Tải bản đầy đủ (.pdf) (12 trang)

Vấn đề cơ bản của triết học là gì

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (306.21 KB, 12 trang )

Trả lời “Vấn đề cơ bản của triết học là gì?” qua lý lu ận của các trường
phái Triết học
“Vấn đề cơ bản của triết học là gì?” qua lý lu ận của các trường phái Triết
học
1. Vấn đề cơ bản của triết học là gì?
Mục lục


1. Vấn đề cơ bản của triết học là gì?



2. Chủ nghĩa duy tâm lý lu ận về “Vấn đề cơ bản của triết học là gì?”



3. Chủ nghĩa duy vật lý luận về “Vấn đề cơ bản của triết học là gì?”

Vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa tâm
và vật, giữa ý thức và vật chất. Nó là vấn đề cơ bản vì việc giải quyết nó sẽ
quyết định cơ sở để giải quyết những vấn đề khác của triết học, điều đó đã
được chứng minh trong l ịch sử phát triển lâu dài và phức tạp của triết học,
mặt khác nó cũng là là tiêu chu ẩn để xác lập trường thế giới quan của các
triết gia và học thuyết của họ. Ăngghen cũng đã tr ả lời cho câu hỏi “Vấn đề
cơ bản của triết học là gì?”, theo ơng: “V ấn đề cơ bản lớn của mọi triết
học, đặc biệt là triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn
tại”. Vì việc giải quyết vấn đề này là cơ sở và điểm xuất phát để giải quyết
các vấn đề khác của triết học. Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:
- Mặt thứ nhất, giữa ý thức và vật chất, cái nào có trước, cái nào có sau?
Cái nào quyết định cái nào?
-



Mặt thứ hai, con ngư ời có khả năng nhận thức được thế giới hay

không? Việc giải hai mặt cơ bản của triết học là xuất phát điểm của các
trường phái triết học. Trả lời mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học đã
xuất hiện nhất nguyên luận khi lấy việc thừa nhận chỉ một trong hai thực
thể (vật chất hoặc ý thức) là cái có trư ớc và quyết định cái kia, nghĩa là


cho rằng thế giới chỉ có một nguồn gốc duy nhất. Nhất nguyên luận bao
gồm nhất nguyên luận duy tâm (chủ nghĩa duy tâm, tri ết học duy tâm) và
nhất nguyên luận duy vật (chủ nghĩa duy vật, triết học duy vật).

Vấn đề cơ bản của triết học là gì?
2. Chủ nghĩa duy tâm lý luận về “Vấn đề cơ bản của triết học là gì?”
Chủ nghĩa duy tâm là trư ờng phái triết học xuất phát từ quan điểm bản chất
của thế giới là ý thức, ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai; ý
thức có trước và quyết định vật chất. Chủ nghĩa duy tâm có ngu ồn gốc nhận
thức và nguồn gốc xã hội, đó là sự xem xét phiến diện, tuyệt đối hố, thần
thánh hóa một mặt, một đặc tính nào đó của quá trình nhận thức, đồng thời
thường gắn với lợi ích của các giai cấp, tầng lớp áp bức, bóc lột nhân dân
lao động.
Mặt khác, chủ nghĩa duy tâm và tơn giáo cũng thư ờng có mối liên hệ mật
thiết với nhau để cùng tồn tại và phát triển. Chủ nghĩa duy tâm có hai hình


thức cơ bản là chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách
quan. Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con
người, khẳng định mọi sự vật, hiện tượng chỉ là phức hợp những cảm giác
của cá nhân. Đại biểu là Gióocgiơ Béccli ơng là nhà tri ết học duy tâm chủ

quan, vị linh mục người Anh.
Triết học của ông chứa đầy tư tưởng thần bí, đối lập với chủ nghĩa duy vật
và chủ nghĩa vơ thần. Ơng dựa vào quan điểm của các nhà duy danh lu ận
thời trung cổ để khẳng định rằng, khái niệm về vật chất không tồn tại
khách quan, mà chỉ tồn tại những vật thể cụ thể, riêng rẽ; sự tranh cãi về
khái niệm vật chất là hồn tồn vơ ích, khái ni ệm đó chỉ là cái tên gọi
thuần tuý mà thôi.
Vậy đối với triết học Béccli thì các vật thể cụ thể cảm tính được hiểu như
thế nào? Với tính cách một nhà triết học duy tâm chủ quan, ông đưa ra một
mệnh đề triết học nổi tiếng “vật thể trong thế giới quanh ta là sự phức hợp
của các cảm giác”. Thí dụ, cái bàn, đó khơng phải là một vật thể hữu hình
mà chỉ là do mắt ta nhìn thấy nó có hình khối; màu sắc, hương vị của hoa
quả cũng chỉ do cảm giác của con người nhận biết.
Chúng không tồn tại thật. Nói tóm lại, theo Béccli, m ọi vật thể chỉ tồn tại
trong chừng mực mà người ta cảm biết được chúng. Ơng tun bố: tồn tại
có nghĩa là đư ợc cảm biết. Như vậy chủ nghĩa duy tâm chủ quan cuối cùng
đã đưa triết học của Béccli đến chủ nghĩa duy ngã, đến chỗ phủ nhận sự tồn
tại khách quan, tồn tại thật sự của sự vật, kể cả con người, chỉ loại trừ chủ
thể đang nhận thức (tức con người có cảm giác), loại trừ cái “tôi” mà
thôi. Để cố gắng tránh rơi vào chủ nghĩa duy ngã đầy phi lí, Béccli đã
chuyển từ chủ nghĩa chủ nghĩa duy tâm chủ quan sang chủ nghĩa duy tâm
khách quan.


Ơng khẳng định rằng: chủ thể nhận thức thì khơng phải chỉ có một, khi một
vật nào đó khi khơng cịn nh ận thức bởi một chủ thể này thì nó lại tiếp tục
được nhận thức bởi các chủ thể khác. Và thậm chí tất cả các chủ thể (con
người) khơng cịn n ữa thì vật thể vẫn tồn tại như là tổng số tư tưởng trong
trí tuệ Thượng đế. Và Thượng đế cũng là một chủ thể, nhưng tồn tại vĩnh
cữu và luôn luôn đưa vào trong ý th ức những chủ thể riêng lẻ (con người)

nội dung của cảm giác.
Về bản chất giai cấp, triết học Béccli là phản ánh hệ tư tưởng của giai cấp
tư sản đã giành đư ợc chính quyền, rất sợ tư tưởng tiến bộ, cách mạng. Vì
vậy khơng phải ngẫu nhiên trong triết học của mình, Béccli đã sử dụng
phép siêu hình, ch ủ nghĩa cơ giới để chống lại những tư tưởng tiến bộ
trong khoa học, như chống lại quan niệm của Niutơn về không gian như bể
chứa những vật thể trong tự nhiên; chống lại luận điểm của Lốccơ về nguồn
gốc của khái niệm vật chất và không gian. Do vậy, triết học của Béccli là
mẫu mực và là một trong những nguồn gốc của các lí thuyết triết học tư sản
duy tâm chủ quan cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX.


Chủ nghĩa duy tâm lý luận về “Vấn đề cơ bản của triết học là gì?”
Chủ nghĩa duy tâm khách quan - thừa nhận tính thứ nhất của tinh thần, ý
thức những tinh thần, ý thức ấy được quan niệm là tinh thần khách quan, ý
thức khách quan có trư ớc và và tồn tại độc lập với giới tự nhiên và con
người. Thực thể tinh thần, ý thức khách quan này thư ờng được mang các
tên gọi khác nhau như “ý ni ệm”, “ý niệm tuyệt đối”, “tinh thần tuyệt đối”,
“lí tính thế giới”. Đại biểu là Platơn (427- 347 TCN) ông là nhà tri ết học
duy tâm khách quan. Đi ểm nổi bật trong hệ thống triết học duy tâm của
Platôn là “học thuyết về ý niệm”.
Trong thuyết này, Platôn đưa ra quan đi ểm về hai thế giới: thế giới các sự
vật cảm biến là không chân thực, khơng đúng đắn, vì các sự vật khơng
ngừng sinh ra và mất đi, luôn luôn thay đ ổi, vận động, trong chúng khơng
có cái gì bền vững, ổn định, hồn thiện. Cịn thế giới ý niệm là thế giới của
cái phi cảm tính, phi vật thể, là thế giới của đúng đắn, chân thực sự cảm


biết chỉ là cái bóng của ý niệm. Nhận thức của con người, theo Platôn
không phải là phản ánh các sự vật cảm biến của thế giới khách quan, mà là

nhận thức về ý niệm.
Thế ý niệm có trước thế giới các vật cảm biết, sinh ra thế giới cảm biết. Ví
dụ: cái cây, con ngựa, nước sinh ra. Hoặc khi nhìn các sự vật thấy là bằng
nhau vì trong đầu ta đã có sẵn ý về sự bằng nhau. Từ quan niệm trên,
Platôn đưa ra khái niệm “tồn tại” và không “tồn tại”. “Tồn tại” theo ông là
cái phi vật chất, cái được nhận biết bằng trí tuệ siêu nhiên, là cái có tính
thứ nhất.
Cịn “khơng tồn tại” là vật chất, cái có tính thứ hai so với cái tồn tại phi
vật chất. Như vậy, học thuyết về ý niệm và tồn tại của Platơn mang tính
chất khách quan rõ nét. Lí lu ận nhận thức của Platơn cũng có tính chất duy
tâm. Theo ơng tri thức, là cái có trư ớc sự vật cảm biết mà khơng phải là sự
khái quát kinh nghi ệm trong quá trình nhận các sự vật đó.
Nhận thức cảm tính có sau n hận thức lý tính, vì linh hồn trước khi nhập
vào thể xác con người ở trần thế thì ở thế giới bên kia đã có sẵn các tri
thức. Do vậy nhận thức con người không phải phản ánh các sự vật của thế
giới khách quan, mà chỉ là quá trình nhớ lại, hồi tưởng lại của linh hồn
những cái đã lãng quên trong quá kh ứ. Platôn cho rằng, những ý kiến xác
thực được khơi dậy, được hồi tưởng lại nhờ các câu hỏi đối thoại giữa lồi
người thì sẽ trở thành tri thức; Platôn gọi cách thức đối thoại như vậy là
phương pháp biện chứng.
Nếu bạn khơng có nhiều kinh nghiệm trong việc viết tiểu luận, bài tập lớn.
Bạn cần đến dịch vụ viết tiểu luận thuê tại Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, ... để
giúp mình hồn thành nh ững bài tiểu luận đúng deadline?


Khi gặp khó khăn về vấn đề viết tiểu luận, hãy nhớ đến Tổng đài tư vấn
luận văn 1080, nơi giúp b ạn giải quyết những khó khăn mà chúng tôi đã
từng trải qua.
3. Chủ nghĩa duy vật lý luận về “Vấn đề cơ bản của triết học là gì?”
Ngược lại với chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy vật là trường phái triết

học xuất phát từ quan điểm bản chất của thế giới là vật chất, vật chất là
tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai; vật chất là cái có trư ớc và quyết định
ý thức. Chủ nghĩa duy vật có nguồn gốc từ sự phát triển của khoa học và
thực tiễn, thường gắn với lợi ích của giai cấp và lực lượng tiến bộ trong
lịch sử. Nó là kết quả của q trình đúc k ết khái quát kinh nghi ệm đề vừa
phản ánh những thành tựu mà con người đã đạt được trong từng giai đoạn
lịch sử, vừa định hướng cho các lực lượng xã hội tiến bộ hoạt động trên
nền tảng của những thành tựu ấy.
Chủ nghĩa duy vật là một hình thức của thực hữu luận với quan niệm rằng
thứ duy nhất có thể được thực sự coi là tồn tại là vật chất; rằng, về căn
bản, mọi sự vật đều có cấu tạo từ vật chất và mọi hiện tượng đều là kết quả
của các tương tác vật chất. Khoa học sử dụng một giả thuyết, đôi khi đư ợc
gọi là thuyết tự nhiên phương pháp luận, rằng mọi sự kiện quan sát đư ợc
trong thiên nhiên được giải thích chỉ bằng các nguyên nhân tự nhiên mà
không cần giả thiết về sự tồn tại hoặc không-tồn tại của cái siêu nhiên. V ới
vai trò một học thuyết, chủ nghĩa duy vật thuộc về lớp bản thể học nhất
nguyên. Như vậy, nó khác với các học thuyết bản thể học dựa trên thuyết
nhị nguyên hay thuyết đa nguyên. Xét các giải thích đặc biệt cho thực tại
hiện tượng, chủ nghĩa duy vật đứng ở vị trí đối lập hồn tồn với chủ nghĩa
duy tâm.
Từ khi ra đời đến nay, chủ nghĩa duy vật đã trải qua 3 giai đo ạn cơ bản:
chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy


vật biện chứng. Chủ nghĩa duy vật chất phác ra đời vào thời cổ đại ở Trung
Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp. Hình thức cơ bản thứ hai của chủ nghĩa duy vật
thể hiện khá rõ ở các nhà triết học từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII. Tuy
những quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình có tính ch ất kế thừa từ
những quan điểm của chủ nghĩa duy vật chất phác nhưng nó có sự phát
triển hơn do cơ học cổ điển thời kỳ này đạt được những thành tựu rực rỡ.

Đến những năm 40 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã ra đời
mà C.Mác và Ăngghen là những người xây dựng và Lênin là người hoàn
thiện và bổ sung.
Ăngghen viết: “Quan niệm về thế giới một cách nguyên thủy, ngây thơ,
nhưng căn bản là đúng ấy, là quan niệm của các nhà triết học Hy lạp thời
cổ, và người đầu tiên diễn đạt được rõ ràng quan niệm ấy là Héraclite: mọi
vật đều tồn tại nhưng đồng thời lại không tồn tại, vì mọi vật đều trơi đi,
mọi vật đều khơng ngừng thay đổi, mọi vật đều luôn ở trong quá trình xuất
hiện và biến đi”. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật thời kỳ này nói chung là
đúng đắn nhưng mang tính ngây thơ ch ất phác vì chủ yếu dựa vào quan sát
trực tiếp, chưa dựa vào các thành tựu của các bộ mơn khoa học chun
ngành vì lúc đó chưa phát tri ển. Tiêu biểu cho chủ nghĩa duy vật cổ đại
còn gọi là chủ nghĩa duy vật chất phác, ngây thơ là Đêmơcrít (460 – 370
TCN).
Ơng là nhà Triết học duy vật cổ đại nhất trong thế giới cổ đại. Ông là
người hiểu biết sâu rộng rất nhiều lĩnh vực: Triết học, toán học, đạo đức
học, sinh vật học… là học trò và người kế tục phát triển quan điểm của
Lơxip. Nổi bật trong triết học duy vật của ông là học thuyết về nguyên tử.
Đêmôcrit cho rằng ngun tử khơng nhìn thấy được, khơng âm thanh, màu
sắc và mùi vị. Chúng đồng nhất với nhau về chất nhưng khác nhau v ề hình
thức, thứ tự và tư thế. Ơng quan niệm ngun tử là vơ hạn về lượng và hình


thức. Mỗi sự vật đều được cấu tạo bởi những nguyên tử do sự kết hợp giữa
chúng với nhau theo một trật tự và thế nhất định.
Sự biến đổi vật chất là do sự thay đổi trình tự sắp xếp của những nguyên tử
tạo thành còn bản thân nguyên tử thì khơng thay đ ổi. Ngun tử ln vận
động trong không gian ông th ấy rõ quan hệ chặt chẽ giữa vật chất và vận
động. Vận động là vốn có của ngun tử chứ khơng phải được đưa từ ngồi
vào. Nhưng ông chưa thấy được nguồn gốc của vận động và vận động

không chỉ là sự di chuyển trong chân không của các nguyên tử. Dựa vào
thuyết nguyên tử, Đêmôcrit thừa nhận sự ràng buộc lẫn nhau theo quy lu ật
nhân quả tính khách quan trong tính t ất yếu của sự vật, hiện tượng tự
nhiên.
Đó là đóng góp quan tr ọng của Đêmôcrit cho tri ết học duy vật. Song ơng
lại phủ nhận tính ngẫu nhiên, ơng coi ngẫu nhiên là một hiện tượng khơng
có ngun nhân. Đêmơcrit bác bỏ quan nhiệm về sự sản sinh ra sự sống và
con người của thần thánh. Theo ông sự sống là kết quả của quá trình biến
đổi dần dần từ thấp đến cao của tự nhiên. Sinh vật đầu tiên sống ở dưới
nước, sau đó chuyển lên cạn, cuối cùng con người được ra đời. Ông coi cái
chết là sự phân tích của các nguyên tử tạo nên xác và của những nguyên tử
cấu tạo lên tinh hồn chứ không phải linh hồn rời khỏi thể xác. Tuy quan
niệm của Đêmôcrit cịn mang tính m ộc mạc song nó giữ vai trò rất quan
trọng trong việc chống các quan điểm duy tâm và tơn giáo về tính bất tử
của linh hồn người.
Đêmơcrit đã có cơng lao to l ớn trong xây dựng lý luận nhận thức giải quyết
một cách duy vật vấn đề đối tượng của nhận thức, vai trò của cảm giác là
điểm khởi đầu của nhận thức và tư duy trong vi ệc nhận thức thế giới. Hình
thức cơ bản cuối cùng của chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện
chứng đại biểu là Mác, Ăngghen, Lênin. Ch ủ nghĩa duy vật biện chứng là
hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩa duy vật, do Mác – Ăngghen xây


dựng vào những năm 40 của thế kỷ XIX, sau đó đư ợc Lênin phát triển. Với
sự kế thừa tinh hoa của các học thuyết triết học trước đó và vận dụng triệt
để thành tựu của khoa học đương thời, chủ nghĩa duy vật biện chứng, ngay
từ khi mới ra đời đã khắc phục được những hạn chế của chủ nghĩa duy vật
chất phác cổ đại, chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỷ XVII – XVIII và nó đã
thể hiện được sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật khoa học và phương
pháp nhận thức khoa học.

Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ phản ánh đúng đắn hiện thực mà
cịn là một cơng cụ hữu hiệu giúp các lực lượng tiến bộ trong xã hội cải tạo
hiện thực đó. Triết học Mác - Lênin kế thừa và phát triển những thành tựu
quan trọng nhất của tư duy nhân loại, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện
chứng trong việc xem xét tự nhiên cũng như đ ời sống xã hội và tư duy con
người. Trong triết học Mác-Lênin, lý luận duy vật biện chứng và phương
pháp biện chứng duy vật thống nhất hữu cơ với nhau. Sự thống nhất đó làm
cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để và phép biện chứng trở thành lý luận
khoa học.
Nhờ đó, triết học Mác - Lênin có khả năng nhận thức đúng đắn tự nhiên, xã
hội và tư duy. Phép biện chứng duy vật không chỉ là lý luận về phương
pháp mà còn là lý luận về thế giới quan. Hệ thống quan điểm của chủ nghĩa
duy vật biện chứng trở thành nhân tố định hướng cho hoạt động nhận thức
và thực tiễn, trở thành những nguyên tắc xuất phát điểm của phương pháp
luận. Triết học Mác – Lênin còn được coi là hệ thống các nguyên lý, phạm
trù, quy luật cơ bản của phép biện chứng và sự vận dụng nó trong vi ệc
nghiên cứu lịch sử và nghiên cứu con người. Cho nên triết học Mác – Lênin
còn được gọi là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Nghiên cứu triết học Mác – Lênin thực chất là việc khẳng định ý nghĩa
bước ngoặt cách mạng do Mác thực hiện trong lịch sử triết học và được
Lênin bổ sung phát triển thêm.


Triết học Mác – Lênin khơng chỉ giải thích về thế giới vật chất và vai trò
con người về mặt lí luận mà chủ yếu là sự vận dụng nó trong ho ạt động
thực tiễn xã hội để khẳng định vai trò của triết học đối với đời sống xã hội.
Sự hình thành và phát triển của phép biện chứng duy vật Mác – Lênin đã
bao hàm sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận
khoa học. Sự hình thành những quan điểm duy vật lịch sử của triết học Mác
– Lênin được coi là cơ sở lí luận về mặt thế giới quan duy vật và phương

pháp luận khoa học để nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu con người. Đó cũng
là việc khẳng định sản xuất vật chất được coi là cơ sở đối với sự tồn tại,
vận động phát triển của xã hội, khẳng định con người là chủ thể của lịch
sử, khẳng định quần chúng nhân dân là lực lượng sáng tạo chân chính của
lịch sử, đồng thời nhấn mạnh vai trị quyết định tồn tại của xã hội, ý thức
xã hội và tính độc lập tương đối của ý thức xã hội.
Triết học Mác – Lênin giải quyết mối quan hệ triết học và khoa học hiện
đại trên cơ sở nghiên cứu của triết học. Song, nó cũng là h ệ tư tưởng của
giai cấp công nhân thế giới, là cơ sở lí luận cho sự hoạt động của đảng
cộng sản trong q trình đ ấu tranh của giai cấp cơng nhân và nhân dân th ế
giới, và quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Như vậy, trong triết học Mác
- Lênin, thế giới quan và phương pháp lu ận thống nhất hữu cơ với nhau,
làm cho triết học Mác trở thành chủ nghĩa duy vật hồn bị, một "cơng cụ
nhận thức vĩ đại". Triết học Mác ra đời đã làm thay đổi mối quan hệ giữa
triết học và khoa học; sự phát triển của khoa học tạo điều kiện cho sự phát
triển của triết học. Ngược lại, triết học Mác - Lênin đem lại thế giới quan
và phương pháp luận đúng đắn cho sự phát triển khoa học.
Trả lời mặt thứ nhất của “vấn đề cơ bản của triết học là gì” cũng đã xuất
hiện nhị nguyên luận khi lấy việc thừa nhận vật chất và ý thức là hai
nguyên thể song song tồn tại, khơng có cái nào trư ớc, chúng là hai nguồn
gốc tạo nên thế giới, mà Đêcáctơ (1596-1650) là một nhà khoa học, đồng


thời là một nhà triết học lớn của Pháp và châu âu. Ông được đánh giá là
một trong những người sáng lập nên nền triết học của thời đại mới chống
lại tôn giáo, chống lại chủ nghĩa kinh viện và cũng xây dựng tư duy mới
giúp cho việc nghiên cứu khoa học-đề ra phương pháp mới trong vấn đề
nhận thức: ”phương pháp thực nghiệm”(emperism).
Học thuyết triết học của ơng tốt lên tinh thần duy lý.Có thể chia triết học
của ơng thành hai b ộ phận là siêu hình học và khoa học (vật lý học). Trong

siêu hình học, Đêcác tơ là nhà nh ị nguyên luận ngã về phía duy tâm; nhưng
trong khoa học ông lại là nhà duy vật siêu hình máy móc n ổi tiếng. Hi vọng
với bài viết này sẽ giúp bạn trả lời được câu hỏi “vấn đề cơ bản của triết
học là gì?”. Chúc b ạn học tập tốt!



×