Tải bản đầy đủ (.pdf) (68 trang)

Giáo trình Quản lý giáo dục đại học quân sự: Phần 2

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (665.54 KB, 68 trang )

Chương 6
QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC QUÂN SỰ

I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC GIÁO DỤC
ĐẠI HỌC QUÂN SỰ

1. Khái niệm quản lý nguồn nhân lực giáo dục
Quản lý nguồn nhân lực giáo dục đại học quân sự là quá trình xây
dựng kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, điều khiển và kiểm tra hoạt động của các
lực lượng giáo dục và quản lý giáo dục với tư cách là các thành viên trong
hệ thống quản lý giáo dục của nhà trường nhằm thực hiện tốt các mục tiêu
đã xác định.
Nguồn nhân lực giáo dục đại học quân sự là một lực lượng đơng đảo
bao gồm nhiều bộ phận. Trong đó, đội ngũ giảng viên, học viên và cán bộ làm
công tác quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt. Tuy với chức năng, nhiệm vụ
và tính chất hoạt động khác nhau, song giữa các lực lượng này có mối quan
hệ mật thiết tác động qua lại lẫn nhau và luôn biến động thay đổi. Do vậy,
quản lý nguồn nhân lực giáo dục đại học quân sự là một quá trình vận động,
phát triển không ngừng.
Chủ thể quản lý nguồn nhân lực giáo dục đại học quân sự là các cá
nhân, tập thể, nhóm được trao quyền hạn, nhiệm vụ tác động đến khách thể
quản lý.
Khách thể quản lý là các cá nhân, tập thể, nhóm chịu sự tác động của
chủ thể quản lý.
Giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối quan hệ thống nhất, biện
chứng hướng tới việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu của quá trình quản lý.
Quản lý nguồn nhân lực giáo dục đại học quân sự thực chất là quản lý
hoạt động của giảng viên, học viên, cán bộ làm công tác quản lý giáo dục và
các tổ chức sư phạm trong việc thực hiện nội dung, chương trình, kế hoạch
giáo dục và đào tạo.
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các nguồn nhân lực giáo dục ở đại


học quân sự được xác định trong các văn bản có tính pháp chế của nhà nước


và quân đội về giáo dục như: Luật Giáo dục; Điều lệ Công tác nhà trường
Quân đội nhân dân Việt Nam; Điều lệnh quản lý bộ đội... Đây là những quy
định tạo điều kiện rất thuận lợi cho công tác quản lý nguồn nhân lực giáo dục
đại học quân sự.
2. Đặc trưng cơ bản của quản lý nguồn nhân lực giáo dục đại học
quân sự
a. Quan hệ quản lý nguồn nhân lực giáo dục ở đại học quân sự chủ yếu
là các mối quan hệ giữa nhân cách với nhân cách
Đây là đặc trưng nổi bật về tính chất xã hội trong quản lý các nguồn lực
giáo dục. Nó nói lên tính tích cực năng động và tính phong phú, đa dạng trong
hệ thống quản lý nguồn nhân lực giáo dục ở đại học quân sự.
Trong hệ quản lý nguồn nhân lực giáo dục ở đại học quân sự mỗi một
nhân cách vừa là chủ thể quản lý tác động lên khách thể quản lý, đồng thời lại
vừa là khách thể quản lý chịu sự tác động của các chủ thể quản lý khác.
Quan hệ quản lý nguồn nhân lực giáo dục ở đại học qn sự có các tính
chất sau:
- Quan hệ chỉ huy, lãnh đạo - phục tùng.
- Quan hệ hợp tác, phối hợp.
- Quan hệ xã hội đan xen.
Các quan hệ trên gắn bó mật thiết với nhau, trong đó xét từ góc độ quản
lý thì: quan hệ chỉ huy, lãnh đạo - phục tùng là quan hệ cơ bản nhất.
b. Các loại hình hoạt động của nguồn nhân lực giáo dục ở đại học quân
sự rất phong phú, đa dạng đan xen và tác động qua lại lẫn nhau.
Do tính chất của mục tiêu, yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho một loại
hình lao động xã hội đặc biệt, cơ cấu tổ chức biên chế ở đại học qn sự có
những nét đặc thù. Ngồi lực lượng giảng viên, học viên, công nhân viên phục
vụ, cán bộ quản lý giáo dục nói chung cịn có một đội ngũ cán bộ hệ, tiểu

đoàn, lớp, đại đội, trung đội trực tiếp tổ chức, điều khiển mọi hoạt động của
học viên. Các cá nhân, bộ phận trong hệ thống quản lý giáo dục ở đại học
quân sự được tổ chức, bố trí, sắp xếp rất khoa học, có sự ràng buộc lẫn nhau
bởi những quan hệ quản lý chặt chẽ. Đây là những thuận lợi cơ bản bảo đảm


sự thống nhất cao, sự chỉ huy, lãnh đạo, điều phối nhanh chóng, chính xác
trong quản lý nhân lực ở đại học quân sự.
Mỗi thành viên trong hệ thống quản lý nguồn nhân lực giáo dục ở đại
học quân sự, ngồi hoạt động chủ đạo theo chun mơn nghề nghiệp, còn phải
thực hiện các nhiệm vụ khác theo chức trách quân nhân; theo các yêu cầu đặc
thù của giáo dục và đào tạo đại học thuộc lĩnh vực quân sự. Các hoạt động trên
ln đan xen, gắn bó mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau.
c. Quản lý nguồn nhân lực giáo dục ở đại học quân sự được tiến hành
theo chu trình khép kín và liên tục, bao gồm các khâu, các bước sau:
- Xây dựng kế hoạch quản lý nguồn nhân lực giáo dục.
Căn cứ vào kế hoạch, chỉ thị, mệnh lệnh cấp trên, tình hình cụ thể của
đơn vị, mà chủ thể quản lý xây dựng kế hoạch quản lý nguồn nhân lực giáo
dục của cấp mình. Trong kế hoạch phải xác định rõ: số lượng, chất lượng
nhân lực; cơ cấu tổ chức; nhiệm vụ; tiến trình hoạt động và các điều kiện
phương tiện đảm bảo cho nguồn nhân lực thực hiện tốt các mục tiêu giáo
dục đã xác định.
Theo sự phân công và phân cấp quản lý, có thể xây dựng kế hoạch quản
lý nguồn nhân lực giáo dục theo các mức độ: kế hoạch dài hạn, kế hoạch ngắn
hạn, kế hoạch quản lý theo chu trình. Cả ba loại kế hoạch này đều nằm trong
kế hoạch tổng thể về quản lý nguồn nhân lực giáo dục ở đại học quân sự.
- Chuẩn bị nhân sự
Kế tiếp chu trình quản lý trước, căn cứ vào những yêu cầu của chu trình
quản lý mới mà tiến hành công tác chuẩn bị nhân sự. Để bảo đảm chất lượng
và tính đồng bộ của nhân sự, người quản lý phải xem xét tồn diện q trình

hoạt động trước đó của từng cá nhân hoặc bộ phận trong hệ quản lý. Đối với
những người mới, cần phải tiến hành nghiên cứu sơ yếu lý lịch hoặc có thể
thực hiện các trắc nghiệm, phỏng vấn... để có sự hiểu biết hơn về nhân cách
của họ.
Kết quả cuối cùng của bước chuẩn bị nhân sự là có một danh sách đầy
đủ về chất lượng và số lượng nhân lực giáo dục; được sắp xếp vào hệ thống
một cách hợp lý, bảo đảm quá trình quản lý giáo dục vận hành tốt.
- Giao nhiệm vụ


Giao nhiệm vụ là một khâu quan trọng trong quản lý nguồn nhân lực
giáo dục ở đại học quân sự, có ý nghĩa định hướng hoạt động cho mọi cá nhân
và bộ phận trong hệ quản lý. Quá trình giao nhiệm vụ cần làm cho khách thể
quản lý thấy rõ: mục đích, ý nghĩa của hoạt động; nội dung, phương pháp,
điều kiện hoạt động; những thuận lợi, khó khăn; các quy định, các quan hệ,
liên hệ... trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
- Tổ chức, điều khiển hoạt động
Tổ chức điều khiển hoạt động có ý nghĩa quyết định trực tiếp đến chất
lượng, hiệu quả quản lý nguồn nhân lực giáo dục ở đại học quân sự. Trong
giai đoạn này, người quản lý cần chú ý:
Thường xuyên theo dõi việc thực hiện kế hoạch. Tuỳ tính chất, tầm
quan trọng về cơng việc của từng cá nhân, bộ phận mà có sự kiểm tra, đôn
đốc, hướng dẫn hoặc điều chỉnh; cũng có thể bồi dưỡng, huấn luyện bổ sung
để kế hoạch quản lý được thực hiện tốt. Trong quá trình tổ chức điều khiển
hoạt động, do yêu cầu nhiệm vụ mà có thể tiếp nhận, luân chuyển, hoặc
thuyên chuyển cán bộ. Dù xảy ra trường hợp nào thì người quản lý đều phải
chủ động tổ chức, điều hành công việc một cách nhịp nhàng, trôi chảy.
- Đánh giá kết quả hoạt động
Đánh giá kết quả hoạt động là công việc tiến hành thường xuyên trong
quá trình quản lý nguồn nhân lực, nhưng thường tập trung vào giai đoạn cuối

của một chu trình quản lý.
Đánh giá kết quả hoạt động là so sánh việc thực hiện nhiệm vụ của cá
nhân được giao với các tiêu chí hoặc mục tiêu đã xác định cho vị trí đó, có
tính đến tác động của hồn cảnh, điều kiện khách quan.
Đánh giá kết quả hoạt động thường có hai cách: đánh giá thường xuyên
và đánh giá theo giai đoạn.
Đánh giá thường xuyên được tiến hành hàng ngày, hàng tuần bằng sự
trao đổi thông tin liên tục giữa khách thể quản lý và chủ thể quản lý nhằm
giúp người thuộc quyền thấy rõ kết quả toàn bộ hoặc một phần các cơng việc
được giao. Qua đó, giúp họ điều chỉnh để hoàn thành tốt hơn nữa hoạt động
của mình.


Đánh giá theo giai đoạn: thường được thực hiện theo chu kỳ, nửa năm
hoặc một năm. Đánh giá theo giai đoạn nhằm mục đích: giúp người thuộc
quyền thấy rõ những thành tích và thiếu sót của mình; giúp nhà quản lý thấy
rõ những cá nhân, bộ phận đạt kết quả tốt, chỉ ra những thiếu sót cần khắc
phục. Trên cơ sở đó tiến hành khen thưởng hoặc phê bình; bồi dưỡng hoặc tổ
chức biên chế một cách phù hợp hơn.
- Tổng kết, sắp xếp lại nguồn nhân lực, chuẩn bị cho chu trình quản lý mới.
Sau một chu trình quản lý, nhà quản lý cần phối hợp tốt các lực lượng
đánh giá hoạt động sư phạm của toàn bộ nguồn nhân lực giáo dục. Trên cơ sở
đó, tổ chức biên chế sắp xếp lại nhân sự một cách khoa học đảm bảo cho hệ
quản lý bước vào chu trình mới một cách hiệu quả hơn.
Những đặc trưng cơ bản của quản lý nguồn nhân lực giáo dục đại học
quân sự vừa phản ánh tính chất đặc thù của quản lý nhân lực ở các nhà trường
đại học nói chung, vừa phản ánh những nét đặc thù của công tác giáo dục và
đào tạo ở nhà trường quân sự. Những đặc trưng trên đòi hỏi các chủ thể quản
lý giáo dục ở đại học quân sự phải rất linh hoạt, sáng tạo; thực hiện thống
nhất, đồng bộ các phương thức quản lý khoa học, làm cho toàn hệ quản lý vận

hành tốt đạt được mục đích đã đề ra.
II. NỘI DUNG VÀ CÁCH THỨC QUẢN LÝ CÁC NGUỒN NHÂN LỰC
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC QUÂN SỰ

1. Quản lý giảng viên
Nhà giáo nói chung, giảng viên đại học quân sự nói riêng giữ vị trí đặc
biệt quan trọng trong sự nghiệp giáo dục. Chính vì vậy, quản lý, xây dựng đội
ngũ giảng viên vững mạnh là điều kiện có ý nghĩa hàng đầu trong việc nâng
cao chất lượng giáo dục ở đại học quân sự.
Giảng viên đại học quân sự có nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục học viên,
nghiên cứu khoa học và thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của Bộ
Quốc phòng; đồng thời phải thường xuyên tự học tập tu dưỡng, phát triển toàn
diện nhân cách đáp ứng yêu cầu về công tác giáo dục của quân đội.
Tuy độ tuổi, học hàm, học vị, kinh nghiệm hoạt động quân sự, kinh
nghiệm nghề nghiệp khác nhau, song nhìn chung đội ngũ giảng viên đại học
quân sự đều được tuyển chọn, đào tạo cơ bản, có bản lĩnh chính trị vững vàng


trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, gương mẫu về đạo đức, lối
sống, có năng lực hoạt động nghề nghiệp bảo đảm hoàn thành tốt các nhiệm
vụ sư phạm được phân công.
Giảng viên vừa là chủ thể vừa là khách thể chịu sự tác động của các nhà
quản lý khác. Quản lý giảng viên đại học quân sự được phân cấp từ: quản lý
cấp bộ môn, quản lý cấp khoa và quản lý cấp trường, trong đó quản lý cấp
khoa là quản lý trực tiếp, sâu sắc và toàn diện nhất.
a. Đặc điểm lao động sư phạm của giảng viên đại học quân sự
- Mục đích lao động sư phạm của giảng viên đại học quân sự là đào tạo
học viên thành các cán bộ, sĩ quan quân đội, viên chức quốc phịng có đủ
phẩm chất nhân cách và năng lực hoạt động nghề nghiệp bảo đảm hoàn thành
mọi nhiệm vụ mà Đảng, quân đội và nhân dân giao phó.

- Đối tượng tác động sư phạm của giảng viên là đội ngũ học viên trong
trường đại học quân sự.
- Xuất phát từ mục tiêu, yêu cầu đào tạo thuộc lĩnh vực quân sự và đối
tượng tác động, nội dung lao động sư phạm của giảng viên phong phú, đa dạng,
phức tạp địi hỏi cao về tính khoa học, tính kế hoạch, tính kỷ luật và tính nghệ thuật.
- Phương thức tác động sư phạm chủ yếu của giảng viên đại học quân
sự là tổ chức các hoạt động dạy học, giáo dục nhằm phát triển toàn diện nhân
cách học viên; công cụ, phương tiện lao động chủ yếu của giảng viên chủ yếu
bằng lời nói, bằng tri thức khoa học, bằng học vấn, bằng hành động, bằng sự
nêu gương.
- Thời gian và không gian lao động của giảng viên. Thời gian lao động
của giảng viên phụ thuộc yêu cầu, nhiệm vụ, nội dung công việc; kể cả trong
và ngồi giờ hành chính.
Khơng gian lao động rộng lớn: ở trường, ở nhà, ở cả cơ sở giáo dục
trong và ngồi qn đội.
Do tính chất đặc điểm của giáo dục, đào tạo ở đại học quân sự và yêu
cầu khách quan của “xã hội hoá” giáo dục và liên kết đào tạo, đội ngũ giảng
viên có thể tham gia giảng dạy ở nhiều trường đại học, nghiên cứu khoa học ở
nhiều cơ sở. Ngồi ra, họ cịn tham gia các hoạt động khác như: hoạt động
chính trị - xã hội, đi dự nhiệm, tập huấn các loại hình hoạt động quân sự... nên
không gian lao động sư phạm của giảng viên đại học quân sự rất rộng lớn; thời


gian lao động của họ liên tục tuỳ thuộc yêu cầu nhiệm vụ, tính chất và khối
lượng cơng việc.
- Chất lượng lao động sư phạm của giảng viên đại học quân là khó đánh
giá hơn chất lượng hoạt động của các ngành nghề khác.
Chất lượng lao động sư phạm của giảng viên là tổng hoà các phẩm chất
và năng lực nghề nghiệp của họ được tạo nên trong quá trình hoạt động sư
phạm và được biểu hiện tập trung ở chất lượng sản phẩm đào tạo. Do vậy,

đánh giá chất lượng lao động của giảng viên phải xem xét toàn diện sự vận
động các nhân tố của quá trình sư phạm quân sự với các tiêu chí khoa học.
Những đặc điểm trên đây về lao động sư phạm của giảng viên đại học
quân sự cho thấy lao động sư phạm của họ là một dạng lao động đặc biệt. Để
tổ chức quản lý tốt loại hình lao động này, một mặt đòi hỏi nhà lãnh đạo, chỉ
huy các cấp phải có năng lực quản lý giỏi; mặt khác, địi hỏi mỗi giảng viên
phải biết tự tổ chức quản lý bản thân một cách khoa học, nghiêm túc.
b. Nội dung quản lý giảng viên
Nội dung quản lý giảng viên bao gồm:
Hoạt động giảng dạy và giáo dục học viên
Hoạt động nghiên cứu khoa học
Hoạt động tự học, tự giáo dục
Hoạt động chính trị - xã hội và xây dựng đơn vị.
Mức độ và tính chất quản lý các nội dung trên của các nhà quản lý ở
đại học quân sự được tiến hành phân cấp theo quy định của Luật Giáo dục;
Điều lệnh Quản lý bộ đội và Điều lệ Công tác nhà trường Quân đội nhân
dân Việt Nam.
c. Cách thức quản lý giảng viên
Các nhà lãnh đạo, chỉ huy ở trường đại học quân sự vận dụng tổng hợp
các phương pháp quản lý giáo dục như: Phương pháp hành chính quân sự,
phương pháp giáo dục - tâm lý, phương pháp kích thích bằng vật chất, tinh
thần. Trong phạm vi quản lý nguồn nhân lực nói chung và quản lý giảng viên
nói riêng, cần tiến hành tổng hợp các cách thức theo một trình tự sau:


- Xây dựng kế hoạch quản lý giảng viên
Kế hoạch quản lý giảng viên có thể được xây dựng ở các mức độ: dài
hạn, ngắn hạn hoặc theo năm học.
Ở cấp nhà trường xây dựng kế hoạch quản lý giảng viên phải xác
định mơ hình nhân cách cần đạt tới của người thầy giáo để xây dựng các

tiêu chí tạo nguồn.
Ở cấp khoa thường xây dựng kế hoạch quản lý giảng viên theo năm học.
Kế hoạch quản lý giảng viên phải phản ánh đầy đủ các yếu tố sau: Số
lượng và chất lượng đội ngũ; biên chế, tổ chức; nội dung, phương thức,
phương tiện hoạt động; tiến trình hoạt động, mục tiêu cần đạt trong từng thời
gian và toàn bộ chu trình quản lý của từng giảng viên và tập thể giảng viên.
- Phân công giao nhiệm vụ.
Ngay từ đầu năm học chủ thể quản lý giao nhiệm vụ cho giảng viên một
cách rõ ràng, cụ thể; hướng dẫn họ lập kế hoạch và phê duyệt kế hoạch theo
phân cấp quản lý cho từng giảng viên và tập thể giảng viên. Phổ biến, quán
triệt các nội qui, chế độ, nề nếp làm việc để họ nắm vững và thực hiện nghiêm
chỉnh, tự giác, đúng kỷ cương, mang lại chất lượng, hiệu quả cao.
- Theo dõi, đôn đốc các cá nhân và tập thể thực hiện nội dung công việc
đúng kế hoạch.
Trong giai đoạn này nhà quản lý phải thường xuyên theo dõi đối chiếu
thực tế hoạt động của từng cá nhân, tập thể với văn bản kế hoạch để có sự chỉ
đạo, điều chỉnh kịp thời. Đánh giá đúng kết quả lao động sư phạm của từng
giảng viên và tập thể giảng viên.
- Tổ chức tốt các buổi dự giờ, kiểm tra giảng.,thi dạy giỏi... nhằm nâng
cao chất lượng hoạt động sư phạm của đội ngũ giảng viên.
- Tổ chức phong phú các hình thức đóng góp ý kiến của học viên, cán
bộ quản lý giáo dục đối với hoạt động sư phạm của giảng viên như: thăm dò
trả lời ngắn bằng phiếu được thiết kế sẵn, hoặc tập hợp các ý kiến thơng qua
hội ngị qn chính, hội nghị giao ban...


- Thường xuyên hoặc theo định kỳ báo cáo với cấp trên về tình hình
quản lý giảng viên, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng trong việc tổ
chức, quản lý đội ngũ giảng viên.
- Xây dựng các quy chế hoạt động, cơ chế quản lý khoa học; xây dựng

các chức danh nhà giáo với sự đãi ngộ thích hợp; kết hợp chặt chẽ giữa động
viên khen thưởng bằng vật chất và tinh thần cũng là một biện pháp quan trọng
trong quản lý giảng viên đại học quân sự.
2. Quản lý học viên
Đội ngũ học viên trong trường đại học quân sự rất phong phú, đa dạng
với nhiều độ tuổi, cấp học, trình độ phát triển trí tuệ, phẩm chất đạo đức khác
nhau. Họ có thể là học sinh phổ thông, hạ sĩ quan, chiến sĩ, quân nhân chuyên
nghiệp, sĩ quan... được tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng thành cán bộ các cấp,
các ngành của quân đội.
Học viên đại học quân sự có nhiệm vụ học tập, rèn luyện phẩm chất
chính trị, đạo đức, lối sống, chun mơn nghiệp vụ, tác phong để trở thành
người cán bộ trong quân đội.
Quản lý học viên về thực chất là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ
của họ trong quá trình giáo dục và đào tạo ở đại học quân sự.
a. Đặc điểm hoạt động của học viên đại học quân sự
- Mục đích lao động sư phạm của học viên là hướng vào việc làm thay
đổi chính chủ thể hoạt động.
Đây là đặc điểm nổi bật so với quản lý các nguồn lực khác. Đặc điểm
này phản ánh tính năng động của khách thể quản lý, nó địi hỏi các nhà quản
lý phải biết cách phát huy cao độ tính tích cực chủ động tự tổ chức, tự quản lý
của học viên trong quá trình giáo dục và đào tạo.
- Đối tượng hoạt động của học viên đại học quân sự là hệ thống tri thức
khoa học, hệ thống kỹ năng nghề nghiệp, hệ thống các chuẩn mực, giá trị xã
hội và hoạt động quân sự.
- Phương tiện hoạt động sư phạm của học viên đại học quân sự là tài
liệu sách giáo khoa, giáo trình, phịng thí nghiệm, thao trường, bãi tập... với
các trang thiết bị theo chuyên ngành nghề nghiệp thuộc lĩnh vực quân sự.


- Hoạt động sư phạm của học viên đại học quân sự gắn liền với các hoạt

động khác trong môi trường sư phạm quân sự. Hoạt động đó diễn ra với tính
khoa học, tính kế hoạch cao được tổ chức chặt chẽ. Tâm lý học viên trong quá
trình giáo dục đào tạo ở đại học quân sự diễn ra mạnh mẽ, căng thẳng; cường
độ hoạt động trí tuệ, thể lực cao.
- Hoạt động sư phạm của học viên đại học quân sự được tiến hành trong
tập thể quân sự có tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh; dưới sự chỉ huy,
lãnh đạo trực tiếp của cán bộ các cấp, dưới sự tổ chức điều khiển của giảng
viên và sự phối hợp quản lý của các lực lượng giáo dục khác.
Những đặc điểm trên đây cho thấy: So với các trường đại học ngồi
qn đội, cơng tác quản lý học viên đại học quân sự có rất nhiều thuận lợi.
Các nhà quản lý cần tích cực nghiên cứu, phát huy thuận lợi đó trong thực tiễn
hoạt động của mình nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ở đại học
quân sự.
b. Nội dung quản lý học viên
Nội dung quản lý học viên đại học quân sự là quản lý tồn bộ các hoạt
động của họ trong q trình giáo dục, đào tạo, bao gồm: Hoạt động học tập;
nghiên cứu khoa học; hoạt động giáo dục (bao hàm cả tự giáo dục), rèn luyện
nhân cách; hoạt động chính trị, giao lưu xã hội...
c. Cách thức quản lý học viên
Để quản lý học viên đại học quân sự, các nhà quản lý cần sử dụng tổng
hợp các cách thức, biện pháp sau:
- Tổ chức điều tra cơ bản ban đầu để nắm số lượng và chất lượng
học viên.
Đây là biện pháp quan trọng mở đầu một chu trình quản lý học viên.
Nhờ điều tra cơ bản, nhà quản lý các cấp nắm được trình độ, năng lực, đặc
điểm tâm lý của học viên nói chung và từng học viên nói riêng. Trên cơ sở đó,
phân loại, bố trí cơ cấu tổ chức và ra các quyết định quản lý phù hợp.
- Hướng dẫn học viên lập kế hoạch học tập, rèn luyện thực hiện các
nhiệm vụ sư phạm; tổ chức chỉ đạo, điều khiển họ thực hiện kế hoạch.



Kế hoạch hoá vừa là một chức năng, vừa là một biện pháp quan trọng
trong quản lý học viên. Chính vì vậy, ngay từ đầu khố học, đầu năm học
người chỉ huy, lãnh đạo trực tiếp (chủ nhiệm lớp, đại đội trưởng, chính trị
viên...) cần hướng dẫn cho học viên cấp mình quản lý xây dựng kế hoạch thực
hiện các nhiệm vụ sư phạm. Trong quá trình tổ chức học viên thực hiện kế
hoạch, nhà quản lý phải thường xuyên theo dõi, tìm hiểu những hiểu hiện tích
cực và tiêu cực khi thực hiện các nhiệm vụ cũng như sự phát triển nhân cách
của tập thể học viên và từng học viên để có sự điều chỉnh kịp thời nhằm thực
hiện tốt nhất các mục tiêu quản lý đã xác định.
- Tiến hành có nền nếp các hoạt động hành chính quân sự.
Đây là biện pháp quan trọng của việc vận dụng phương pháp tổ chức
hành chính vào quản lý học viên. Tiến hành có nề nếp các hoạt động hành
chính quân sự là tổ chức học viên thực hiện đúng các quy định của Điều
lệnh Quản lý bộ đội, Luật Giáo dục, Điều lệ Công tác nhà trường Quân đội
nhân dân Việt Nam. Biện pháp này giúp cán bộ quản lý nắm chắc tình hình
học viên, mặt khác tạo điều kiện cho học viên tự rèn luyện tự quản lý nhằm
phát triển, hoàn thiện nhân cách.
- Tổ chức tốt các hoạt động cơng tác đảng, cơng tác chính trị.
Tổ chức các hoạt động cơng tác đảng, cơng tác chính trị là biện pháp
tâm lý xã hội quan trọng trong quản lý học viên. Các hình thức hoạt động như:
thi đua học tốt, rèn luyện tốt, diễn đàn thanh niên, giao lưu truyền thống... có
tác dụng kích thích học viên tích cực thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ của
quá trình sư phạm ở đại học quân sự.
- Thường xuyên tổ chức tốt các hoạt động tự quản lý của học viên.
Học viên ở đại học quân sự đều là những nhân cách đã và đang trưởng
thành. Do vậy, tuỳ từng đối tượng đào tạo mà tổ chức tốt việc tự quản lý của
họ, nhằm phát huy cao độ tính tích cực chủ động của mỗi cá nhân và tập thể
hướng vào việc thực hiện tốt nhất các mục tiêu nhiệm vụ quản lý đã xác định.
Khi tổ chức các hoạt động tự quản của học viên, cần chú ý định hướng nghề

nghiệp, tạo điều kiện để họ vận dụng những nội dung dạy học đã lĩnh hội vào
thực tiễn nhằm một mặt giúp cán bộ tiến hành tốt công tác quản lý theo chức
trách; mặt khác sẽ góp phần to lớn vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả
giáo dục và đào tạo ở đại học quân sự.


- Chủ động phối hợp chặt chẽ các lực lượng giáo dục trong tổ chức quản
lý học viên.
Ở đại học quân sự, học viên được đặt trong nhiều mối quan hệ quản lý:
sự tác động quản lý trực tiếp của cán bộ quản lý giáo dục (đại đội, lớp, tiểu
đoàn, hệ...); sự tổ chức quá trình dạy học của giảng viên; sự quản lý của các
cơ quan chức năng... Do vậy, cần phối hợp chặt chẽ các lực lượng giáo dục
trong và ngoài trường đại học quân sự tiến hành tốt công tác giáo dục học
viên, tạo điều kiện và mơi trường thuận lợi cho sự phát triển, hồn thiện nhân
cách của họ.
3. Quản lý cán bộ quản lý giáo dục
Theo quy định của Điều lệ công tác nhà trường Quân đội nhân dân Việt
Nam thì đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục trong Quân đội nhân dân Việt Nam
bao gồm: Giám đốc, chính uỷ, phó chính uỷ, các phó giám đốc; hiệu trưởng,
phó hiệu trưởng; cán bộ quản lý đơn vị học viên; cán bộ cơ quan đào tạo trong
trường; cán bộ ở các cơ quan nhà trường trực tiếp làm công tác giáo dục và
đào tạo. Điều lệ Công tác Nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam cũng chỉ
rõ: cán bộ quản lý giáo dục phải đạt những tiêu chuẩn của cán bộ quân đội và
đạt trình độ chuẩn về chuyên ngành, nghiệp vụ theo quy định đối với từng bậc
đào tạo, từng cấp trường.
Như vậy, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở đại học quân sự là một
lực lượng đông đảo gồm nhiều cấp quản lý, nhiều bộ phận với các chức
năng khác nhau.
Có thể chia thành hai loại cán bộ quản lý giáo dục. Thứ nhất, những
người trực tiếp tổ chức quản lý các nguồn lực giáo dục: giám đốc, phó giám

đốc; hiệu trưởng, phó hiệu trưởng; cán bộ quản lý các đơn vị học viên... Thứ
hai, những người quản lý các hồ sơ văn bản, tham mưu cho thủ trưởng về các
vấn đề giáo dục, đào tạo và gián tiếp quản lý học viên. Đó là cán bộ các cơ
quan chức năng: chính trị, đào tạo, nghiên cứu khoa học...
Về thực chất, quản lý cán bộ quản lý giáo dục ở đại học quân sự là quản
lý việc thực hiện các nhiệm vụ của họ trong quá trình giáo dục, đào tạo theo
các quy định của Điều lệnh Quản lý bộ đội và Điều lệ Công tác Nhà trường
Quân đội nhân dân Việt Nam.


a. Đặc điểm hoạt động của cán bộ quản lý giáo dục ở trường đại học
quân sự.
Mục đích hoạt động của cán bộ quản lý giáo dục là tổ chức, chỉ huy mọi
hoạt động của các cá nhân, đơn vị thuộc quyền hoặc tiến hành các công việc
chuyên môn được phân công hướng vào việc thực hiện mục tiêu, yêu cầu đào
tạo của trường đại học quân sự.
Đối tượng tác động của cán bộ quản lý giáo dục là tất cả các nguồn lực
giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực, thời lực). Phương thức, phương tiện lao
động là tổ chức hoạt động; là các chỉ thị, mệnh lệnh, quyết định quản lý, sự
động viên, khuyến khích...
- Hoạt động của cán bộ quản lý giáo dục ở đại học quân sự được tiến
hành trong các mối quan hệ quản lý đa dạng, phong phú, gắn bó chặt chẽ và
đan xen vào nhau. Nhất là quan hệ lãnh đạo, chỉ huy - phục tùng; quan hệ phối
hợp công tác. Hoạt động của cán bộ quản lý giáo dục đại học quân sự liên
quan nhiều đến việc tổ chức điều phối, sử dụng các nguồn lực giáo dục.
- Xét ở phạm vi quản lý nguồn nhân lực giáo dục, đối tượng tác động và
hợp tác của cán bộ quản lý giáo dục đại học quân sự rất phong phú, đa dạng,
gồm nhiều cá nhân, tập thể có chức trách, nhiệm vụ khác nhau. Trong hệ quản
lý, cán bộ quản lý giáo dục vừa là chủ thể tác động đến nhiều loại đối tượng
(học viên, quân nhân chuyên nghiệp, nhân viên phục vụ...) vừa là khách thể

chịu sự tác động quản lý của thủ trưởng cấp trên. Ngoài ra, để tiến hành hoạt
động có hiệu quả, đúng hướng họ cịn phải phối hợp công tác của nhiều cơ
quan đơn vị và chịu sự định hướng, chỉ đạo của cơ quan chức năng các cấp.
- Ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ đã được xác định với từng chức vụ,
cán bộ quản lý giáo dục đại học quân sự còn phải tiến hành một số hoạt động
khác như: giảng dạy, thực hành một số nội dung theo quy định của chỉ huy
nhà trường quân đội, nghiên cứu khoa học; tự học tập để nâng cao trình độ
chính trị, qn sự và chun mơn nghiệp vụ. Những đặc điểm trên cho thấy:
đội ngũ cán bộ quản lý là một thành phần hết sức quan trọng trong hệ thống
quản lý giáo dục; vì vậy, tổ chức quản lý tốt lực lượng này là một trong
những nhân tố có ý nghĩa quyết định đến chất lượng giáo dục đào tạo ở đại
học quân sự.


b. Nội dung quản lý cán bộ quản lý giáo dục đại học quân sự
Nội dung quản lý cán bộ quản lý giáo dục đại học quân sự là quản lý
toàn bộ hoạt động của họ, bao gồm: hoạt động tổ chức, quản lý các nguồn
lực giáo dục; hoạt động giáo dục, dạy học; hoạt động nghiên cứu khoa học;
hoạt động tự giáo dục, tự rèn luyện; hoạt động chính trị - xã hội và xây dựng
đơn vị.
c. Cách thức quản lý cán bộ quản lý giáo dục ở đại học quân sự
Lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần sử dụng tổng hợp các cách thức biện pháp
quản lý cán bộ quản lý giáo dục đại học quân sự theo một trình tự sau:
- Xây dựng kế hoạch quản lý.
Tuỳ theo phân cấp mà các nhà lãnh đạo, chỉ huy xây dựng kế hoạch
quản lý theo chu trình, thời gian khác nhau. Việc xây dựng kế hoạch được
thực hiện như kế hoạch quản lý nhân lực nói chung, song cần chú ý: bảo đảm
tính tương đối ổn định, tính liên tục và tính kế thừa để cấp dưới có điều kiện
tích luỹ kinh nghiệm, nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ
theo chức trách.

- Tổ chức biên chế cán bộ quản lý giáo dục.
Tổ chức biên chế là sắp xếp, bố trí cán bộ vào các vị trí của hệ quản lý
theo kế hoạch. Để phát huy sức mạnh của từng cá nhân và sức mạnh tổng hợp
của tập thể, việc sắp xếp, bố trí cán bộ phải rất khoa học; phải bảo đảm đồng
bộ, hợp lý về cơ cấu; đúng người, đúng việc; bảo đảm sự thống nhất, hài hồ
về đời sống tâm lý... Có thể ứng dụng các biện pháp trắc nghiệm khách quan,
trưng cầu ý kiến để nghiên cứu, tổ chức biên chế cán bộ quản lý giáo dục ở đại
học quân sự.
- Phân công, giao nhiệm vụ cho từng cá nhân, bộ phận theo phân cấp quản lý.
Bước vào đầu chu trình quản lý, lãnh đạo, chỉ huy các cấp giao nhiệm
vụ cho các cán bộ quản lý giáo dục. Công việc này thường tiến hành thông
qua việc phổ biến và quán triệt kế hoạch hoạt động. Phân công, giao nhiệm vụ
phải rõ ràng, cụ thể, nhất là đối với cấp quản lý vi mơ; trong đó cần chú
trọng nhấn mạnh những nhiệm vụ, cơng việc chủ yếu, dự kiến những tình
huống có thể nảy sinh để cán bộ quản lý tập trung giải quyết trong quá trình
thực hiện nhiệm vụ.


- Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện nhiệm vụ của từng cá nhân,
đơn vị.
Trong quá trình cán bộ quản lý giáo dục thực hiện nhiệm vụ, người lãnh
đạo chỉ huy cần phải: thu thập, xử lý thông tin liên tục từ nhiều nguồn. Ra các
quyết định quản lý nhanh chóng, chính xác nhằm thực hiện đúng kế hoạch và
giải quyết các nhiệm vụ đột xuất do trên giao hoặc do thực tiễn giáo dục đề ra.
Kết hợp hài hoà, khéo léo các phương pháp quản lý giáo dục như: hành
chính tổ chức; tâm lý xã hội... để điều chỉnh, thúc đẩy, kích thích tính tích cực
của các cá nhân và tập thể trong việc thực hiện các nhiệm vụ được phân công.
- Tổng kết kinh nghiệm hoạt động của cán bộ quản lý giáo dục.
Sau mỗi chu trình quản lý, cần tổ chức rút kinh nghiệm đối với các cán
bộ quản lý giáo dục. Trong đó, phải chỉ rõ: kết quả thực hiện các nhiệm vụ

được giao; ngun nhân thành cơng và thiếu sót; những bài học kinh nghiệm
và đề xuất được các giải pháp nâng cao chất lượng quản lý cán bộ quản lý giáo
dục cũng như chất lượng hoạt động của họ trong quá trình giáo dục, đào tạo ở
đại học quân sự.
Nhân lực giáo dục là thành tố cơ bản của các nguồn lực giáo dục có vai
trị quyết định chất lượng q trình giáo dục. Luật Giáo dục nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam và Nghị quyết Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ X
của Đảng đề cao vai trị tự chủ của cơ sở giáo dục đại học. Đây là điều kiện
thuận lợi để phát huy cao độ vai trị tích cực, chủ động, sáng tạo của các nhà
quản lý giáo dục quân sự hướng vào việc “kế hoạch hoá”, “tối ưu hoá” hoạt
động quản lý nguồn nhân lực giáo dục; điều phối hợp lý và huy động tối đa
sức mạnh tổng hợp của các nguồn lực giáo dục, góp phần to lớn vào việc nâng
cao chất lượng giáo dục, đào tạo ở đại học quân sự hiện nay.

CÂU HỎI ƠN TẬP
1. Phân tích khái niệm và các đặc trưng cơ bản của quản lý nguồn nhân
lực giáo dục ở đại học quân sự?
2. Phân tích nội dung, cách thức quản lý các nguồn nhân lực giáo dục ở
đại học quân sự, liên hệ thực tế quản lý ở các nhà trường quân sự?


Chương 7
QUẢN LÝ CƠ SỞ VẬT CHẤT KỸ THUẬT GIÁO DỤC
ĐẠI HỌC QUÂN SỰ

I. QUAN NIỆM CHUNG VỀ QUẢN LÝ CƠ SỞ VẬT CHẤT KỸ THUẬT
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC QUÂN SỰ

1. Khái niệm, vai trò, chức năng và phân loại cơ sở vật chất kỹ
thuật giáo dục đại học quân sự

a. Khái niệm cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục đại học quân sự
Xuất phát từ sự phát triển của thực tiễn giáo dục ở đại học quân sự, nội
hàm của khái niệm cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục ở đại học quân sự không
ngừng được mở rộng để thích ứng với sự phát triển của thực tiễn giáo dục và
sự phát triển của khoa học, công nghệ.
Có thể hiểu cơ sở vật chất, kỹ thụât giáo dục ở đại học quân sự là tất
cả phương tiện vật chất, kỹ thuật và sản phẩm khoa học, công nghệ được huy
động vào các hoạt động giáo dục trong nhà trường.
(Giáo dục trong nhà trường được hiểu theo nghĩa rộng và phương tiện
kỹ thuật dạy học được coi là một bộ phận chủ yếu của cơ sở vật chất kỹ thuật
giáo dục trong nhà trường).
b. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục đại học quân sự
- Các cơng trình xây dựng: hội trường, giảng đường, phịng làm việc,
phòng phương pháp, thư viện, nhà truyền thống, nhà thể thao, nhà cất giữ vũ
khí, khí tài kỹ thuật, nhà xe, nhà xưởng, đài kỷ niệm, bể bơi, sân chơi, bãi tập
v.v.. Các cơng trình đó được bố trí trong khuôn viên của trường và ở các cơ
sở, các trung tâm khác ở ngoài trường ( thao trường, trường bắn ...).
- Sách báo, tài liệu trong thư viện
- Các phương tiện kỹ thuật dạy học chuyên dụng
- Các loại máy và thiết bị phục vụ hoạt động giáo dục trong trường
- Các máy, nhạc cụ sử dụng trong hoạt động văn hoá, văn nghệ, các
thiết bị và dụng cụ thể thao


- Các máy, dụng cụ phục vụ thực hành, luyện tập, thí nghiệm, thực
nghiệm, v.v..
- Nguồn tài chính phục vụ cho hoạt động giáo dục và đào tạo.
c. Phân loại cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục ở đại học quân sự
Cơ sở vật chất kỹ thuật ở đại học quân sự có thể phân thành các loại như sau:
- Cơng trình xây dựng

Bao gồm: Hệ thống hội trường, giảng đường, phòng học, phòng
phương pháp, phòng truyền thống, nhà thư viện, thao trường, bãi tập, v.v…
- Sách báo, tư liệu của thư viện
Sách báo, tư liệu trong thư viện như: sách giáo khoa, giáo trình, sách
tham khảo, các loại báo chí, tạp chí, báo cáo nghiên cứu khoa học, luận án,
luận văn…
Các tài liệu nghe nhìn: khai thác thơng qua băng đĩa hình, máy ghi
hình, ghi âm, tư liệu thông tin trên mạng…
- Phương tiện kỹ thuật dạy học
Thiết bị nghe nhìn: Máy chiếu projector, máy chiếu bản trong, máy
chiếu dương bản, máy chiếu vật thể, máy chiếu phim nhựa, video, đầu đĩa
CD…; Micrô, tai nghe, máy khuếch đại âm thanh, radio cassette…
Thiết bị thu nhận, xử lý và chuyển tải thơng tin: Máy điện thoại, máy
Fax… máy tính (bao gồm cả mạng Internet), máy thu hình, máy phát hình…
- Thiết bị và vật liệu thí nghiệm, thực nghiệm, thực hành:
Thang giá, chai lọ, ống nghiệm, hố chất, mơ hình, mẫu vật, tranh ảnh,
chiến lệ, bản đồ, sa bàn, ống nhịm, địa bàn…
Các loại vũ khí, đạn, tàu thuyền, xe quân sự…
- Nội thất và thiết bị kỹ thuật chuyên dụng trong các phòng chuyên dụng
và hội trường
Bàn ghế, tủ sách, tủ hồ sơ, tài liệu, máy vi tính, máy in, máy photo
coppy. Cơ sở vật chất nội thất, các loại thiết bị máy móc được trang bị trong
hội trường, phịng phương pháp, nhà truyền thống, nhà văn hố, nhà thể
thao…


Dụng cụ phục vụ sinh hoạt văn hoá, văn nghệ, thể thao, vui chơi giải trí:
Các nhạc cụ, phơng màn, các dụng cụ thể thao…
Phương tiện và các trang thiết bị, vũ khí, khí tài kỹ thuật quân sự: Các
loại xe chiến đấu, xe tăng, xe cơ giới, máy bay, tàu chiến, các loại súng, pháo,

ra đa, các loại máy thông tin, các loại chất nổ, chất cháy…
Hệ thống thao trường, bãi tập : Hệ thống hầm hào, lô cốt, hệ thống vật
cản, bãi tập luyện, trường bắn…
d. Vai trò của cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục đại học quân sự
Theo góc độ quản lý, đây là một nguồn lực (vật lực) cơ bản góp phần
đảm bảo cho việc thực hiện thành công mục tiêu đào tạo của nhà trường.
Cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục là một trong những thành tố quan trọng
của quá trình dạy học - giáo dục, góp phần thực hiện nhiệm vụ, nội dung dạy
học; là một trong những cơ sở khách quan cho việc xây dựng lý luận và vận
dụng lý luận và thực tiễn; là phương tiện giúp người học thực hiện đúng quy
luật nhận thức (từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu
tượng đến thực tiễn); là điều kiện cần thiết để các lực lượng giáo dục trong
nhà trường (đặc biệt là lực lượng giảng viên và học viên) thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ và kế hoạch dạy học - giáo dục; tạo ra sự liên kết giữa hoạt
động của các bộ phận trong nhà trường và giữa nhà trường với các cơ quan,
đơn vị ngoài nhà trường.
e. Chức năng của cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục đại học quân sự
Chức năng thông tin: Được biểu hiện cụ thể ở sự nhận biết thông tin,
xử lý thông tin và chuyển tải thông tin trong dạy học - giáo dục.
Nhận biết thông tin dạy học - giáo dục: Cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục
là phương tiện nhận biết thơng tin về mục đích, nơi dung, chương trình, kế
hoạch dạy học - giáo dục, về các chế định giáo dục và đào tạo. Đồng thời, nhờ
đó mà người học nhận biết các thông tin chứa đựng trong nội dung dạy học.
Xử lý thông tin trong dạy học - giáo dục: Trên cơ sở cơ sở vật chất kỹ
thuật giáo dục, thông tin trong nội dung dạy học - giáo dục được người học
nhận biết, chọn lọc, sắp xếp một cách chính xác, theo một hệ thống logíc
khoa học.


Chuyển tải thông tin trong dạy học - giáo dục: Thông qua cơ sở vật chất

kỹ thuật giáo dục mà người dạy chuyển tải được nội dung dạy học - giáo dục
đến người học một cách có hiệu quả.
Chức năng phục vụ các hoạt động dạy học - giáo dục: Chức năng này
được biểu hiện ở hai mặt. Mặt thứ nhất, cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục trực
tiếp thực hiện hoạt động dạy học, hướng tới thực hiện mục tiêu tổng thể của
quá trình sư phạm quân sự trong nhà trường. Mặt thứ hai, cơ sở vật chất kỹ
thuật giáo dục còn phục vụ các lực lượng giáo dục thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của mình (như tiếp xúc, đi lại, sinh hoạt vật chất và tinh thần) đồng thời
thực hiện các hoạt động giáo dục khác.
Chức năng giáo dục: Cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục với tư cách là
một bộ phận cấu thành của một cơ sở giáo dục (nhà trường quân sự), do đó nó
đã vốn mang chức năng giáo dục. Cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục tiên tiến,
hiện đại sẽ có tác dụng giáo dục người học không chỉ về phương diện khoa
học mà còn cả về phương diện cảm xúc, tình cảm, thẩm mỹ…
f. Tính chất của cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục đại học quân sự.
Tính đa dạng, phức tạp: Cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục bao gồm
nhiều loại hình, nhiều vật thể và thể hiện ở nhiều hoạt động khác nhau.
Tính thường xuyên, liên tục:Tính chất này thể hiện ở chỗ, cơ sở vật
chất kỹ thuật giáo dục được chuẩn bị một cách thường trực, thường xuyên
trong nhà trường nhằm phục vụ cho quá trình đào tạo, đồng thời nó cũng tồn
tại lâu dài trong trường học.
Tính khoa học:Tính chất này nói lên rằng, cơ sở vật chất kỹ thuật giáo
dục đã chứa đựng trong đó những tri thức lý luận và thực tiễn. Đồng thời, nó
là một trong những cơ sở, điều kiện khơng thể thiếu được để tìm tịi chân lý,
khám phá các quy luật tự nhiên, xã hội, quân sự.
Tính tiêu chuẩn: Cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục được thiết kế, thi
công, sản xuất theo quy chuẩn phù hợp với tính sư phạm và các quy chuẩn đó
thường xun được nâng cao để thích ứng với giai đoạn phát triển giáo dục,
nhằm từng bước chuẩn hoá các hoạt động của nhà trường quân sự.
Tính hiệu quả giáo dục và hiệu quả kinh tế: Cơ sở vật chất kỹ thuật

giáo dục là một trong những điều kiện đảm bảo và trợ giúp cho việc nâng cao


kết quả của quá trình đào tạo trong nhà trường đại học quân sự. Việc sử dụng
đúng mục đích, phát huy được tính năng, tác dụng của mỗi loại cơ sở vật chất
kỹ thuật giáo dục sẽ mang lại hiệu quả giáo dục và hiệu quả kinh tế trong hoạt
động dạy học - giáo dục của nhà trường.
2. Quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục ở đại học quân sự
a. Khái niệm quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục đại học quân sự
Quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục ở đại học quân sự là sự tác
động hợp quy luật của chủ thể quản lý trường học đến đối tượng quản lý có
liên quan tới lĩnh vực cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục, nhằm làm cho các hoạt
động của nhà trường vận hành đạt tới mục tiêu đào tạo.
Cụ thể hơn, có thể hiểu: quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục là tác
động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý nhà trường trong việc xây
dựng, trang bị, phát triển và sử dụng một cách có hiệu quả hệ thống cơ sở vật
chất kỹ thuật giáo dục nhằm đưa nhà trường đạt tới mục tiêu dạy học.
b. Mục tiêu tổng thể của hoạt động quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật
giáo dục đại học quân sự
Mục tiêu tổng thể của hoạt động quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật giáo
dục ở đại học quân sự bao gồm:
- Phát huy hiệu lực của các chế độ, quy định về quản lý, xây dựng mua
sắm, trang bị, sử dụng, sửa chữa và bảo quản cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục
ở đại học quân sự một cách phù hợp với chương trình kế hoạch, nội dung và
xu hướng đổi mới phương pháp dạy học.
- Phát triển bộ máy tổ chức và nhân lực tham gia quản lý, đặc biệt,
nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục vào các hoạt
động dạy học.
- Huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn tài lực, vật lực dành cho quản
lý, xây dựng, mua sắm, trang bị, sửa chữa và bảo quản cơ sở vật chất kỹ thuật

giáo dục nhằm từng bước chuẩn hoá, hiện đại hoá nhà trường đại học quân sự.
- Kịp thời thu thập và xử lý chính xác các thơng tin dạy học, đồng thời
cập nhật những thông tin về tiến bộ khoa học, công nghệ, vận dụng vào thiết
kế, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục; tạo ra môi trường thuận lợi


nhằm huy động các cơ quan, đơn vị trong toàn quân vào việc tăng cường cơ sở
vật chất kỹ thuật giáo dục cho nhà trường.
c. Vận dụng các nguyên tắc, phương pháp quản lý giáo dục trong
quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục đại học quân sự
Trong quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục luôn luôn gắn liền với sự
lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng trong nhà trường.
Mọi thành viên trong nhà trường đều có quyền được biết, được đóng góp ý
kiến xây dựng và có nghĩa vụ, trách nhiệm tuân thủ sự điều hành, chỉ huy, quản lý.
Việc quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục phải thực sự mang lại chất
lượng cho hoạt động dạy học - giáo dục và đảm bảo hiệu quả kinh tế.
- Trên cơ sở các phương pháp quản lý giáo dục: Phương pháp hành
chính quân sự, phương pháp giáo dục - tâm lý, phương pháp kích thích bằng
vật chất, tinh thần, vận dụng vào quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục, cần
chú ý một số điểm như sau:
- Thường xuyên duy trì nghiêm các chế độ, quy định quản lý, xây dựng,
mua sắm, trang bị, sử dụng, sửa chữa, bảo quản cơ sở vật chất kỹ thuật giáo
dục của nhà trường.
- Thường xuyên giáo dục, nâng cao nhận thức, động viên tinh thần, trách
nhiệm của cán bộ, giảng viên, học viên, hạ sĩ quan - chiến sĩ và công nhân viên
trong việc sử dụng, bảo quản và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục của nhà
trường đảm bảo hiệu quả giáo dục và hiệu quả kinh tế cao.
- Kịp thời khen thưởng những cá nhân, tập thể có thành tích tốt trong
việc xây dựng, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục, đồng
thời xử lý nghiêm khắc đối với những cá nhân, tập thể vi phạm các quy định

trong quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục.
- Dùng lợi ích kinh tế và lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo đánh giá kết
quả hoạt động của từng cá nhân và tập thể trong quản lý cơ sở vật chất kỹ
thuật giáo dục.
- Phương tiện quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục (phương tiện
quản lý của từng công tác quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục) bao gồm:


+ Chế định giáo dục, đào tạo và các chế định của Bộ Quốc phòng thuộc
lĩnh vực quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục ở nhà trường quân sự.
+ Bộ máy tổ chức và nhân lực của nhà trường. Trong đó, có bộ máy tổ
chức và lực lượng trực tiếp tham gia quản lý, xây dựng, mua sắm, trang bị, sử
dụng, sửa chữa và bảo quản cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục.
+ Nguồn tài lực và vật lực của nhà trường đã huy động được.
+ Hệ thống thông tin và môi trường trong lĩnh vực quản lý cơ sở vật
chất kỹ thuật giáo dục ở nhà trường.
II. NHIỆM VỤ, NỘI DUNG QUẢN LÝ CƠ SỞ VẬT CHẤT KỸ
THUẬT GIÁO DỤC ĐẠI HỌC QUÂN SỰ

1. Nhiệm vụ quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục đại học quân sự
Công tác quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục gồm:
- Quản lý việc thực hiện các chế độ quy định của Bộ Quốc phòng, Bộ
Tổng tham mưu, Cục Nhà trường… và các ngành có liên quan về quản lý cơ
sở vật chất kỹ thuật giáo dục ở đại học quân sự.
- Quản lý bộ máy tổ chức và nhân lực nhà trường trong việc thực hiện xây
dựng, mua sắm, trang bị, sử dụng, bảo quản cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục.
- Quản lý nguồn tài lực và vật lực (chủ yếu là tài chính) về việc mua
sắm, trang bị, bổ sung, sửa chữa, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất kỹ thuật
giáo dục.
- Quản lý việc cập nhật thông tin mới về cơ sở vật chất kỹ thuật giáo

dục, đồng thời xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường với các cơ quan, đơn vị
ngoài nhà trường để huy động và trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục cho
nhà trường.


2. Nội dung quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục đại học quân sự
a. Quản lý hoạt động xây dựng cơ bản
Xây dựng quy hoạch xây dựng cơ bản (hệ thống hội trường, giảng
đường, thao trường, các trung tâm huấn luyện dã ngoại v.v..). Xây dựng đề án
xây dựng cơ bản. Lựa chọn bản thiết kế và làm thủ tục phê duyệt thiết kế, làm
thủ tục với chủ đầu tư và các cơ quan tài chính để có vốn. Tổ chức và làm thủ
tục đấu thầu hoặc chọn thầu thi công. Làm hợp đồng xây dựng cơ bản, quản lý
hoạt động của ban quản lý cơng trình, tổ chức nghiệm thu cơng trình và đưa cơng
trình vào sử dụng.
b. Quản lý thư viện nhà trường
Sắp xếp, bố trí các khu vực trong thư viện. Mua sắm trang thiết bị và
thanh lý sách báo, tài liệu, phân loại và sắp xếp sách và tài liệu. Giới thiệu
sách và tài liệu mới. Xây dựng quy trình hoạt động cho mượn và trả sách báo,
tài liệu. Tổ chức phòng đọc, tổ chức bảo quản sách báo và tư liệu. Quản lý các
loại hồ sơ, sổ sách ghi chép, thẻ thư viện. Tổ chức hoạt động in ấn, phôtô tài
liệu (đối với nhà trường đại học quân sự thường gắn với xưởng in, hoặc hệ
thống máy tính, máy in, máy photocopy để đáp ứng nhu cầu của bạn đọc,
giảng viên và học viên).
c. Quản lý phương tiện kỹ thuật dạy học
Trong quá trình dạy học, phương tiện kỹ thuật dạy học ln ln có
mối quan hệ chặt chẽ với nội dung và phương pháp dạy học. Muốn truyền thụ
và lĩnh hội một nội dung nào đó, địi hỏi phải có những phương pháp và
phương tiện tương ứng. Ngược lại, sự cải tiến và sử dụng các phương tiện một
cách phù hợp, linh hoạt, sáng tạo sẽ tác động trở lại đối với sự phát triển,
hoàn thiện nội dung và phương pháp, làm cho chất lượng truyền thụ và lĩnh

hội ngày càng tốt hơn. Do đó, cần phải chú trọng đến cơng tác quản lý, sử
dụng, cải tiến và không ngừng tăng cường các phương tiện kỹ thuật hiện đại
để đạt được hiệu quả ngày càng cao trong quá trình dạy học.
Trong thời đại ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và
công nghệ, việc ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng các phương tiện kỹ
thuật dạy học (nhất là các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại) ở các nhà
trường đại học quân sự đang trở thành yêu cầu khách quan và cấp thiết, nhằm


thực hiện mục tiêu chuẩn hoá, hiện đại hoá giáo dục mà Nghị quyết Đại hội X
của Đảng đã đề ra.
Để không ngừng nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng các phương tiện
kỹ thuật dạy học, một trong những điều cần thiết là phải phân loại các phương
tiện đó một cách khoa học. Trên thực tế, hiện nay có rất nhiều cách phân loại
các phương tiện dạy học khác nhau, tuỳ theo mục đích và cách thức tiếp cận.
Dưới góc độ quản lý, có thể tiến hành phân loại như sau:
- Phân loại các phương tiện kỹ thuật dạy học ở đại học quân sự
Dựa theo mục đích sử dụng, có hai loại: Loại dùng để truyền đạt tri thức
và loại dùng để thực hành.
Dựa theo hình thức tồn tại của phương tiện kỹ thuật dạy học thì có các
loại như sau: Mơ hình, mẫu vật, ấn phẩm, tài liệu nghe nhìn, dụng cụ thí
nghiệm, hố chất, thuốc nổ v.v…
Nếu dựa theo cấu tạo, các phương tiện kỹ thuật dạy học được phân
thành hai nhóm: Nhóm các phương tiện dạy học truyền thống và nhóm các
phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại.
Nhóm các phương tiện dạy học truyền thống, gồm các loại phương
tiện đã được sử dụng lâu đời và ngày nay vẫn còn được sử dụng trong dạy học
như: Tranh ảnh, biểu đồ, bản đồ, sa bàn, chiến lệ, sách báo, makét, mơ hình,
vật thật, v.v...
Nhóm các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại, đó là các phương

tiện được hình thành do sự phát triển của khoa học - kỹ thuật, đặc biệt là kỹ
thuật điện tử. Sau đây là một số phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại đang
được sử dụng trong quá trình dạy học ở đại học quân sự :
Máy chiếu: Trong dạy học, có thể sử dụng máy chiếu để chiếu lên màn
ảnh rộng các cơng thức, các hình vẽ, các sơ đồ, bảng biểu, các graph nội dung
dạy học đã được photocopy hoặc in ra trên giấy trong folie.
Máy chiếu phim dương bản: sử dụng loại máy này để chiếu lên màn
ảnh rộng các sơ đồ, tranh vẽ, bản vẽ được làm thành phim dương bản.
Máy chụp ảnh kỹ thuật số: Là thiết bị sao chụp ảnh di động bằng đĩa từ.
Loại máy này được sử dụng để sao chụp các ảnh có kích thước lớn và chụp
các cảnh thực, các mơ hình học cụ cần thiết cho q trình dạy học. Máy chụp


ảnh số liên kết với máy tính cho ảnh dưới dạng các tệp tin ảnh. Ngoài ra, máy
chụp ảnh số cịn có khả năng quay video và ghi lại các âm thanh minh hoạ cho
nội dung dạy học.
Máy quét ảnh: Là thiết bị sao chụp hình ảnh trên giấy hoặc ảnh để đưa
vào máy tính dưới dạng các tệp tin ảnh có thể chỉnh sửa, phóng to, thu nhỏ, cắt
ghép, tô màu,… Khi kết nối máy quét ảnh với máy tính có thể truy cập được
sau khi đã cài đặt trong máy tính các phần mềm hình ảnh như: Photoshop,
corel, Draw... Máy quét ảnh có độ phân giải cao, cho hình ảnh đẹp, có thể sử
dụng cho nhiều nội dung mơn học, nhất là những nội dung có sử dụng các
tranh ảnh, các sơ đồ, bảng biểu phức tạp.
Máy chiếu đa phương tiện Multimedia Projector: Là loại máy chiếu
tinh thể lỏng đa năng thường được sử dụng trong lĩnh vực truyền thông. Sử
dụng Multimedia Projector trong dạy học bằng cách kết nối với các thiết bị
khác như: Máy vi tính, đầu video, máy quét ảnh, máy chụp ảnh số,…để truyền
tải thông tin dạy học và thực hiện tất cả các chức năng của máy chiếu.
Multimedia Projector kết nối với máy tính nhằm trình chiếu lên màn ảnh rộng
tất cả những gì có trên màn hình máy tính, hoặc kết nối với video để thực hiện

các đoạn phim phục vụ cho nội dung dạy học.
Máy vi tính: Là phương tiện kỹ thuật có thể sử dụng trong nhiều lĩnh
vực khác nhau. Trong dạy học, có thể sử dụng máy tính làm phương tiện kỹ
thuật dạy học với những chức năng cơ bản như :
Phương tiện trợ giúp cho các hoạt động giảng dạy của giáo viên.
Phương tiện hoạt động học tập của học viên.
Phương tiện quản lý quá trình dạy học của cán bộ quản lý.
Ngồi ra cịn có các phần mềm dạy học như: Các phần mềm kiểm tra
đánh giá; phần mềm Visual basic; phần mềm Microsoft power point; các phần
mềm mô phỏng; các phần mềm bổ trợ phục vụ giảng dạy kết hợp; các chương
trình giảng dạy qua CD – ROM.
- Những điểm cần lưu ý trong quá trình quản lý phương tiện kỹ thuật
dạy học ở đại học quân sự
Cần phải có sự nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của phương tiện
kỹ thuật dạy học ở đại học qn sự. Có sự hiểu biết về tính năng, tác dụng cơ


×