Bên cạnh đó, qua kết quả khảo sát ở
Hhình 2 cho thấy hầu hết các em có xu
hướng chọn học ở các trường ĐH ngoài
tỉnh. Điều này cũng phù hợp với kết quả
kiểm định Cronbach’s Alpha đối với các
nhân tố. Theo kết quả kiểm địnhmơ hình
đã loại bỏ 02 biến quan sát thuộc biến yếu
tố liên quan về đặc điểm của nhà trường
không đảm bảo chất lượng, cụ thể là:
trường là địa chỉ đào tạo có danh tiếng,
thương hiệu (DDNT1) và trường có vị trí
địa lý gần nhà, thuận lợi cho việc đi lại và
học tập (DDNT2), còn lại 05 nhân tố đảm
bảo chất lượng tốt (với hệ số α >0,6) với 23
biến quan sát được thể hiện ở Bảng 4.
4.4. Phân tích nhân tố khám phá (EFA)
- Kiểm định tính thích hợp của EFA
Tiêu chuẩn áp dụng và chọn biến đối với
phân tích EFA bao gồm: tiêu chuẩn Bartlett
và hệ số KMO dùng để đánh giá sự thích
hợp của EFA. Theo Kaiser (1974), EFA
được gọi là thích hợp khi: 0,5< KMO< 1
và sig< 0,05.
Kết quả ở Bảng 5 chỉ ra Hệ số KMO=
0,926, thỏa mãn điều kiện 0,5< KMO< 1
nên phân tích nhân tố khám phá là thích
hợp cho dữ liệu thực tế. Sig.= 0,000< 0,05
chứng tỏ các biến quan sát có tương quan
với nhau trong tổng thể. Từ KMO và Sig.
Bảng 6. Phân tích tổng phương sai trích
Component
Initial Eigenvalues
Total
% of
Cumulative
Variance
%
Extraction Sums of Squared
Loadings
% of
Cumulative
Total
Variance
%
Rotation Sums of Squared
Loadings
% of
Cumulative
Total
Variance
%
1
7,584
37,918
37,918
7,584
37,918
37,918
4,201
21,003
21,003
2
3,364
16,818
54,736
3,364
16,818
54,736
3,707
18,533
39,536
3
1,130
5,649
60,385
1,130
5,649
60,385
2,657
13,287
52,823
4
1,021
5,105
65,489
1,021
5,105
65,489
2,533
12,666
65,489
Nguồn: Xử lý số liệu nghiên cứu bằng SPSS 20
34
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 246- Tháng 11. 2022
NGUYỄN THỊ PHÚC HẬU - NGUYỄN VÕ TUYẾT TRINH
Bảng 7. Thống kê phân tích các hệ số hồi quy
Mơ hình
Hệ số chưa chuẩn hóa
1
B
Hệ số chuẩn
hóa
Sai số chuẩn
(Hằng số)
,222
,203
DDNT
,008
,063
TT
,264
DDNH
CNAH
Beta
Giá
trị t
Thống kê đa cộng
tuyến
Sig.
Dung sai
VIF
1,093
,275
,006
,128
,898
,465
2,149
,053
,224
4,999
,000
,481
2,081
,480
,050
,395
9,571
,000
,568
1,760
,170
,028
,209
6,188
,000
,846
1,182
R 2 hiệu chỉnh: 0,432
Thống kê F (ANOVA): 112,580
Mức ý nghĩa (Sig. của ANOVA): 0,000
Durbin-Watson: 1,865
Nguồn: Xử lý số liệu nghiên cứu bằng SPSS 20
cho thấy dữ liệu nghiên cứu phù hợp để
thực hiện EFA.
- Kiểm định mức độ giải thích của các biến
quan sát đối với nhân tố
xem bảng 6
4.5. Phân tích hồi quy tuyến tính
Sau khi đánh giá, mơ hình vẫn gồm có 5
thành phần (01 biến phụ thuộc và 04 biến
độc lập) với 23 biến quan sát. Các biến được
đặt tên theo tính chất của các biến quan sát
như sau: đặc điểm nhà trường (DDNT- 6
biến quan sát); thông tin và truyền thông
của nhà trường (TT- 4 biến quan sát); đặc
điểm của người học (DDNH- 4 biến quan
sát); các cá nhân có ảnh hưởng (CNAH- 6
biến quan sát); quyết định chọn trường ĐH
(HL- 3 biến quan sát).
Kết quả kiểm định giả thuyết về độ phù
hợp với tổng thể của mơ hình (Bảng 6), ta
có giá trị F (ANOVA)= 112,580 với giá trị
Sig= 0,000< 5% chứng tỏ mơ hình hồi quy
phù hợp với tập dữ liệu. Hay nói cách khác,
các biến độc lập có tương quan tuyến tính
với biến phụ thuộc với mức độ tin cậy 99%.
Durbin- Watson là 1,865< 3 thể hiện mơ
hình khơng vi phạm hiện tượng tự tương
quan giữa các biến trong mơ hình (Mai Văn
Nam, 2008). Hệ số VIF của các biến đều có
trị nhỏ hơn 10 chứng tỏ khơng xảy ra hiện
tượng đa cộng tuyến. Về mức độ phù hợp
của mơ hình, hệ số R2 hiệu chỉnh là 0,432,
điều này cho thấy mức độ giải thích của mơ
hình này là 43,2%, hay nói cách khác 04
biến độc lập bao gồm DDNT, TT, DDNH,
CNAH giải thích được 43,2% sự biến thiên
của biến phụ thuộc quyết định chọn trường
ĐH, phần còn lại được giải thích bởi các
biến ngồi mơ hình và sai số ngẫu nhiên
khác. Giá trị Sig. trong bảng ANOVA là
0,000 (nhỏ hơn 0,05) cho thấy mơ hình
hồi quy phù hợp với tập dữ liệu. Về mức ý
nghĩa của các nhân tố độc lập đều có giá trị
sig. nhỏ hơn 0,05, vì vậy các biến độc lập
được đưa vào mơ hình đều có ý nghĩa.
Như vậy, mơ hình hồi quy phù hợp với các
dữ liệu, các biến đều có ý nghĩa về mặt
thống kê với mức ý nghĩa 5% và các biến
độc lập trong phân tích hồi quy đều ảnh
hưởng cùng chiều tới biến phụ thuộc quyết
định chọn trường ĐH, phù hợp với các giả
thiết ban đầu đặt ra. Như vậy các giả thuyết
Số 246- Tháng 11. 2022- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
35
Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh trung học phổ thông trên
địa bàn tỉnh Phú n
H1, H2, H3, H4 cho mơ hình nghiên cứu
lý thuyết được chấp nhận. Khi đó, phương
trình hồi quy chuẩn hóa của các nhân tố
được biểu thị như sau:
HL = 0,395 × DDNH + 0,224 × TT + 0,209
× CNAH + 0,006 × DDNT
5. Kết luận và khuyến nghị
Kết quả của bài nghiên cứu đã xác định
được mức độ ảnh hưởng của bốn nhân tố
đến quyết định chọn trường ĐH của học
sinh THPT ở tỉnh Phú Yên. Cụ thể, quyết
định chọn trường ĐH bị ảnh hưởng nhiều
nhất bởi nhân tố đặc điểm người học (hệ số
β = 0,395), sau đó là nhân tố thơng tin truyền
thơng (hệ số β = 0,224), các cá nhân có ảnh
hưởng (hệ số β = 0,209) và cuối cùng là các
nhân tố liên quan đến đặc điểm nhà trường
(hệ số β = 0,006). Các nhân tố liên quan đến
đặc điểm nhà trường có hệ số β = 0,006, thấp
hơn nhiều so với hệ số của các nhân tố cịn lại
là có thể phần lớn đối tượng được khảo sát
là học sinh lớp 11, 12 của các trường THPT,
các em chưa được trải nghiệm thực tế tại
trường ĐH, nên nhân tố liên quan đến các
đặc điểm nhà trường chưa tác động nhiều
đến quyết định chọn trường của học sinh.
Các kết quả nghiên cứu này đều phù hợp với
các giả thuyết mà nghiên cứu đã đề ra cũng
như kết quả các nghiên cứu trước đó như
Chapman (1981); Kee Ming (2010); Trần
Văn Quý & Cao Hào Thi (2009); Cabrera &
La Nasa (2000).
Mặc dù nghiên cứu đã đạt được mục tiêu
đề ra, tuy nhiên trong nghiên cứu này số
lượng phiếu khảo sát còn hạn chế và chưa
đồng đều giữa các trường THPT trên địa
bàn tỉnh, chủ yếu là các trường THPT ở
thành phố mà chưa tập trung nhiều đến các
trường ở huyện, thị xã; cũng như cần chú
trọng hơn nữa trong việc khảo sát học sinh
ở các trường chuyên THPT, nên cần khắc
phục trong các nghiên cứu tiếp theo. Hơn
nữa, việc 04 nhân tố giải thích được 43,2%
sự biến thiên của biến phụ thuộc cho thấy
mức độ phù hợp của mơ hình ở mức trung
bình, nghĩa là vẫn còn nhiều nhân tố tác
Nguồn: Tổng hợp kết quả khảo sát của nhóm tác giả (2022)
Hình 3. Các kênh quảng bá người học dễ tiếp cận về trường đại học
36
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 246- Tháng 11. 2022
NGUYỄN THỊ PHÚC HẬU - NGUYỄN VÕ TUYẾT TRINH
động đến quyết định chọn trường ĐH mà
chưa được đề cập trong nghiên cứu này.
Do đó, trong những nghiên cứu tiếp theo,
nhóm tác giả sẽ bổ sung thêm một số nhân
tố khác để gia tăng mức độ giải thích cho
biến phụ thuộc của mơ hình nghiên cứu.
Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đề
xuất một số kiến nghị như sau:
Một là, để tác động đến quyết định chọn
trường ĐH của học sinh THPT, một trong
những nhân tố cần quan tâm là cơng tác
thơng tin và truyền thơng, vì đây là nhân tố
tác động mạnh nhất mà các trường ĐH có
thể tác động được. Do đó, các trường ĐH ở
tỉnh Phú Yên cần đẩy mạnh công tác quảng
bá truyền thông trực tuyến hơn nữa, nhất
là trên Fanpage và Website của nhà trường
nhằm thu hút các em học sinh, qua đó cung
cấp đầy đủ thông tin tuyển sinh một cách
kịp thời; hoặc tổ chức tư vấn tuyển sinh
thông qua các buổi livestream; đồng thời
kêu gọi sinh viên trường like và share các
bài viết trên page của trường để thông tin
được lan truyền rộng rãi. Điều này cũng rất
phù hợp với các em học sinh THPT thế hệ
gen Z như hiện nay. Thật vậy, qua khảo sát
thực tế cho thấy 34% đáp viên tiếp cận với
các kênh quảng bá về trường dễ nhất đó
là từ Fanpage và Website của nhà trường
(Hình 3).
Mặt khác, dựa trên kết quả nghiên cứu của
Nguyễn Thanh Phong (2013) cho thấy các
trường cần có một đội ngũ cán bộ chuyên
phụ trách mảng tư vấn tuyển sinh thật
chuyên nghiệp bởi họ đóng một vai trị rất
quan trọng và có ảnh hưởng trực tiếp đến kết
quả tuyển sinh do đó nhà trường cần phải
chuẩn hóa đội ngũ này thật chuyên nghiệp,
phải am hiểu thật đầy đủ tưởng tận về các
ngành đào tạo của trường, các chế độ chính
sách của nhà trường… để có thể trình bày,
giải thích cũng như giải quyết một cách
thuyết phục về các thắc mắc kiến nghị của
học sinh, các bậc phụ huynh hay những đối
tượng có liên quan đến tuyển sinh.
Hai là, bên cạnh việc đẩy mạnh truyền
thông, các trường ĐH cũng cần thiết lập
mối quan hệ “chặt chẽ” với các cá nhân
có ảnh hưởng bao gồm như cựu sinh viên,
sinh viên đang học; các trường THPT, các
thầy cô giáo chủ nhiệm lớp, bạn bè; phụ
huynh học sinh; hay với các nhà tuyển
dụng. Bởi khi sinh viên ra trường có được
việc làm khơng chỉ tạo nên một đầu ra có
hiệu quả mà cịn khẳng định được “thương
hiệu” của nhà trường với xã hội. Theo đó,
các sinh viên cũng như người nhà của họ sẽ
tiếp tục giới thiệu cho người thân của mình
để vào học. Thật vậy, kết quả cũng cho thấy
rằng, yếu tố ý kiến của các cá nhân có ảnh
hưởng rất lớn đến quyết định chọn trường
ĐH (20,9%). Hơn nữa, theo kết quả khảo
sát (Hình 3) cũng cho thấy 24% người học
biết đến trường ĐH vì được người quen,
người thân giới thiệu. Chính vì vậy, các
trường ĐH cần thiết lập mối quan hệ với
các đối tượng hữu quan có liên quan này
thơng qua các hoạt động như giao lưu văn
hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, hoặc mời
các em học sinh ở các trường THPT này
đến thăm khuôn viên nhà trường; cung cấp
đầy đủ thông tin và tích cực tuyên truyền
đến phụ huynh học sinh; hay sự phối hợp
chặt chẽ với các nhà tuyển dụng trong việc
xây dựng chương trình đào tạo, đánh giá
kết quả học tập của sinh viên khi tốt nghiệp
và sẵn sàng tiếp nhận những sinh viên này.
Cuối cùng là, các yếu tố liên quan đến
đặc điểm nhà trường. Có thể thấy hiện các
trường đang trong q trình tự chủ tài chính,
mức học phí là mối quan tâm hàng đầu của
các bậc phụ huynh khi chọn trường cho con
mình. Do đó, các trường cần nghiên cứu,
xác định mức học phí phù hợp cho sinh
viên cùng với chế độ học bổng, trao đổi
sinh viên với các trường liên kết ở nước
ngoài hợp lý. Bên cạnh đó, nhà trường
khơng ngừng đầu tư cơ sở hạ tầng, máy
Số 246- Tháng 11. 2022- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
37
Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh trung học phổ thông trên
địa bàn tỉnh Phú Yên
móc thiết bị phục vụ dạy học. Xây dựng
môi trường học tập xanh, sạch, đẹp và thân
thiện. Tạo ra nhiều sân chơi lành mạnh cho
sinh viên để các em có được những hoạt
động bổ ích và thoải mái sau mỗi buổi học,
dần hoàn thiện các kỹ năng mềm có ích. ■
Tài liệu tham khảo
A.F. Cabrera, and S.M. La Nasa (2000), “Understanding the college choice of disadvantaged students”, New Directions
for Institutional Research.
D.W. Chapman (1981), “A model of student college choice”, The Journal of Higher Education, 52(5), pp.490-550.
Hossler, D., Braxton, J., & Coopersmith,
G.
(1989), “Understanding student college choice: Increased
interest in student college choice”.
Hồng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, NXB Hồng Ðức Tp.HCM, Tập 2.
Huy Luân, Yến Anh (2021), “Tuyển sinh: Chỗ nhận không hết, nơi lần chẳng ra”, truy cập ngày 10/6/2021 từ https://nld.
com.vn/giao-duc-khoa-hoc/tuyen-sinh-cho-nhan-khong-het-noi-lan-chang-ra-20211005192636638.htm.
In J. C. Smith (Ed.), Higher Education: Handbook of Theory and Research, Vol. 5, pp. 231-288, New York: Agathon
Press.
Joseph Sia Kee Ming (2010), “Institutional factors influencing students college choice decision in Malaysia: A
Conceptual Framework”, International Journal of Business and Social Science, 1(3), pp.53-58.
Kaiser, H. F. (1974), “An index of factorial simplicity”, Psychometrika, 39(1), pp.31–36.
Mai Văn Nam (2008), Giáo trình Ngun lý Thống kê Kinh tế, NXB Văn hóa Thơng tin.
Nguyễn Thị Kim Chi (2018), “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trường đại học của học sinh
Trung học phổ thông- Trường hợp Hà Nội”, Luận án tiến sỹ kinh tế, trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Nguyễn Thanh Phong (2013), “Yếu tố quyết định chọn Trường ĐHTG của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn
tỉnh Tiền Giang”, Đề tài nghiên cứu.
Nunnally, J.C., and Bernstein, I.H. (1994), The Assessment of Reliability. Psychometric Theory, 3rd ed., 248-292.
S.G. Washburn, B.L. Garton, and P.R. Vaughn (2000), “Factors influencing college choice of agriculture students
College-Wide compared with students majoring in Agricultural Education”, University of Florida.
Trần Văn Quý và Cao Hào Thi (2009), Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh phổ thơng
trung học, Tạp chí phát triển KHCN, 12(15), tr.87-102.
38
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 246- Tháng 11. 2022