Tải bản đầy đủ (.docx) (14 trang)

Đánh giá mối liên quan giữa hoạt động thể chất và sự tăng trưởng, thành tích học tập và các yếu tố kinh tế xã hội ở trẻ em tiểu học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (180.2 KB, 14 trang )

Mục đích : Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng hoạt động thể chất có liên quan
tích cực đến sự phát triển và thành tích học tập ở trẻ em tiểu học. Mục đích của
nghiên cứu này là xác định xem mối liên hệ này có lặp lại hay không và xác định
sự khác biệt trong các yếu tố cá nhân, xã hội và mơi trường góp phần vào hoạt
động thể chất và thành tích học tập. phương pháp :Tình trạng hoạt động thể chất
được xác định bằng PAQ-C và các phép đo khối lượng và chiều cao đã được ghi lại
và tính tốn chỉ số BMI. Thành tích học tập được đánh giá bằng các bài kiểm tra
cuối năm được tiêu chuẩn hóa trên tồn quốc. Những người tham gia đã hoàn
thành bảng câu hỏi Nghiên cứu Trường Thực phẩm Newcastle. Cha mẹ của những
người tham gia đã cung cấp thơng tin về trình độ học vấn, thu nhập gia đình, nghề
nghiệp của họ và hồn thành Bảng câu hỏi về Mơi trường ALPHA. Thử nghiệm
Chi-square về tính đồng nhất và Thử nghiệm Mẫu T độc lập được sử dụng để xác
định xem có tồn tại sự khác biệt giữa những đứa trẻ vận động nhiều hay ít. Dựa
trên những kết quả này, các yếu tố dự đoán quan trọng đã được chọn và đưa vào
mơ hình hồi quy logistic để phân tích khả năng dự đốn trình độ học vấn của
chúng. Kết quả :Giá trị trung bình của những đứa trẻ tập thể hoạt động nhiều hơn
tuân theo quỹ đạo tăng trưởng dự kiến, trong khi những đứa trẻ ít hoạt động hơn
thể hiện sự mất mát về khối lượng trong lần đo tháng Giêng. Trẻ năng động hơn có
khả năng đạt thành tích trung bình hoặc cao hơn trong đọc viết và đọc viết cao gấp
27,72 và 12,59 lần so với trẻ ít năng động hơn. Trong mơn tốn, trẻ có cha mẹ làm
nghề chun mơn có khả năng đạt điểm trung bình trở lên cao gấp 28,38 lần so với
trẻ có nghề thủ cơng. Khơng có sự khác biệt đáng kể giữa trẻ em trong các yếu tố
cá nhân, xã hội và môi trường. Kết luận :Nghiên cứu này xác nhận những phát
hiện trước đó báo cáo rằng dường như có mối liên hệ giữa hoạt động thể chất với
khối lượng cơ thể và kết quả học tập ở trẻ tiểu học, với mức độ hoạt động thể chất
được báo cáo thấp hơn có liên quan đến các tác động tiêu cực.
1. Giới thiệu
Trẻ em và thanh thiếu niên nên hồn thành trung bình ít nhất 60 phút hoạt động thể
chất mỗi ngày, bao gồm hoạt động ở cường độ vừa phải (ví dụ: đi xe đạp và các
hoạt động ở sân chơi) và/hoặc cường độ mạnh (ví dụ: chạy nhanh hoặc chơi thể
thao). Các hoạt động tăng cường cơ bắp và xương (ví dụ như nhảy dây, nhảy dây


và thể dục dụng cụ) cũng nên được kết hợp ba lần một tuần1 ,2 . Trẻ em hoạt động
thể chất có khả năng phát triển thành người lớn hoạt động thể chất, do đó, điều
quan trọng là trẻ em được hỗ trợ và có cơ hội đáp ứng các hướng dẫn được khuyến
nghị và hình thành thái độ và hành vi lành mạnh liên quan đến hoạt động thể
chất3 ,4 . Hiện tại việc tuân thủ các hướng dẫn hoạt động thể chất còn thấp, chỉ có


46,8% trẻ em ở Anh5 ,38% ở Scotland6 , 51% ở xứ Wales7 và 11,9% ở Bắc
Ireland8 đáp ứng các khuyến nghị này. Điều này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và
hạnh phúc của trẻ.
Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng hoạt động thể chất có liên quan tích cực đến
sự phát triển và thành tích học tập ở học sinh tiểu học có trụ sở tại Stoke-on-Trent,
Vương quốc Anh9. Nghiên cứu này đã chứng minh rằng những đứa trẻ ít hoạt động
thể chất hơn có cân nặng nhẹ hơn, chiều cao thấp hơn và cân nặng dao động nhiều
hơn trong năm. Trẻ em ít hoạt động hơn cũng có nhiều khả năng đạt điểm dưới
trung bình trong các bài kiểm tra tiêu chuẩn quốc gia về đọc, viết và tốn. Tuy
nhiên, những phát hiện trước đó có khả năng bị nhầm lẫn vì chúng tơi chưa tính
đến các yếu tố cá nhân, kinh tế, xã hội và mơi trường cần phải điều tra thêm. Do
đó, mục đích chính của nghiên cứu này là xác định xem liệu mối liên hệ giữa hoạt
động thể chất được báo cáo cao hơn và sự tăng trưởng cũng như kết quả học tập
được tìm thấy ở trẻ em tiểu học có được lặp lại hay khơng. Mục đích thứ hai là xác
định sự khác biệt giữa trẻ em ít hoạt động và tích cực hơn về mặt cá nhân,
2. Phương pháp
2.1. Những người tham gia
Trẻ em và cha mẹ của chúng từ Lớp 3, 4, 5 và 6 tại một trường tiểu học ở Stokeon-Trent, Staffordshire, Vương quốc Anh, được mời tham gia vào phân tích đồn
hệ tương lai này. Trẻ em và cha mẹ được yêu cầu cung cấp sự đồng ý và sự đồng ý
bằng văn bản tương ứng để tham gia. Tất cả trẻ em tham gia giáo dục thể chất
thường xuyên ở trường theo Chương trình giảng dạy quốc gia về giáo dục thể chất
ở Anh10 . Sự chấp thuận đã được cấp để tiến hành đánh giá này bởi một hội đồng
đánh giá thể chế.

2.2. Biện pháp kết quả
2.2.1. Hoạt động thể chất
Tình trạng hoạt động thể chất được xác định bằng Bảng câu hỏi Hoạt động thể chất
– Trẻ em (PAQ-C)11 . Đây là bảng câu hỏi thu hồi kéo dài 7 ngày, tự thực hiện, đo
lường hoạt động vừa phải đến mạnh mẽ trong năm học và đã được chứng minh là
có giá trị, độ tin cậy và tính nhất quán nội bộ chấp nhận được11 ,12 ,13 . Nghiên cứu
này sử dụng một phiên bản sửa đổi đã được xác nhận để sử dụng ở Vương quốc
Anh14 . Mỗi câu hỏi được cho điểm từ một đến năm với một câu hỏi cho biết khơng
có/hoạt động thể chất thấp và năm câu hỏi cho thấy hoạt động thể chất cao. Tổng
điểm từ 2,9 trở xuống cho biết học sinh ít hoạt động thể chất và điểm từ 3 trở lên


cho biết học sinh tích cực hơn. Trẻ hồn thành việc này vào đầu năm học và điểm
trung bình được tính cho mỗi trẻ.
2.2.2. Sự phát triển
Số đo khối lượng và chiều cao được ghi nhận tại 3 thời điểm trong năm học; vào
tháng 11, tháng 1 và tháng 6. Khối lượng được đo bằng một bộ cân cá nhân tiêu
chuẩn có màn hình kỹ thuật số và được ghi bằng kilôgam (kg) và chiều cao bằng
thước đo chiều cao tiêu chuẩn của Leicester và được ghi bằng centimet (cm) khi
mặc quần áo và cởi giày. Sau khi thực hiện các biện pháp này, chỉ số BMI được
tính tốn trong phần bổ trợ Microsoft Excel15 sử dụng phương pháp
LMSgrowth16 . BMI được phân loại bằng cách sử dụng Tài liệu tham khảo tăng
trưởng của WHO cho 5-19 tuổi17 ,18 và tiếp tục được phân loại thành biến danh
nghĩa bình thường và thừa cân hoặc béo phì cho mục đích phân tích dữ liệu. Độ
dày nếp gấp da của bắp tay và cơ tam đầu được đo bằng milimét (mm) bằng thước
cặp da18 . Tất cả nhân viên đã được đào tạo để đảm bảo các phép đo được thực hiện
và ghi lại một cách nhất quán.
2.2.3. Thành tích học tập
Thành tích học tập được đánh giá dựa trên kết quả của các kỳ thi cuối năm thông
qua các kỳ thi cuối giai đoạn của Tổ chức Nghiên cứu Giáo dục Quốc gia (NFER)

vào tháng 7 năm 2019. Trẻ em học 3 mơn học chính (đọc viết, Tốn và Khoa học)
với bài đánh giá đã được chuẩn hóa cho Giai đoạn Chính 2 hiệu suất tổng
thể19 . Kết quả từ các đánh giá được phân loại cho từng trẻ dưới mức trung bình
hoặc trung bình trở lên dựa trên thành tích của chúng.
2.2.4. dinh dưỡng
Những người tham gia được yêu cầu hoàn thành bảng câu hỏi Nghiên cứu Trường
Thực phẩm Newcastle20 hoàn thành dưới sự giám sát của giáo viên thể dục của
trường. Nhật ký này là một bảng câu hỏi tự ghi nhớ để theo dõi những gì trẻ ăn và
uống trong khoảng thời gian 4 ngày. Khẩu phần trung bình của trái cây và rau quả,
protein, carbohydrate, nhật ký, đồ uống có ga, kẹo và sơcơla đã được tính tốn. Nó
cũng được xác định thêm nếu những người tham gia ăn ba bữa ở trường và cả
ngày, uống đồ uống có ga hàng ngày và loại bữa trưa của họ, tức là bữa trưa ở
trường hay ở nhà.


2.2.5. Nhận thức về Bối cảnh và Môi trường của Phụ huynh/Người giám hộ
Phụ huynh/người giám hộ của những người tham gia được yêu cầu cung cấp thông
tin liên quan đến trình độ học vấn cao nhất, thu nhập gia đình và nghề nghiệp của
họ. Điều này được phân loại thêm là dựa trên thủ cơng, chun nghiệp hoặc chăm
sóc. Họ cũng được yêu cầu hoàn thành Bảng câu hỏi về Môi trường
ALPHA21 . Đây là thước đo kết quả đánh giá các khía cạnh mơi trường của hoạt
động thể chất trong quần thể người trưởng thành nói chung ở Châu Âu và đã được
chứng minh là có độ tin cậy, giá trị dự đốn và tính khả thi từ trung bình đến
tốt. Dữ liệu được nhập, làm sạch và phân tích theo hướng dẫn của tác giả22 .
2.3. Phân tích dữ liệu
Số liệu thống kê SPSS của IBM dành cho Windows (Phiên bản 24.0. Armonk, NY:
IBM Corp) đã được sử dụng để tiến hành phân tích chính các kết quả. Những thay
đổi về khối lượng trung bình, chiều cao và BMI trong năm học đã được trình
bày. Kiểm định Chi-bình phương về tính đồng nhất được sử dụng để xác định xem
phân phối xác suất của thành tích học tập về đọc, viết và tốn đối với các nhóm ít

tích cực và tích cực hơn có khác nhau trong các biến phân loại hay không (phụ lục
1). Thử nghiệm Mẫu T độc lập được sử dụng để xác định xem có sự khác biệt giữa
trẻ ít vận động hơn và trẻ năng động hơn trong các biến số liên tục và hoạt động
thể chất thời thơ ấu (phụ lục 2). Dựa trên những kết quả này, các yếu tố dự đốn
quan trọng đã được chọn và đưa vào mơ hình hồi quy logistic để phân tích khả
năng dự đốn trình độ học vấn của chúng về đọc, viết và tốn học.
3. Kết quả
Tổng cộng có 62 em (34 nữ và 28 nam) tham gia. Nó bao gồm 8 vào năm 3 (Trung
bình ± SD, 7,76 ± 0,33 năm), 16 vào năm 4 (8,64 ± 0,32 năm), 18 vào năm 5
(10,08 ± 0,31 năm), 18 vào năm 6 (10,608 ± 0,44 năm) n=2 thiếu. 59 sinh viên là
người Anh da trắng (95,2%), 1 là chủng tộc hỗn hợp (1,6%) và 2 là người châu Âu
da trắng (3,2%). 32% học sinh đã nhận được phí bảo hiểm học sinh {1}(n=20, 95%
CI 21 đến 44), 61% học sinh khơng có (n=38, 95% CI 49 đến 73) và 7% bị thiếu
(n=4). Trong tổng số 32% học sinh được phát hiện là ít năng động hơn (n=20, 95%
CI 21 đến 44) và 68% là năng động hơn (n=42, 95% CI 56 đến 79). Vào tháng 11
(n=40, thiếu n=22, 35,5%), 35,5% có chỉ số BMI bình thường (n=22, KTC 95%
0,24 đến 0,47), 6% thừa cân (n=4, KTC 95% 0,004 đến 0,13 ) và 23% bị béo phì
(n=14, KTC 95% 0,12 đến 0,33). Vào tháng 1 (n=40, thiếu n=22), 45% có chỉ số
BMI bình thường (n=28, 95% CI 0,33 đến 0,58), 3% bị thừa cân (n=2, 95% CI


-0,01 đến 0,08) và 16% bị béo phì (n=10, KTC 95% 0,07 đến 0,25). Vào tháng 6
(n=62, thiếu n=8), 55% có cân nặng bình thường (n=34, KTC 95% 0,42 đến 0,67),
9% thừa cân (n=6, KTC 95% 0,02 đến 0,17) và 23 % bị béo phì (n=14, 22,6%,
KTC 95% 0,12 đến 0,33).
Hình 1 minh họa sự thay đổi về khối lượng, chiều cao và chỉ số BMI đo được vào
tháng 11, tháng 1 và tháng 6 trong năm học. Giá trị trung bình của những đứa trẻ
tập thể hoạt động nhiều hơn tuân theo quỹ đạo tăng trưởng dự kiến, trong khi
những đứa trẻ ít hoạt động hơn thể hiện sự mất mát về khối lượng trong lần đo
tháng Giêng. Những thay đổi về chiều cao là tương tự nhau ở cả hai nhóm. Những

thay đổi của BMI phản ánh những thay đổi về khối lượng.







Hình 1. Những thay đổi về (a) Chiều cao, (b) Khối lượng và (c) chỉ số z
BMI trong năm học

Bảng 1 Thể hiện Giáo dục Gia đình và Thu nhập của cha mẹ / người giám hộ tham
gia. Thu nhập trung bình của gia đình được báo cáo là £0-19999 và trình độ học
vấn cao nhất là hồn thành GCSEs {2}đạt được lúc 16 tuổi ở Anh với 45,2%
(n=28). Trong số những người báo cáo nghề nghiệp (n=50), 52% (n=26, 95% CI
0,38 đến 0,66) trong đó những cơng việc khơng yêu cầu giáo dục đại học hoặc đào
tạo chuyên môn và 48% (n=24, 95% CI 3,4 đến 0,62), ở những ngành nghề địi hỏi
trình độ học vấn cao hơn và/hoặc đào tạo chun mơn và trình độ kiến thức và
chun môn cao trong lĩnh vực cụ thể. Hầu hết những người tham gia đều có nhận
thức thuận lợi hơn về môi trường địa phương của họ trong việc hỗ trợ cuộc sống
năng động về thể chất (93,5%, n=58). Khơng có sự khác biệt đáng kể giữa trẻ hoạt
động ít hơn hoặc hoạt động nhiều hơn (Phụ lục 1 và Phụ lục 2).


Bảng 1. Trình độ học vấn cao nhất và thu nhập hộ gia đình

Thành tích học tập cao ở cả ba môn học với đa số học sinh đạt kết quả từ trung
bình trở lên: 84,8% về đọc viết, 82% về đọc và 68,4% về tốn ( Hình 2 ). Phân
phối xác suất Chi bình phương giữa trình độ học vấn và các biến cá nhân, xã hội và
kinh tế được trình bày trong phụ lục 2. Dựa trên hoạt động thể chất này, hành vi

trong lớp, BMI tháng 11 và nghề nghiệp của phụ huynh được chọn làm biến dự
đốn trong các mơ hình hậu cần ở mỗi môn học.





Hình 2 . Sự khác biệt về thành tích học tập dựa trên (a) Mức độ hoạt động
thể chất, (b) Nghề nghiệp của phụ huynh và (c) Hành vi trong lớp học

Trong mơn đọc viết, mơ hình hồi quy logistic có ý nghĩa thống kê χ 2 (1) = 17,60,
p= 0,001. Mơ hình phân loại đúng 86,5% trường hợp, độ nhạy 93,3%, độ đặc hiệu
57,1%. Giá trị tiên đoán dương là 90,3% và giá trị tiên đoán âm là 66,7%. Trong số
bốn biến dự đốn, chỉ có mức độ hoạt động thể chất là có ý nghĩa (p=0,04) với
những trẻ năng động có khả năng đạt thành tích trung bình hoặc trên trung bình cao
gấp 27,72 lần so với những trẻ ít năng động hơn.
Khi đọc, hồi quy logistic có ý nghĩa thống kê χ 2 (4) = 12,38, p=0,02. Độ nhạy
94,4%, độ đặc hiệu 37,5%. Giá trị tiên đoán dương là 87,19 và giá trị tiên đoán âm


là 60%. Trong số 4 biến dự báo, chỉ có mức độ hoạt động thể chất là có ý nghĩa
(p=0,02) với những trẻ năng động có khả năng đạt thành tích trung bình hoặc trên
trung bình cao gấp 12,59 lần so với những trẻ ít năng động hơn.
Trong tốn học, hồi quy logistic có ý nghĩa thống kê χ 2 (5) = 19,45, p= 0,001. Độ
nhạy 96%, độ đặc hiệu 66,7. Giá trị tiên đoán dương là 88,89% và giá trị tiên đoán
âm là 85,71%. Trong số 4 biến dự đốn, chỉ có loại cơng việc của cha mẹ là có ý
nghĩa (p=0,04) với những đứa trẻ có cha mẹ làm việc trong các ngành nghề chun
mơn có khả năng đạt được thành tích trung bình hoặc trên trung bình cao hơn
28,38 lần so với những đứa trẻ ít hoạt động hơn.
4. Thảo luận

Mục đích chính của nghiên cứu này là để xác định xem liệu mối liên hệ giữa hoạt
động thể chất được báo cáo cao hơn và sự phát triển cũng như kết quả học tập được
tìm thấy ở trẻ em tiểu học có được lặp lại hay không. Các phát hiện từ nghiên cứu
này cho thấy mối liên hệ giữa hoạt động thể chất với khối lượng cơ thể và kết quả
học tập ở trẻ tiểu học được lặp lại ở một nhóm trẻ tiểu học khác biệt. Những đứa
trẻ cho biết hoạt động thể chất nhiều hơn có khả năng đạt thành tích trung bình
hoặc trên trung bình cao hơn lần lượt là 27,72 và 12,59 lần so với những đứa trẻ ít
hoạt động hơn về đọc viết và đọc.
4.1. Sự phát triển
Phần lớn trẻ em trong nghiên cứu này có chỉ số BMI bình thường, tuy nhiên, người
ta chỉ ra rằng trẻ em tiểu học ít vận động hơn sẽ bị giảm khối lượng cơ thể trong kỳ
nghỉ đơng, sau đó phục hồi nhanh chóng trong những tháng tiếp theo cho đến tháng
6, so với những trẻ em năng động hơn. duy trì khối lượng tương đối ổn định. Mặc
dù đây không phải là sự giảm đáng kể về mặt thống kê, nhưng nó có thể có ý nghĩa
lâm sàng vì những người có khối lượng cơ thể thay đổi nhiều hơn theo thời gian có
nhiều khả năng bị rối loạn tăng trưởng trong tương lai chẳng hạn như thừa cân
hoặc thiếu cân.23 .
Việc đi học có thể có tác dụng bảo vệ đối với việc duy trì cân nặng do thói quen mà
nó mang lại thông qua các bữa ăn đều đặn và được bảo vệ, các bữa ăn miễn phí ở
trường, các bữa ăn và bữa sáng có trả tiền ở trường và các câu lạc bộ sau giờ học
cung cấp đồ ăn nhẹ. Ngồi học kỳ, trẻ em có thể khơng được hỗ trợ về dinh dưỡng
và thói quen thường ngày. Áp lực mùa đơng có thể dẫn đến căng thẳng gia tăng đối
với ngân sách gia đình do sử dụng nhiên liệu tăng vọt, các chi phí liên quan đến kỳ
nghỉ và chi phí bổ sung cho việc cung cấp bữa sáng, bữa trưa và đồ ăn nhẹ cho trẻ


em đang lớn ngồi kỳ học, điều này có thể dẫn đến tình trạng thiếu lương
thực. Cần có những nghiên cứu sâu hơn để đánh giá vai trò hỗ trợ của trường học
trong việc duy trì tăng trưởng lành mạnh ở những khu vực có nguy cơ thiếu lương
thực.

Trẻ em hoạt động nhiều hơn không bị giảm khối lượng tương tự; Có thể là hoạt
động thể chất có thể được bảo vệ. Tập thể dục thường xuyên ở người lớn có thể
giúp duy trì cân bằng năng lượng và điều hịa cân bằng nội mơi của các hệ thống
sinh lý của cơ thể mặc dù tăng q trình oxy hóa chất béo, hoạt động của hệ thần
kinh giao cảm và điều hòa lượng đường trong máu và leptin24 . Phần lớn nghiên
cứu này đã được thực hiện ở những người trưởng thành thừa cân hoặc béo phì hoặc
đã giảm cân nên không thể áp dụng trực tiếp cho học sinh tiểu học. Cũng có thể là
hoạt động thể chất thấp hơn làm trầm trọng thêm tác động căng thẳng độc hại của
việc hạn chế calo và nghèo lương thực, dẫn đến tác động khuếch đại lên sự phát
triển và phúc lợi.25 . Nghiên cứu sâu hơn là cần thiết để đánh giá hiệu quả của việc
tập thể dục đối với việc điều chỉnh cân nặng ở trẻ em.
Sự khác biệt về chiều cao giữa những đứa trẻ ít vận động và những đứa trẻ hoạt
động thể chất nhiều hơn được xác định trong nghiên cứu của chúng tôi là một
thách thức để giải thích, tuy nhiên, người ta chấp nhận rằng sự phát triển thời thơ
ấu bị ảnh hưởng bởi di truyền, các yếu tố nội tiết tố và các yếu tố mơi trường như
dinh dưỡng, khí hậu, các yếu tố tâm lý và hoạt động thể chất26 . Kinh nghiệm về
nghèo lương thực, căng thẳng mãn tính và sống trong môi trường kinh tế xã hội
thấp hơn đã được chứng minh là có nguy cơ cao về tầm vóc thấp hơn27 có thể do
tác dụng ức chế sản xuất và hoạt động của Hormone tăng trưởng (GH)28 . Có ý kiến
cho rằng hoạt động thể chất có thể làm giảm nguy cơ này và có thể dẫn đến kích
thích GH, loại bỏ một số tác động tiêu cực này đối với sự tăng trưởng, tuy nhiên
kết quả nghiên cứu về giả thuyết này cho đến nay vẫn chưa có kết luận. Cũng có
thể những khác biệt được ghi nhận là do tự lựa chọn, với những đứa trẻ cao hơn, có
nhiều khả năng thích thú và được khuyến khích hoạt động thể chất nhiều
hơn. Nghiên cứu sâu hơn được đảm bảo.
4.2. Thành tích học tập
Chúng tơi xác định rằng thành tích học tập dường như có liên quan đến một số yếu
tố bao gồm mức độ hoạt động thể chất, hành vi trong lớp học và nghề nghiệp của
phụ huynh/người giám hộ. Việc áp dụng mơ hình hồi quy cho thấy mức độ hoạt
động, hành vi trong lớp học và loại nghề nghiệp phù hợp để dự đoán khả năng đạt

điểm trung bình hoặc trên trung bình về đọc viết và đọc viết. Hoạt động thể chất


được chứng minh là có ảnh hưởng mạnh nhất đến khả năng đọc và viết. Điều này
phù hợp với những phát hiện từ đánh giá trước đây của chúng tôi, hỗ trợ mối liên
hệ giữa hoạt động thể chất và kết quả học tập tích cực9 . Mặc dù hoạt động thể chất
vẫn quan trọng trong việc đạt được trình độ toán học, nhưng nghề nghiệp của cha
mẹ hoặc người giám hộ dường như là yếu tố có ảnh hưởng nhất.
Những phát hiện này hỗ trợ thêm cho vai trò của hoạt động thể chất và thể dục
nhịp tim đối với sự phát triển học tập của trẻ em. Nó đã được liên kết với những cải
tiến trong bộ nhớ29 , ra quyết định và tư duy phản biện, nhận thức29 ,30 ,31 ,32 , hành
vi31 ,33 , tập trung29 , và thành tích học tập chung29 ,34 . Việc tham gia vào hoạt động
thể chất và thể thao cũng có thể dẫn đến sự phát triển các kỹ năng cá nhân và xã
hội sẽ có ích trong mơi trường học tập. Trẻ em hoạt động thể chất có nhiều khả
năng hạnh phúc hơn, có lịng tự trọng cao hơn và ít lo lắng hơn35 ,36 ,37 . Họ cũng có
khả năng nâng cao kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm, đồng thời phát triển các
đặc điểm như lãnh đạo, tôn trọng quyền lực và quy tắc, cam kết, kiên cường, kiên
trì38 ,39 .
Nghề nghiệp của cha mẹ dường như có liên quan đáng kể đến thành tích học tập
cao hơn trong nhóm dân số này, đặc biệt là mơn tốn, với những đứa trẻ có ít nhất
cha hoặc mẹ xuất thân là chuyên gia có khả năng đạt thành tích trung bình hoặc
cao hơn 28,38 lần so với những đứa trẻ có cha mẹ làm các cơng việc chân tay . Kết
quả nghiên cứu cho thấy rằng sự tham gia của phụ huynh trong việc giáo dục con
cái của họ có liên quan đến kết quả học tập tốt hơn40 ,41 ,42 . Cha mẹ có nền tảng
chuyên mơn, có khả năng đã học lâu hơn, đạt được thành công trong học tập bằng
cách đạt được một hoặc nhiều bằng cấp học thuật. Điều này có thể có nghĩa là họ
có thể có quan điểm tích cực về tầm quan trọng của giáo dục, có kỳ vọng cao hơn,
có năng lực hơn và/hoặc thoải mái hơn trong việc hỗ trợ và đóng góp cho cơng
việc học tập của con mình và chủ động giao tiếp với giáo viên trong những năm
học40 ,41 ,42 . Tuy nhiên, những công việc chân tay đó cũng có thể đã được đào tạo

chuyên môn để hỗ trợ phát triển nghề nghiệp của họ. Cần nghiên cứu thêm để đánh
giá phát hiện này và xác định cũng như thực hiện các chiến lược phù hợp để giảm
khoảng cách đạt được
4.3. Sự khác biệt giữa trẻ ít hoạt động và trẻ năng động hơn
Mục đích thứ hai của nghiên cứu này là xác định sự khác biệt giữa trẻ em ít hoạt
động và tích cực hơn về các yếu tố cá nhân, xã hội và mơi trường có thể góp phần
vào hoạt động thể chất và thành tích học tập. Khơng có mối liên hệ có ý nghĩa
thống kê nào được xác định dựa trên giới tính trẻ em, chế độ ăn uống, thu nhập gia


đình, trình độ học vấn của cha mẹ hoặc nhận thức của cha mẹ về môi trường địa
phương dựa trên phân tích của chúng tơi. Dân số trong nghiên cứu này sống ở khu
vực thiếu thốn cao ở Vương quốc Anh, với thu nhập gia đình theo phương thức £
0-19999 và hầu hết cha mẹ hoặc người giám hộ rời khỏi giáo dục ở tuổi 16. Điều
đáng khích lệ là nhiều trẻ em trong quần thể này phát triển khỏe mạnh, thể hiện sự
phát triển khỏe mạnh, đáp ứng các hướng dẫn về hoạt động thể chất và thể hiện
thành tích học tập xuất sắc . Mặc dù khơng thể ngay lập tức loại bỏ các rào cản
kinh tế xã hội hiện có trong q trình can thiệp hoạt động thể chất, nhưng những
rào cản này có thể gây nhầm lẫn cho kết quả của các nghiên cứu kiểm soát
kém. Nghiên cứu trong tương lai sẽ cần xem xét các thiết kế có khả năng giảm
thiểu các tác động gây nhiễu này.
Mặc dù khơng có sự khác biệt về chế độ ăn uống giữa những trẻ cho biết chúng
vận động nhiều hơn hoặc ít hơn, phân tích cho thấy có những hạn chế về lượng
dinh dưỡng cho cả hai nhóm (phụ lục 1 và 2). Chế độ ăn hàng ngày có xu hướng
cao hơn trong khẩu phần carbohydrate hàng ngày và ít protein, nhật ký và trái cây
và rau quả. Điều này làm tăng khả năng thiếu hụt chất xơ, sắt và lượng vitamin và
khống chất thiết yếu, có thể có tác động tiêu cực đến sức khỏe và phúc lợi hiện tại
và nguy cơ chuyển hóa lâu dài và sức khỏe tim mạch, đồng thời làm tăng tình trạng
thừa cân hoặc béo phì trong tương lai . Đói có thể gây ra căng thẳng độc hại do
kích hoạt quá mức hoặc kéo dài các phản ứng sinh lý của cơ thể, điều này có thể

phá vỡ các quy trình điều tiết bình thường và mạch não, tác động tiêu cực đến sự
phát triển sinh lý, hành vi và sức khỏe. Chế độ ăn uống kém chất lượng không phải
là hiếm gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên, nguyên nhân có thể phức tạp về bản chất ,
tuy nhiên, do thu nhập gia đình theo phương thức của nhóm dân số này và việc sử
dụng ngân hàng thực phẩm ở Anh đã tăng 74% từ năm 2015-2020, nghèo lương
thực có thể là một yếu tố góp phần và do đó có thể là trải nghiệm sống của trẻ em
trong nghiên cứu này52 . Có thể bổ sung chế độ ăn uống, ngồi các can thiệp hoạt
động thể chất, có thể tăng cường tác động tích cực của hoạt động thể chất ở trẻ em
tiểu học, điều tra thêm được đảm bảo.
4.4. Hạn chế
Do tính chất của việc thu thập dữ liệu ở trẻ em tiểu học trong thời gian bình
thường, nó bị hạn chế ở những nơi do thiếu dữ liệu do các yếu tố mà nhà nghiên
cứu không thể kiểm soát nhưng phản ánh đúng bản chất của nghiên cứu trong môi
trường này. Lý do thiếu dữ liệu bao gồm vắng mặt, các sự kiện ở trường, tham dự
các cuộc họp không xác định và các vấn đề quản lý hành vi trong lớp. Trường hợp
các cơ hội lặp lại khả thi để thu thập dữ liệu đã được sử dụng nhưng không phải lúc


nào cũng có thể tính đến dữ liệu bị thiếu. Do tính chất nhạy cảm của một số dữ liệu
được thu thập, nó có thể dẫn đến việc giảm kích thước mẫu do cha mẹ hoặc người
giám hộ miễn cưỡng đồng ý cho con họ tham gia vào nghiên cứu này. Điều này
được giải thích bằng cách cung cấp các tùy chọn để phụ huynh không tiết lộ thông
tin mà họ không thoải mái khi chia sẻ
Mặc dù dường như khơng có sự khác biệt về chế độ ăn uống giữa trẻ năng động và
trẻ ít năng động hơn trong quần thể này, nhưng phát hiện này có thể bị hạn chế vì
dữ liệu nhật ký thực phẩm được thu thập trong học kỳ vào tháng 9, khi trẻ đang đi
học, với hỗ trợ của đội ngũ giáo viên để tạo thuận lợi cho việc đối chiếu dữ
liệu. Không thể xác định liệu có sự khác biệt trong chế độ ăn uống trong thời gian
nghỉ lễ hay không khi xác định được sự giảm khối lượng giữa những trẻ năng động
và những trẻ ít năng động hơn.

5. Kết luận
Nghiên cứu này xác nhận những phát hiện trước đó đã báo cáo rằng dường như có
mối liên hệ giữa hoạt động thể chất với khối lượng cơ thể và kết quả học tập ở trẻ
tiểu học, với mức độ hoạt động thể chất được báo cáo thấp hơn có liên quan đến
các tác động tiêu cực. Những đứa trẻ báo cáo là ít vận động hơn cho thấy sự thay
đổi lớn hơn về khối lượng trong năm học khi chúng giảm trong kỳ nghỉ đơng, sau
đó là sự phục hồi nhanh chóng trong những tháng tiếp theo cho đến tháng 6, so với
những đứa trẻ năng động hơn và duy trì khối lượng tương đối ổn định. Trẻ em hoạt
động thể chất có khả năng đạt được thành tích trung bình hoặc trên trung bình cao
hơn lần lượt là 27,72 và 12,59 lần so với trẻ em ít hoạt động hơn trong việc đọc và
viết. Mặc dù hoạt động thể chất cũng quan trọng trong toán học, nghiên cứu này
cho biết thêm rằng nghề nghiệp của cha mẹ là một yếu tố quan trọng vì trẻ em có
một hoặc nhiều cha mẹ làm việc trong một nghề nghiệp chuyên nghiệp có nhiều
khả năng đạt được thành tích trung bình hoặc trên trung bình trong mơn
tốn. Khơng có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê nào giữa thành tích học tập hoặc
mức độ hoạt động thể chất với giới tính của trẻ, chế độ ăn uống, thu nhập gia đình,
trình độ học vấn của cha mẹ hoặc nhận thức của cha mẹ về môi trường địa phương
của họ. Học sinh tiểu học có thể được hưởng lợi từ việc mở rộng các hệ thống hỗ
trợ trường học ngoài thời hạn truyền thống và các can thiệp để hỗ trợ lối sống tích
cực về thể chất. Những người tham gia vào việc phát triển và thực hiện chính sách
nên xem xét các chiến lược hiệu quả và nhất quán để thực hiện điều này ở cấp quốc
gia, khu vực và địa phương.
6. Hàm ý


• Hoạt động thể chất có liên quan tích cực đến sự phát triển khỏe mạnh và thành
tích học tập.
• Các yếu tố kinh tế xã hội không được coi là một yếu tố quan trọng trong việc xác
định mức độ hoạt động thể chất hoặc thành tích học tập ở trẻ em độ tuổi tiểu học.
• Học sinh tiểu học có thể hưởng lợi từ việc mở rộng các hệ thống hỗ trợ trường

học ngoài thời gian học kỳ truyền thống và các biện pháp can thiệp để hỗ trợ lối
sống tích cực về thể chất.
• Nhà trường có thể hưởng lợi từ việc giám sát hoạt động thể chất của học sinh,
hành vi trong lớp học và nghề nghiệp của phụ huynh để xác định những học sinh
có thể hưởng lợi từ hỗ trợ học tập bổ sung.



×