Tải bản đầy đủ (.pdf) (65 trang)

Nâng cao bản lĩnh chính trị của học viên đào tạo KSQS

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.97 MB, 65 trang )

1

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU

4

Chương 1. MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO BẢN LĨNH
CHÍNH TRỊ CỦA HỌC VIÊN ĐÀO TẠO DÀI HẠN TẠI HỌC
VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ TRƯỚC TÁC ĐỘNG MẶT
TRÁI CỦA MẠNG XÃ HỘI
1.1.

Khái niệm bản lĩnh chính trị.

12

1.2.

Một số vấn đề về mạng xã hội.

14

1.3.

Vị trí ,vai trị của bản lĩnh chính trị đối với học viên Học

16

viện Kỹ thuật quân sự.


1.4.

Quan điểm chủ trương của Đảng ủy TW BQP, Đảng ủy Ban

19

giám đốc học viện về nâng cao bản lĩnh chính trị cho học
viên đào tạo dài hạn tại Học viện Kỹ thuật quân sự trước tác
động mặt trái của mạng xã hội.
Chương 2. THỰC TIỄN NÂNG CAO BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ

23

CỦA HỌC VIÊN ĐÀO TẠO DÀI HẠN TẠI HỌC VIỆN KỸ
THUẬT QUÂN SỰ TRƯỚC TÁC ĐỘNG MẶT TRÁI CỦA
MẠNG XÃ HỘI.
2.1.

Thực trạng sử dụng mạng xã hội của học viên đối với bản

23

lĩnh chính trị.
2.2.

Tác động của mạng xã hội đối với bản lĩnh chính trị.

Chương 3. NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO BẢN LĨNH

32

38

CHÍNH TRỊ CỦA HỌC VIÊN ĐÀO TẠO DÀI HẠN TẠI HỌC

VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ TRƯỚC NHỮNG TÁC ĐỘNG
TIÊU CỰC CỦA MẠNG XÃ HỘI
3.1.

Thường xun làm tốt cơng tác giáo dục chính trị tư tưởng
cho học viên.

38


2

3.2.

Nâng cao nhận thức của học viên về tác động mặt trái từ

44

mạng xã hội tới BLCT.
3.3.

Phát huy vai trò tích cực chủ động của học viên trong việc

47

tu dưỡng rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị trước tác

động mặt trái mạng xã hội .
3.4.

Kịp thời nắm bắt giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh

50

trong tư tưởng của học viên .
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

53

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

55

PHỤ LỤC

58


3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

Bộ Quốc phịng


BQP

Bản lĩnh chính trị

BLCT

Chủ nghĩa xã hội

CNXH

Cơng tác Đảng- Cơng tác chính trị

CTĐ-CTCT

Học viện Kỹ thuật Qn sự

HVKTQS

Mạng xã hội

MXH

Quân ủy Trung ương

QƯTW


4

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Bước vào “kỷ nguyên 4.0”, con người càng trở nên bận rộn và ít có điều
kiện để gặp gỡ, trao đổi thơng tin, tình cảm trực tiếp với nhau. Điều này đặt ra
nhu cầu bức thiết về một giao thức mà ở đó con người có thể kết nối khơng giới
hạn về cả khơng gian và thời gian. Vì vậy những năm gần đây, cùng với sự phát
triển của cơng nghệ thơng tin thì mạng xã hội (MXH) đã có bước phát triển mạnh
mẽ, tác động lớn đến đời sống xã hội ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong

đó có Việt Nam. Mạng xã hội hay còn được gọi là mạng xã hội ảo (Social
Network) là dịch vụ kết nối các thành viên có cùng sở thích trên Internet lại với
nhiều mục đích khác nhau khơng phân biệt khơng gian và thời gian. Tính ưu trội
của mạng xã hội với sự đa dạng của các trang mạng xã hội được sử dụng hiện nay
như: Facebook, Google, Twitter, Youtube, Zalo,Instagram… với rất nhiều tính
năng: chat, e-mail, phim ảnh, voice chat, chia sẻ files, blog và xã luận. Mạng xã
hội giúp người dùng chia sẻ từng câu chuyện cá nhân hay những câu chuyện cuộc
sống, các ý tưởng, video… tạo ra khả năng giao lưu, chia sẻ, kết nối cộng đồng

rất thuận lợi. Ngồi ra, mạng xã hội cịn được trang bị trên nhiều công cụ cũng
như vận hành trên các nền tảng như: máy tính bàn, laptop, máy tính bảng, điện
thoại…Tất cả đều là những tính năng đặc biệt hấp dẫn đối với người sử dụng.
Mạng xã hội mang lại cho người sử dụng rất nhiều tiện ích trong đó có một
tiện ích khá quan trọng, nó làm thay đổi mạnh mẽ hình thức giao tiếp giữa những
cá nhân, các nhóm và các quốc gia với nhau đó chính là khả năng kết nối. Đây là
một không gian giao tiếp công cộng phi vật thể tạo liên kết dễ dàng, thuận tiện,
nhanh nhất giữa con người với nhau thơng qua nhiều hình thức, liên kết rộng và

không bị giới hạn bởi chiều không gian. Cho nên lượng thông tin chia sẻ là hết
sức lớn và vơ cùng phong phú, đa dạng.Chính vì vậy số lượng người sử dụng
mạng xã hội ngày càng đơng đảo. Vì số lượng người sử dụng lớn kết hợp với việc
mạng xã hội được xây dựng dựa trên nền tảng của Internet mà bản chất Internet

là môi trường mở cho phép người sử dụng được tự do cung cấp, tìm kiếm và sử


5

dụng thơng tin, tính truyền tải nhanh, diện tham chiếu rộng, thơng tin gần như tức
thì, dễ tạo hiệu ứng xã hội theo chiều rộng nên rất khó quản lý và kiểm sốt.
Internet được ví như “con dao 2 lưỡi” nếu người sử dụng biết tận dụng tính
năng đa dạng của mạng xã hội một cách thông minh và mục đích thì rất có lợi.
Khi người dùng biết cách sử dụng một cách hiệu quả thì mạng xã hội là nơi để
cung cấp them cho họ ngồn tri thức, nâng cao giá trị bản thân, là nơi để gắn kết
cộng đồng, là nơi để sẻ chia những bất hạnh, niềm vui của những người có cùng
trái tim biết thơng cảm và giúp đỡ những người có hồn cảnh đáng thương, cần

sự trợ giúp của xã hội. Ngược lại, nếu người dùng khơng sử dụng đúng cách thì
sẽ là một mối hiểm họa khó lường. Lúc này, mạng xã hội sẽ đưa đến những hiện
tượng tiêu cực, đó chính là hiện tượng “khủng hoảng thông tin” gây rối dư luận.
Một lượng lớn thơng tin khơng có ngồn gốc chính thống, chưa được kiểm duyệt
nhằm mục đích nói xấu, bơi nhọ người khác hoặc kích động, phản động. Sự phát
tán thơng tin từ mạng xã hội rất nhanh và dễ dàng tạo môi trường cho kẻ xấu lợi
dụng gây nguy hại đến tư tưởng, tinh thần của người dùng mạng xã hội. Những
tác động từ mặt trái của mạng xã hội đã phần nào làm hạn chế các giá trị đạo đức,

tư tưởng, văn hóa nhân văn của một bộ phận thanh thiếu niên hiện nay. Đặc biệt
trong giai đoạn hiện nay các thế lực thù địch đã triệt để tận dụng mạng Internet để
thực hiện chiến lược “Diễn biến hịa bình” chống phá cách mạng Việt Nam.
Trên thực tế, có rất nhiều thơng tin, hình ảnh có nội dung xấu độc, trái với
truyền thống văn hóa dân tộc được tán phát lên các trang thông tin điện tử
(website), blog, mạng xã hội, trên phần phản hồi (comment) của các báo điện tử…
Vì vậy, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng Internet để đẩy mạnh hoạt động

tuyên truyền những thông tin xấu độc, đăng tải những status trên trang blog cá

nhân với ngơn ngữ, luận điệu đầy tính kích động, phản động, xuyên tạc đường lối,
chính sách của Đảng, Nhà nước nhằm xóa bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, phủ nhận vai trị lãnh đạo của Đảng và những thành tựu của cơng cuộc
đổi mới; địi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, “phi chính trị hóa” qn đội;
đưa những thơng tin sai trái, thậm chí xuyên tạc nhằm làm giảm sút lòng tin của
các tầng lớp nhân dân đối với Đảng, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; gây thù


6

hận mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” tạo dựng ngọn cờ, kích động, lơi kéo tập hợp lực lượng gây mất ổn
định chính trị, trật tự an tồn xã hội.
Thanh niên quân đội là một bộ phận ưu tú, vừa mang đầy đủ bản chất và
truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Thanh niên
trong Quân đội Việt Nam nói chung và học viên của Học viện Kỹ thuật Quân sự
nói riêng hiện nay đã và đang tiếp cận, sử dụng các trang mạng xã hội với nhiều
mục đích khác nhau như: tìm kiếm tài liệu phục vụ học tập, trao đổi thông tin hữu

ích, chia sẻ, kết nối bạn bè… Tuy nhiên trên thực tế, do tuổi cịn trẻ, bản lĩnh chính
trị, lập trường tư tưởng đang trong q trình tích lũy và hồn thiện, thích khám
phá những vấn đề mới cùng với tâm lý thích nổi tiếng, thích được mọi người chú
ý,… khiến cho một bộ phận học viên thanh niên quân đội không tránh khỏi những
tác động tiêu cực, đặc biệt là những tác động trực tiếp ảnh hưởng đến bản lĩnh
chính trị, lập trường tư tưởng, đạo đức, lối sống, mục tiêu, lý tưởng cách mạng
của thanh niên quân đội hiện nay. HVKTQS anh hùng là một trường quân đội với
bề dày lịch sử 55 năm truyền thống kể từ khi thành lập đến nay, học viện đã đào


tạo bao thế hệ kĩ sư, sĩ quan chỉ hay kỹ thuật với bản lĩnh chính trị, lập trường tư
tưởng vững chắc. Cho nên, việc nâng cao bản lĩnh chính trị của học viên đào tạo
dài hạn tại HVKTQS là hết sức cần thiết.
Vì vậy, chúng tơi chọn đề tài “Nâng cao bản lĩnh chính trị của học viên
đào tạo dài hạn tại Học viện Kỹ thuật Quân sự trước những tác động từ mặt
trái của mạng xã hội.” để nghiên cứu là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đến nay đã có nhiều cơng trình khoa học của nhiều tác giả trong và ngoài
nước nghiên cứu về xây dựng quân đội về chính trị trong đó có đề cập đến bản
lĩnh chính trị dưới các góc độ khác nhau và có những giá trị nhất định.
*Những cơng trình nghiên cứu ở nước ngồi có liên quan đến đề tài
V.A Xu-khơm-lin-xki (1961), Hình thành niềm tin cộng sản cho thế hệ trẻ.
Trên cơ sở những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về bồi dưỡng, xây dựng


7

thế hệ trẻ, tác giả đã luận giải làm rõ những vấn đề cơ bản về bồi dưỡng, giáo dục,
rèn luyện thế hệ trẻ; trọng tâm triển bản lĩnh - niềm tin cộng sản. Tác giả nhấn
mạnh, một rong những con đường” hình thành niềm tin cộng sản, xây dựng bản
lĩn hiệu quả nhất đó là thơng qua học tập tại các nhà trường cộng sản.Trong đó ,
việc phát huy vai trò tự học tập, tự rèn luyện của mỗi cá nhân quyết định đến việc
giúp thanh, thiếu niên không ngừng hình thành bồi đắp niềm tin cộng sản
A.A.Grê-scơ (1978), Các lực lượng vũ trang của nhà nước Xô Viết . Cơng
trình đã chỉ rõ vai trị to lớn của cơng tác giáo dục chính trị tư tưởng, bồi dưỡng

bản lĩnh cho cán bộ, sĩ quan các lực lượng vũ trang.Theo tác giả, cơng tác giáo
dục chính trị tư tưởng, bồi dưỡng bản lĩnh cho cán bộ, sĩ quan các lực lượng vũ
trang có tính kiên định cộng sản chủ nghĩa, có lịng trung thành vơ hạn với Đảng

và nhân dân; có kỷ hành kỷ luật cao; có sáng kiến và tính chủ động...
A.A Ê-pi-sép (1978), Một số vấn đề cơng tác đảng, cơng tác chính trị trong
các lực lượng vũ trang Liên Xơ . Cơng trình đã đề cập đến vấn đề xây dựng bản
lĩnh, trang bị niềm tin cộng sản chủ nghĩa cho người chiến sĩ trên cơ sở hoạt động
CTĐ, CTCT nói chung và hoạt động cơng tác tư tưởng nói riêng.Tác giả cuốn

sách đã tập trung phân tích, luận giải, làm rõ những kinh nghiệm thực tiễn và tổng
kết một số vấn đề chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả CTĐ, CTCT. Bàn về vai trò
và đặc điểm của công tác tư tưởng trong xây dựng các phẩm chất cần thiết của
người chiến sĩ quân đội và hải quân,tác giả nhấn mạnh: “Công tác tư tưởng là một
biện pháp cực kỳ quan trọng,nhằm bồi dưỡng cho quân đội Liên Xô giác ngộ cộng
sản chủ nghĩa” Theo đó vấn đề quan trọng là cần xây dựng ở những người bảo vệ
đất nước Liên Xô sự vững vàng về tư tưởng bởi thực tế chứng minh, các quân
nhân có nhận thức chính trị càng cao, có bản lĩnh vững vàng và niềm tin cộng sản

chủ nghĩa càng sâu sắc thì họ càng hiểu rõ và càng hăng hái hoàn thành nghĩa vụ
đối với Tổ quốc.Do vậy “những vấn đề có liên quan đến việc xây dựng con người
thế giới quan khoa học và niềm tin cộng sản chủ nghĩa là điểm trung tâm của công
tác tư tưởng”.
V.Mi-khai-lốp (1979), V.I. Lênin, Đảng Cộng sản Liên Xô bàn về công tác
đảng, cơng tác chính trị trong các lực lượng vũ trang.Nội dung bài viết khẳng định


8

rõ vai trò, tầm quan trọng, ý nghĩa của CTĐ-CTCT, cơng tác giáo dục chính trị tư
tưởng... Tác giả nhấn mạnh, để xây dựng Hồng quân Liên Xô vững mạnh, vấn đề
có ý nghĩa quan trọng đó là “ phát huy ý thức giác ngộ xã hội chủ nghĩa của quần
chúng hồng quân, giáo dục chính trị cho họ, tăng cường ý thức kỷ luật tự giác,
nâng cao tinh thần cho họ

*Những cơng trình trong qn đội.
Đến nay, đã có nhiều đề tài luận án, luận văn nghiên cứu về bản lĩnh chính
trị của các đối tượng trong quân đội ở các khía cạnh khác nhau, tiêu biểu như:

Luận án Tiến sĩ “Nâng cao bản lĩnh chính trị của sĩ quan trẻ Quân đội nhân
dân Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Đình Tu. Tác giả đã đưa ra quan niệm bản
lĩnh chính trị của sĩ quan trẻ, đồng thời khái quát những đặc điểm quy định sự
hình thành và phát triển bản lĩnh chính trị của sĩ quan trẻ quân đội, đó là: mối quan
hệ biện chứng giữa kinh tế, chính trị và xã hội; kết quả của q trình kế thừa và
phát triển bản lĩnh của dân tộc, của Đảng, của quân đội, của lớp người đi trước;
được rèn luyện và nâng cao thông qua hoạt động thực tiễn; luôn chịu sự tác động
của yếu tố khách quan và nhân tố chủ quan, giữa giáo dục và tự giáo dục. Sau khi

phân tích, luận giải, tác giả đi đến kết luận: những đặc điểm trên, đồng thời là
những vấn đề có tính quy luật của q trình hình thành và phát triển bản lĩnh chính
trị của sĩ quan trẻ. Vì vậy, để nâng cao bản lĩnh chính trị của sĩ quan trẻ cần tác
động tích cực, tồn diện tất cả các đặc điểm nói trên, khơng được tuyệt đối hóa
hoặc xem nhẹ đặc điểm nào.
Luận văn Thạc sĩ “Bản lĩnh chính trị của đội ngũ phi cơng trẻ ở Trường Sĩ
quan Khơng qn hiện nay” của Trần Thanh Bình; tác giả đã đưa ra quan niệm và
những biểu hiện bản lĩnh chính trị của đội ngũ phi cơng trẻ ở Trường Sĩ quan

Không quân hiện nay. Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng bản lĩnh chính trị
của đội ngũ phi công trẻ, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra đối với nâng cao
BLCT của đội ngũ phi công trẻ ở Trường Sĩ quan Không quân hiện nay, tác giả
đã xác định yêu cầu và đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao bản lĩnh chính
trị của đội ngũ phi cơng trẻ ở Trường Sĩ quan Không quân hiện nay.


9


Viện Khoa học xã hội nhân văn Quân sự, “ Xây dựng Quân đội nhân dân
Việt Nam về chính trị”.Cuốn sách khẳng định, trong quá trình xây dựng Quân đội
nhân dân về chính trị, nhân tố chủ yếu quyết định là con người .Đảng Cộng sản
Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến cơng tác giao dục chính
trị , lanh đạo tư tưởng ,bồi dưỡng ,rèn luyện bộ đội về bản lĩnh chính trị .Để xây
dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị trong giai đoạn mới, cần đặc biệt
coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị có phẩm chất chính trị đạo đức lối
sống thực sự tiền phong gương mẫu.

Lê Văn Nam (2020), “Phát huy vai trò của học viên các Nhà trường Quân
đội trong đấu tranh phòng, chống âm mưu “Phi chính trị hóa” Qn đội trên khơng
gian mạng”. Tạp chí Qn đội- Quốc phịng, số 2.0. Bài báo đã phân tích, đánh
giá làm rõ âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” qn đội trên khơng gian mạng
của các thế lực thù địch, chỉ ta những tác động của nó đối với việc rèn luyện bản
linh chinh trị của học viên các học viện, nhà trường Quân đội. Trên cơ sở đó tác
giả đề xuất các biện pháp nhằm phát huy vai trò của học viên các Nhà trường
Quân đội trong đấu tranh phòng, chống âm mưu “phi chinh trị hóa” qn đội trên

khơng gian mạng.
Lê Văn Nam (2020), Nâng cao năng lực tiếp cận Cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ tư cho học viên đào tạo kỹ sư quân sự tại Học viện Kỹ thuật quân
sự, Tạp chí Qn sự -Quốc phịng, số 27. Tác giả đã phân tích làm rõ xu thế phát
triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chỉ rõ nội dung, bản chất, đặc
điểm và những tác động của cuộc cách mạng công nghiệp này tới các linh vực
kinh tế, xã hội, quốc phịng, an ninh. Trên cơ sở đó tác giả đề ra chủ trương, biện
pháp nâng cao năng lực tiếp cận với Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cho

học viên đào tạo KSQS tại Học viện.
Tuy nhiên chưa có cơng trình nào nghiên cứu về việc Nâng cao bản lĩnh

chính trị của học viên đào tạo dài hạn tại Học viện Kỹ thuật Quân sự trước những
tác động từ mặt trái của mạng xã hội.


10

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Luận giải ,làm rõ những vấn đề lý luận ,thực tiễn giúp mỗi học viên kiên
định lập trường, tư tưởng và bằng ý chí, năng lực của mình vượt qua khó khăn,
thử thách, áp lực để quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của mình, đơn vị
trước tác động mặt trái của mạng xã hội.
*Mục tiêu
Nghiên cứu làm rõ vấn đề lý luận và thực tiễn về bản lĩnh chính trị của học

viên ; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những tác động tiêu
cực từ mặt trái của mạng xã hội đến lập trường tư tưởng , bản lĩnh chính trị của
học viên
*Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Khái quát lý luận về bản lĩnh chính trị của học viên.
- Đánh giá thực trạng, chỉ ra những mặt tiêu cực của xã hội và tác động của
những mặt tiêu cực đó.
- Phân tích và đề xuất biện pháp, giải pháp nâng cao bản lĩnh chính trị và

khắc phục những tác động tiêu cực của mạng xã hội đối với người học viên
- Kiểm nghiệm những giải pháp.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài.
- Đối tượng nghiên cứu: Nâng cao bản lĩnh chính trị của người học viên tại
Học viện Kỹ thuật quân sự.
- Khách thể nghiên cứu: Những mặt trái của mạng xã hội

- Phạm vi nghiên cứu :Nghiên cứu được thực hiện trên những đối tượng là
học viên đào tạo dài hạn tại Học viện Kỹ thuật Quân sự.

5. Các phương pháp nghiên cứu.
*Phương pháp nghiên cứu chính trong đề tài là phương pháp quan sát : Thu
thập các thông tin ,kết quả quan sát từ thực tế của học viên tại Học viện Kỹ thuật
quân sự.


11

*Phương pháp nghiên cứu tài liệu : Các cơ sở lý thuyết liên quan đến Bản
lĩnh chính trị ; nâng cao bản lĩnh chính trị ; Nâng cao bản lĩnh chính trị của học
viên Học viện Kỹ thuật quân sự.
*Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết : Nghiên cứu các nội dung tài
liệu ,chọn lọc các khía cạnh của tài kiệu để phục vụ giải quyết vấn đề liên quan
đến bản lĩnh chính trị của học viên học viện Kỹ thuật quân sự.Tiến hành bổ sung,
điều chỉnh, lựa chọn rút ra các nhận xét ,đanh giá kết luận và giải thích các hiện
tượng liên quan.
*Phương pháp điều tra, khảo sát : phát hiện các quy luật , nguyên nhân , mặt
trái tác động của Mạng xã hội đến bản lĩnh chính trị của học viên Học viện Kỹ
thuật Quân sự.
6. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp thêm các cơ sở khoa học cho các
cấp lãnh đạo , chỉ huy trong việc nâng cao bản lĩnh chính trị của học viên đào tạo
dài hạn tại Học viện Kỹ thuật quân sự trước những tác động mặt trái của mạng xã
hội.
7. Kết cấu của đề tài
Kết cấu của đề tài gồm : Phần Mở đầu ; Chương 1, 2, 3 ; Kết luận và kiến nghị ;
Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục.



12

Chương 1
MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ CỦA HỌC
VIÊN ĐÀO TẠO DÀI HẠN TẠI HỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ
TRƯỚC TÁC ĐỘNG MẶT TRÁI CỦA MẠNG XÃ HỘI
1.1. Khái niệm bản lĩnh chính trị.
Bản lĩnh là khả năng và ý chí kiên định của con người trước mọi hoàn cảnh.
Đối với mỗi cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị là tố chất khơng thể thiếu, mang
tính quyết định tạo nên sự kiên định, khả năng độc lập, tự chủ trong hành động.

Bản lĩnh chính trị là phẩm chất kiên trung, kiên định vững vàng trước mọi
áp lực từ cả bên ngoài lẫn bên trong để giữ vững tinh thần độc lập suy nghĩ, quyết
định và hành động đúng đắn của cán bộ, đảng viên nói chung, nhất là đối với cán
bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng.
Bản lĩnh chính trị là sự giác ngộ sâu sắc về chính trị được thể hiện ở năng
lực làm chủ về chính trị với khả năng xử lý đúng đắn, có cơ sở khoa học, hiệu quả
những vấn đề đặt ra trong đời sống chính trị và hoạt động thực tiễn. Bản lính chính
trị là một trong những phẩm chất quan trọng hàng đầu có vai trị và ý nghĩa to lớn

đối với kết quả hoạt động của người cán bộ, đảng viên. Bởi vậy xây dựng bản lĩnh
chính trị vững vàng cho cán bộ, Đảng viên là yêu cầu khách quan, thường xuyên
trong mọi thời kỳ cách mạng, đặc biệt là ở những giai đonạ khó khăn, thử thách
hoặc trước những bước ngoặc quan trọng của lịch sử nhằm bảo đảm sự định hướng
về chính trị, tư tưởng và mục tiêu, con đường cách mạng.
Bản lĩnh chính trị là phần cốt lõi, cơ bản nhất, là phẩm chất quan trọng cần
phải có hàng đầu của mỗi cán bộ, đảng viên, là tinh thần, ý chí quyết tâm phấn
đấu, vượt qua mọi gian khổ và không dao động trước thử thách để hồn thành


nhiệm vụ.
Bản lĩnh chính trị của người cán bộ, đảng viên được cấu thành và chịu tác
động bởi nhiều yếu tố, như: trình độ lý luận chính trị; quan điểm, lập trường chính
trị; phẩm chất chính trị; năng lực chính trị; dũng khí chính trị… Bởi vậy, để bản
lĩnh chính trị thực sự vững vàng, đạt đến trình độ cao, có khả năng tự quyết định
một cách độc lập, sáng tạo, làm chủ hành vi chính trị của bản thân, người cán bộ,


13

đảng viên phải trải qua quá trình rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu thường xuyên,
kiên trì và bền bỉ.
Bản lĩnh chính trị là sự tổng hợp biện chứng của lập trường chính trị, phẩm
chất chính trị và năng lực chính trị; là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho mỗi cán
bộ, đảng viên có định hướng chính trị đúng đắn, ln làm chủ bản thân, làm chủ
hồn cảnh thực tiễn và kiểm soát được hành vi, thái độ của mình trong mọi tình
huống. Đó chính là sự vững vàng, kiên định, chủ động trong cả suy nghĩ và hành
động trước những khó khăn, thách thức của cuộc sống, đúng như V.I.Lênin từng

nhấn mạnh: “Chỉ giai cấp nào đi theo con đường của mình mà khơng do dự, khơng
chán nản và không sa vào tuyệt vọng trong những bước ngoặt khó khăn nhất, gay
go nhất và nguy hiểm nhất, thì mới có thể lãnh đạo được những quần chúng lao
động và bị bóc lột. Chúng ta khơng cần những sự hăm hở điên cuồng. Điều cần
thiết cho chúng ta, chính là bước đi nhịp nhàng của những đoàn quân vững như
gang thép của giai cấp vô sản.
Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên là sự
thể hiện tính giai cấp, “tính Đảng” trong mọi hồn cảnh, mọi thời điểm; là ln

“nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”;

là “phải quyết tâm suốt đời phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân. Đó là phẩm chất
cao quý của người cách mạng, đó là đạo đức cách mạng, đó là tính Đảng, tính giai
cấp, nó đảm bảo cho sự thắng lợi của Đảng, của giai cấp, của nhân dân”
Do đó, rèn luyện bản lĩnh chính trị để mỗi cán bộ, đảng viên thấm nhuần
sâu sắc mục tiêu, lý tưởng cách mạng, “kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam;
kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi

mới”; đồng thời, nỗ lực, sáng tạo và phát huy sức mạnh tiềm năng hoàn thành
nhiệm vụ được giao phó là yêu cầu vừa thường xuyên, vừa bức thiết trong cơng
tác xây dựng Đảng. Qua đó, không chỉ nhằm “xây dựng đội ngũ đảng viên thật sự
tiên phong, gương mẫu, gần dân, sát dân, có trách nhiệm cao trong cơng việc, có
phẩm chất đạo đức cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hồn thành
nhiệm vụ, vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức, phấn đấu cho mục tiêu, lý


14

tưởng của Đảng”, “nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng và bảo đảm sự lãnh
đạo của Đảng có hiệu lực, hiệu quả” mà cịn góp phần nâng cao chất lượng công
tác xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, thiết thực xây dựng Đảng trong sạch,
vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
1.2. Một số vấn đề về mạng xã hội:
Ngày nay, dưới sự phát triển mạnh mẽ của internet việc liên lạc,theo dõi,
kết nối giữa con người với nhau càng trở lên đơn giản và nhanh chóng hơn bao

giờ hết .Cùng với đó ,chính là sự bùng nỗ của mạng xã hội trên thế giới và Việt
Nam.
Mạng xã hội ngày càng đi sâu vào cuộc sóng của con người .Có thể nói
,đây là mơ hình mới nhất trong q trình phát triển đương đại ,đơn giản hóa các

phương thức tương tác và kết nối con người với nhau suốt chiều đài lịch sử.
Mạng xã hội với cách gọi đầy đủ là “dịch vụ mạng xã hội” hay “trang mạng
xã hội”, là nền tảng trực tuyến nơi mọi người dùng để xây dựng các mối quan hệ
với người khác có chung tính cách, nghề nghiệp, cơng việc, trình độ,… hay có

mối quan hệ ngồi đời thực.
Mạng xã hội có nhiều dạng thức và tính năng khác nhau, có thể được trang
bị thêm nhiều cơng cụ mới, và có thể vận hành trên tất cả các nền tảng như máy
tính để bàn, máy tính xách tay, máy tính bảng hay điện thoại thơng minh.
Mạng xã hội hay còn gọi là một cộng đồng ảo, là một công cụ để kết nối
mọi người trên khắp mọi miền lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau như để
nói chuyện, chia sẻ sở thích, kết bạn với những người mới, hoạt động kinh
doanh,… nó khơng phân biệt thời gian và không gian sử dụng. Các thành viên

tham gia vào mạng xã hội khi được gọi là cộng đồng mạng.
Mạng xã hội cho phép người dùng chia sẻ câu chuyện, bài viết, ý tưởng cá
nhân, đăng ảnh, video, đồng thời thông báo về hoạt động, sự kiện trên mạng hoặc
trong thế giới thực. Nếu như trong mô hình mạng xã hội truyền thống, ví dụ như
sự kiện hội chợ, đã tồn tại từ lâu trong lịch sử thì mạng xã hội trên web giúp người


15

dùng kết nối với những người sống ở nhiều vùng đất khác nhau, ở thành phố khác
hoặc trên toàn thế giới.
Mạng xã hội có nhiều tính năng và trở thành một phần tất yếu cho hàng
trăm triệu người trên khắp thế giới. Hiện nay, trên thế giới có hàng trăm dịch vụ
mạng xã hội khác nhau phổ biến đối với chúng ta là Facebook, Zalo, Google,
YouTube… Mạng xã hội là một loại hình dịch vụ kinh doanh, vì khi muốn sử
dụng ta phải bỏ tiền ra mới có thể sử dụng được có thể kết nối chia sẻ với mọi

người, vì vậy đây là một loại hình dịch vụ kinh doanh là dịch vụ thu tiền gián tiếp

thông qua người sử dụng.
Bên cạnh những mặt tích cực mà mạng xã hội mang lại, cịn có mặt tiêu
cực ảnh hưởng đến con người như sau :
Giảm tương tác giữa người với người, khi bạn ra ngoai đường khơng ít lần
bắt gặp những người cứ dán mắt vào điện thoại vào các trang mạng xã hội như :
Faccebook, Zalo, Tiktok …. Ta khơng thể phủ nhận rằng việc sử dụng nó đem lại
những lợi ích nhất định cho cơng việc ,liên lạc được nhanh chóng thuận tiện ,
trong việc truyền đạt thơng tin ,nhưng đó là sự tương tác trong một khơng gian ảo

mà thôi, thực trạng hiện nay nhiều bạn trẻ đã lạm dụng mạng xã hội và trở thành
người nghiện. Nghiện mạng xã hội khơng chỉ khiến bạn dành ít thời gian cho
người thật việc thật ở quanh mình, mà còn khiến họ buồn phiền khi bạn coi trọng
bạn bè “ảo” hơn những gì ở trước mắt. Dần dần, các mối quan hệ sẽ bị rạn nứt và
sẽ chẳng ai còn muốn gặp mặt bạn nữa.
Quá chú tâm vào mạng xã hội dễ dàng làm người ta quên đi mục tiêu thực
sự của cuộc sống, làm sao nhang đi mục tiêu thực sự của minh. Thay vì chú tâm
tìm kiếm công việc trong tương lai bằng cách học hỏi những kĩ năng cần thiết, các

bạn trẻ lại chỉ chăm chú để trở thành “anh hùng bàn phím” và nổi tiếng trên mạng.
“Anh hùng bàn phím” là một từ khơng cịn xa lạ trong thời gian gần đây.
Người ta cảm thấy thoải mái trên mạng nên họ thường nói những điều mà ngồi
đời khơng dám phát biểu.Bởi vì kỹ năng ứng sử trước đám đơng của bạn cịn hạn
chế , e ngại. Thực tế rằng trong thời gian các sinh viên ở nhà học online qua màn
hình máy tính bởi ảnh hưởng của dịch CoV, một số bạn rất hay phát biểu ý kiến


16


xây dựng bài học khi được học trở lại trên giảng đường thì lại trở thành một người
hoan tồn khác trầm hơn và ít phát biểu nêu ra ý kiến của mình trước những câu
hỏi của giảng viên.
Mạng xã hội cịn là cơng cụ để những nhà sang lập thu thập các thông tin
cá nhân liên quan đến người sử dụng , nếu được mã hóa và bảo mật tốt thì ít có
khả năng bị rị rỉ thơng tin cá nhân .Nhưng hiện nay đội ngũ hacker, virut được
phát tán cũng thông qua môi trường mạng xã hội khiến máy tính, laptop, điện
thoại ….bị nhiễm mã độc gây mất thơng tin cá nhân. Thực trạng này tồn tại rất

nhiều xung quanh chúng ta. Hơn ai hết con người cũng đồng thời là nạn nhân của
những vụ đanh cắp thông tin , lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng xã hội có rất
nhiều vụ đã xảy ra.
Nguy hiểm nhất là các thế lực thù địch sử dụng mạng xã hội là công cụ để
tuyên truyền , để tăng cường chống phá nhà nước, xuyên tạc các chủ trương của
Đảng , các chính sách quản lý củ Nhà nước. Một số quân nhân còn sử dụng mạng
xã hội để là nơi để khoe khoang, chụp các hình ảnh-video liên quan đến lĩnh vực
quân sự ,làm lộ các bí mật quân sự ; làm ảnh hưởng xấu đến hình ảnh Bộ đội cụ

Hồ mà bao thế hệ các anh, các chú, các bác đi trước đã gây dựng lên .
Mạng xã hội là một con dao hai lưỡi ,vì vậy mà việc chắt lọc tìm hiểu kỹ
các thơng tin có ích , những sự thật việc đúng là vô cùng quan trọng mà người
dùng cần phải tìm hiểu ,nhất là đối với những người qn nhân.
1.3. Vị trí ,vai trị của bản lĩnh chính trị đối với học viên Học viện Kỹ
thuật quân sự.
1.3.1. Vài nét về Học viên đào tạo Kỹ sư dài hạn tại Học viên Kỹ thuật
Quân sự.

Học viện Kỹ thuật quân sự mang sứ mệnh :
Đào tạo cán bộ kỹ thuật chỉ huy tham mưu kỹ thuật có trình độ đại học ,
sau đại học cho các quân binh chủng tồn qn và cho sản xuất quốc phịng.

Nghiên cứu khoa học , phát triển công nghệ phục vụ nhiệm vụ xây dựng
tiềm lực, nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của quân đội ; kết hợp nghiên
cứu với triển khai ứng dụng, chuyển giao công nghệ và sản xuất.


17

Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa
đất nước.
Đào tạo cán bộ kỹ thuật và chỉ huy tham mưu kỹ thuật cho quân đội nhân
dân Lào và Campuchia.
Học viên HVKTQS có nhiệm vụ :
Một là ,chấp hành chủ trương , đường lối của Đảng ,chính sách pháp luật
của nhà nước , quy chế ,quy định của Học viện tích cực rèn luyện, phát triển, hoàn
thiện bản thân để trở thành một sĩ quan trong Quân đội nhân dân Việt Nam .

Không chỉ tiếp thu kiến thức quân sự qua việc học tập trên lớp, ngịai thực
địa từng học viên cần phải tự mình bổ sung, bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo
đức lối sống, phẩm chất nhân cách của một người cán bộ trong quan đội .
Hai là, học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu đào
tạo trở thành kỹ sư kỹ thuật cho quân chủng ,binh chủng trong tịan qn.
Mỗi học viên có nhiệm vụ khơng ngừng học tập, nâng cao trình độ chun
mơn nghiệp vụ kỹ thuật ; đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa quân đội. Tích lũy tri thức
để tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học.

Ba là, tu dưỡng đạo đức nhân cách xứng đáng để trở thành đảng viên của
Đảng cộng sản Việt Nam.
Để trở thành một đảng viên học viên cần cố gắng trau dổi bản lĩnh chính trị,
phẩm chất đạo đức cách mạng. Kiên định với mục tiêu, lý tưởng đã chọn, khơng
giảm sút niềm tin, ý chí chiến đấu. Nỗ lực học tập, nâng cao hiểu biết và nhận

thức về lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng.
Tu dưỡng rèn luyện suốt đời để có được phẩm chất cách mạng trong sáng đi đôi
với chống chủ nghĩa cá nhân.

Bốn là, rèn luyện hòan thành tốt các nhiệm vụ được giao .
Việc rèn luyện thường xuyên giúp học viên va vấp ngay từ những ngày đầu
những nhiệm vụ thường xuyên và liên tục mà cán bộ phải hòan thành. Đây còn là
lời thề thứ 2 trong Mười lời thề Danh dự của quân nhân, hoàn thành tốt nhiệm vụ
trong mọi tình huống .


18

1.3.2. Vị trí, vai trị của bản lĩnh chính trị đối với Học viên Học viên Kỹ
thuật quân sự.
Bản lĩnh chính trị có vị trí vơ cùng quan trọng, là phần cốt lõi, cơ bản nhất
của bản lĩnh con người. Việc nâng cao bản lĩnh chính trị cho học viên là thấm
nhuần sâu sắc mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, nắm vững đường lối, phương pháp
cách mạng của Đảng, nhờ đó mà phát huy tối đa mọi tiềm năng, thế mạnh, hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ học tập và rèn luyện được giao.
Đúng như Lênin đã khẳng định: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng

lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường,
lịng tin vào cuộc chiến tranh chính nghĩa, sự giác ngộ rằng cần phải hy sinh đời
mình cho hạnh phúc của những người anh em, là yếu tố nâng cao tinh thần của
binh sĩ và làm cho họ chịu đựng được những khó khăn chưa từng thấy”.
Bản lĩnh chính trị không phải là một phẩm chất đạo đức riêng lẻ mà là tổng
hợp biện chứng của nhiều yếu tố, nhiều mối quan hệ, nhiều thuộc tính vốn có, từ
phẩm chất, năng lực chính trị, tinh thần, tâm lí, đạo đức, tư cách, khí chất quân
nhân…, tạo nên trạng thái chính trị tinh thần bền vững, ổn định, đảm bảo cho học


viên có định hướng chính trị đúng đắn, ln làm chủ bản thân, làm chủ hồn cảnh
trong mọi tình huống, ln bám sát tình hình diễn biến phức tạp của hoạt động
huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi. Đồng thời, kiểm soát chặt
chẽ mọi hành vi, thái độ; biết lựa chọn phương án tối ưu, đưa ra được quyết định
kịp thời, chính xác và hiệu quả nhất.
Bản lĩnh chính trị do nhiều yếu tố tạo nên. Trong đó, yếu tố cơ bản hàng đầu,
mang ý nghĩa quyết định là tính chính trị tư tưởng, tính khoa học, tính đúng đắn,
sáng tạo của nền tảng tư tưởng, đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bản lĩnh chính trị là kết quả của sự giác ngộ chính trị, thấm nhuần sâu sắc
bản chất giai cấp cơng nhân; ý thức sâu sắc mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, tinh thần
cách mạng, sự dày dặn, gan góc, thơng minh, sáng tạo trong hoạt động thực tiễn
huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng của Quân đội nhân dân .
Nhờ đó, học viên xác định rõ nhiệm vụ và mục tiêu ,động cơ phấn đấu thực
hiện tốt các nhiệm vụ; ở sự vững vàng, tự tin trong công tác, phong cách tư duy


19

nhạy bén, chủ động, sáng tạo, ra quyết định kịp thời, chính xác, ứng xử linh hoạt,
mềm dẻo.Xác định rõ các thông tin xấu-độc, luyện điệu xuyên tạc của các thế lực
thù địch trên khơng gian mạng.
Bản lĩnh chính trị là phẩm chất cơ bản của người cán bộ lãnh đạo, thể hiện
sự độc lập, tự chủ, kiên trì, quyết đốn, sáng tạo trong lĩnh vực hoạt động chính
trị. Đây cịn là tài năng, đức tính tự quyết định một cách độc lập thái độ, quan
điểm, hành động, không bị những tác động bên ngồi làm thay đổi chính kiến.
Mỗi học viên khi tốt nghiệp ra trường đều trở thành một người sĩ quan trong Quân

đội nhân dân Việt Nam, một người kỹ sư có trình độ chun mơn chinh vì vậy mà

khi cịn đang học tập -rèn luyện tại HVKTQS cần phải trau dồi để có chính kiến
riêng của mình.
1.4. Quan điểm chủ trương của QƯTW-BQP, Đảng ủy Ban Giám đốc
học viện.
Trong tình hình hiện nay trên thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ
và khó khăn, thách thức đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới cùng những yêu cầu
nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cuộc cách

mạng 4.0, nhất là công nghệ số phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh
vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc. Xây dựng quân
đội về chính trị là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác-Lênin. Trong quá
trình xây dựng quân đội, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây
dựng về chính trị, coi đó là gốc, là cơ sở để xây dựng quân đội vững mạnh về mọi
mặt. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ phương châm xây dựng quân đội là “chính trị
trọng hơn qn sự”.
Chính vì vậy, việc giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, nâng cao

bản lĩnh chính trị trước tác động từ mặt trái của mạng xã hội cho đồn viên thanh
niên nói chung và học viên trong các nhà trường quân đội nói riêng là một trong
những việc làm cần thiết và có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển toàn diện, trung
thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng
nhân cách, phẩm chất và năng lực, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


20

Chủ tịch Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt
xuất, người tiêu biểu cho phẩm chất đạo đức và khí phách của dân tộc Việt Nam.
Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết tinh “sự thống nhất giữa
trí lực của một nhà bác học và đạo đức của một nhà hiền triết. Sự thống nhất ấy

tạo nên một nhà văn hóa- cộng sản kiệt xuất”, một hệ giá trị chuẩn mực bền vững,
trở thành tài sản tinh thần vô giá của Đảng và nhân dân ta; là một bộ phận quan
trọng của nền tảng tinh thần xã hội.
Việc tăng cường giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức trước hết góp

phần thực hiện mục tiêu đào tạo mà Luật giáo dục đã quy định. Đặc biệt, góp phần
xây dựng đội ngũ cán bộ, học viên kỹ thuật Quân đội nói chung và HVKTQS nói
riêng phát triển hài hịa, cân đối giữa trí tuệ và phẩm chất, năng lực, giữa nhận
thức với tình cảm, niềm tin, ý chí cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng,
tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân.
Thanh niên Việt Nam nói chung và học viên HVKTQS nói riêng là lực
lượng hùng hậu, có tiềm năng to lớn, có đóng góp quan trọng trong q trình xây
dựng, phát triển đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam

ln đánh giá cao vai trị của thế hệ trẻ; quan tâm giáo dục, động viên, phát huy
mọi khả năng của thế hệ trẻ phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc.
Trong bản “Di chúc” để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã căn dặn về trách nhiệm đối với thanh niên là: “Đảng cần phải chăm
lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây
dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”; bồi dưỡng thế hệ cách mạng
cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”.
Kế thừa quan điểm của Người, trong thời gian qua, Đảng ta ln đánh giá

cao vai trị của thanh niên nói chung và học viên HVKTQS nói riêng. Nghị quyết
Trung ương 7 khóa X của Đảng tiếp tục khẳng định vai trị to lớn đó: “Thanh niên
là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương
lai, vận mệnh dân tộc… công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc”.
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo
đức cho thanh nhằm giáo dục lý tưởng cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị,



21

xây dựng những lớp người kế tục trung thành với lý tưởng của Đảng và của cách
mạng Việt Nam.
Là một cơ sở đào tạo cán bộ kỹ thuật quân sự, đồng thời là một nhà trường
trọng điểm quốc gia về khoa học và cơng nghệ, HVKTQS vừa có nhiệm vụ đào
tạo cán bộ khoa học kỹ thuật, chỉ huy tham mưu kỹ thuật quân sự trình độ đại học,
sau đại học; vừa đào tạo kỹ sư phục vụ sự nghiệp cơng nhiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Mục tiêu của HVKTQS là đào tạo những người cán bộ khoa học kỹ
thuật có sự phát triển hài hịa, cân đối giữa trí tuệ phẩm chất, năng lực; giữa nhận

thức với tình cảm, niềm tin, ý chí cách mạng- những cán bộ khoa học kỹ thuật
vừa hồng, vừa chuyên- những kỹ sư giỏi, sĩ quan tốt, đảng viên mẫu mực.
Trong những năm qua, nhận thức rõ yêu cầu nhiệm vụ và tầm quan trọng
của việc giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, nâng cao bản lĩnh chính trị
trước tác động từ mặt trái của mạng xã hội; triển khai Chỉ thị số 05/CT-TW của
Bộ Chính trị, Chỉ thị số 317-CT/QUTW của Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh
việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thực hiện Cuộc vận
động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội cụ Hồ” đã trở

thành nền nếp trong cơng tác Đảng, cơng tác chính trị; là một nội dung quan trọng
trong chương trình giáo dục của Học viện. Việc tuyên truyền tư tưởng, tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh, nâng cao bản lĩnh chính trị cho đoàn viên thanh niên, học
viên tại Học viện trong những năm qua chủ yếu qua hai cách thức:
Thứ nhất, tuyên truyền, giáo dục bằng các hình thức phong phú, đa dạng
như: tọa đàm, hội thảo, diễn đàn, viết bài tuyên truyền trên các kênh truyền thanh
nội bộ, mạng Qsnet, giới thiệu những bài viết có chất lượng về tư tưởng, tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh cũng như những tấm gương học tập và làm theo tư


tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh. Phát huy các hoạt động của các tổ chức quần chúng
trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, với những việc làm cụ
thể, thiết thực, có tính giáo dục cao như: Tổ chức đợt sinh hoạt chính trị “Tuổi trẻ
học viện tự hào tiến bước dưới cờ Đảng”, phong trào “Tuổi trẻ học viện rèn đức,
luyện tài, xung kích, sáng tạo, quyết thắng”, các hoạt động tham quan, hoạt động
dã ngoại của học viên, sinh viên. Triển khai giới thiệu học tập các chuyên đề:


22

Nâng cao trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác của quân nhân,
phấn đấu xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới; Nội dung cơ bản về tư
tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh…
Thứ hai, qua giảng dạy lý luận mơn chính trị, đặc biệt mơn học tư tưởng
Hồ Chí Minh. Thành cơng của việc đẩy mạnh “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo
đức, phong cách Hồ Chí Minh” phụ thuộc một phần khơng nhỏ vào hoạt động
nghiên cứu, giảng dạy các môn lý luận. Học viện ln quan tâm nghiên cứu, đổi
mới hình thức, phương pháp giáo dục, tuyên truyền về tư tưởng, đạo đức, phong

cách Hồ Chí Minh. Khoa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã cập nhật bổ sung
những nội dung mới về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào chương
trình giảng dạy; tích cực đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng giảng dạy
môn Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong thời đại bùng nổ thơng tin, thì việc đổi mới phương thức giáo dục
học viên HVKTQS thông qua các phương tiện truyền thanh nội bộ, hệ thống mạng
nội bộ của Học viện để truyền thông là cần thiết. Tận dụng ưu thế tích cực của các
mạng xã hội trong việc tiếp cận, truyền đạt nội dung tuyên truyền, định hướng

giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức lối sống, văn hóa, nâng cao bản lĩnh chính
trị trước tác động từ mặt trái của mạng xã hội cho học viên đào tạo dài hạn tại Học

viện Kỹ thuật Quân sự.


23

Chương 2
THỰC TIỄN NÂNG CAO BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ CỦA HỌC VIÊN ĐÀO
TẠO DÀI HẠN TẠI HỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ TRƯỚC TÁC
ĐỘNG MẶT TRÁI CỦA MẠNG XÃ HỘI
2.1. Thực trạng nâng cao bản lĩnh chính trị của học viên tại HVKTQS
trước những mặt trái của mạng xã hội
2.1.2. Những ưu điểm
Một là, nhận thức, trách nhiệm và năng lực của các chủ thể, lực lượng tham
gia nâng cao BLCT của học viên tại HVKTQS trước tác động những mặt trái của
MXH đã có những chuyển biến tích cực và ngày càng được nâng cao.
Đây là ưu điểm nổi bật, phản ánh rõ những chuyển biến về nhận thức, thái độ, trách
nhiệm và năng lực của các tổ chức, lực lượng trong nâng cao BLCT của học viên tại
HVKTQS
Đảng ủy Học viện đã nhận thức đầy đủ, đề cao tinh thần trách nhiệm trong
quán triệt và tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, QUTW, BQP,
cấp ủy, cơ quan chức năng cấp trên về cán bộ, công tác cán bộ; xây dựng đội ngũ
giảng viên, nhà giáo trong quân đội; về nhiệm vụ GD-ĐT tại HVKTQS. Đảng ủy
Học viện đã kịp thời ban hành các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định về nhiệm
vụ GD-ĐT, NCKH; trong đó có nội dung liên quan đến nâng cao BLCT của học
viên tại HVKTQS. Đồng thời, thường xuyên quán triệt, chỉ đạo các cấp ủy đảng, chỉ
huy các cơ quan, đơn vị và các khoa giáo viên, tổ bộ môn tăng cường tuyên truyền,
giáo dục nâng cao nhận thức về vị trí, vai trị, ý nghĩa nâng cao BLCT cho học viên
tại HVKTQS trước những mặt trái của MXH. Qua khảo sát 88,04% học viên nhận
thấy sự quan tâm của cấp ủy chỉ huy các cấp về việc nâng cao BLCT của học viên.
Đại bộ phận cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và cán bộ, giảng viên HVKTQS đều

thống nhất nhận thức: nâng cao BLCT của học viên tại nhằm đáp ứng yêu cầu xây
dựng quân đội trong tình hình mới.
Xuất phát từ nhận thức đúng, các chủ thể, lực lượng đã chủ động, tích cực
phát huy tốt vai trò, trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo và tham gia nâng cao
BLCT của học viên tại HVKTQS. Cấp ủy các cấp ở HVKTQS đã quán triệt đầy


24

đủ nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của cấp trên; phân tích, đánh giá đúng tình hình
mọi mặt gắn với yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của từng nhà trường và thực trạng BLCT
của học viên để xác định chủ trương, biện pháp nâng cao BLCT của học viên trong
từng học kỳ, từng năm học; quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các hình thức,
biện pháp nâng cao BLCT của học viên tại HVKTQS. Phát huy tốt vai trò, trách nhiệm
của các tổ chức, các lực lượng nhất là tổ chức quần chúng, hội đồng quân nhân và vai
trị xung kích, chủ động, sáng tạo của tổ chức Đoàn trong tham gia nâng cao BLCT
của học viên.
Đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp đã nhận thức đúng về vị trí, vai trị của học viên tại
HVKTQS , vai trò của BLCT và yêu cầu nâng cao BLCT của học viên; cơ bản nhận thức
rõ trách nhiệm trong lãnh đạo, quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện các chủ trương,
biện pháp của cấp ủy, tổ chức đảng về nâng cao BLCT của học viên. Đồng thời, nêu cao
trách nhiệm trong triển khai, chỉ đạo, quản lý, hướng dẫn và tổ chức các hoạt động bồi
dưỡng, nâng cao BLCT của học viên. Đặc biệt, đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp cũng thường
xuyên nắm bắt tình hình, kiểm tra, đánh giá kết quả và chỉ rõ những điểm mạnh, điểm
hạn chế trong nâng cao BLCT của học viên, từ đó kịp thời điều chỉnh, bổ sung nội dung,
hình thức, biện pháp nhằm nâng cao BLCT của học viên HVKTQS.
Cơ quan chức năng tại HVKTQS đã có nhận thức đúng đắn và đề cao trách
nhiệm trong nghiên cứu, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của cấp trên
về cán bộ, công tác cán bộ; xây dựng đội ngũ giảng viên, nhà giáo trong quân đội;
về nhiệm vụ GD-ĐT trong các nhà trường quân đội; phát huy tốt vai trò tham mưu

giúp Đảng ủy, Ban Giám đốc HVKTQS, những chủ trương, biện pháp lãnh đạo,
chỉ đạo, tổ chức nâng cao BLCT của học viên; chủ động, tích cực trong xây dựng
kế hoạch, hiệp đồng với các cơ quan, đơn vị, khoa giáo viên trong tổ chức thực
hiện kế hoạch; thường xuyên bám nắm, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, rút kinh
nghiệm nâng cao BLCT của học viên tại HVKTQS.
Hai là, nội dung, hình thức, biện pháp nâng cao BLCT của học viên tại
HVKTQS khá đa dạng, phong phú; hoạt động nâng cao được tổ chức thực hiện có kế
hoạch, gắn với nhiệm vụ GD-ĐT, NCKH, xây dựng học viện vững mạnh.


25

Những năm qua, với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của QUTW,
Bộ Quốc phòng, và Đảng ủy, Ban Giám hiệu Học viện, hoạt động nâng cao BLCT
của học viên tại HVKTQS đã được triển khai đồng bộ. Nội dung, hình thức, biện
pháp nâng cao BLCT của học viên đa dạng, phong phú; cách thức tổ chức linh
hoạt, sáng tạo nhằm phát huy thế mạnh của mỗi hình thức, biện pháp cụ thể 65,22%
học viên thấy rằng các biện pháp bảo đảm mục đích , yêu cầu.
Nội dung giáo dục, nâng cao BLCT của học viên tại HVKTQS được thực
hiện thường xuyên, liên tục gắn với công tác bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ, vừa bảo
đảm tính tồn diện, thiết thực, vừa có trọng tâm, trọng điểm, bám sát thực tiễn. Nội
dung giáo dục, nâng cao đã tập trung vào cả tri thức khoa học chính trị; ý chí quyết
tâm thực hiện chức trách, nhiệm vụ; trách nhiệm chính trị và hành vi chính trị của học
viên.
Giáo dục, nâng cao BLCT của học viên tại HVKTQS được triển khai theo
hướng chú trọng việc bồi dưỡng tri thức khoa học chính trị; nâng cao trình độ giác
ngộ về các nguyên lý, quy luật cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, đường lối quan điểm chính trị, quân sự của Đảng; nhiệm vụ của quân đội, yêu
cầu nhiệm vụ GD-ĐT, NCKH tại HVKTQS… Đồng thời, các chủ thể cũng coi trọng
bồi dưỡng cho học viên HVKTQS những hiểu biết cơ bản, toàn diện về các lĩnh vực

của đời sống chính trị xã hội. Những nội dung trên đã trực tiếp giúp học viên củng cố
niềm tin; kiên trì mục tiêu, lý tưởng cách mạng; tự tin vào bản thân; nỗ lực, tích cực
trong nhận và thực hiện nhiệm vụ trước những mặt trái của MXH.
Việc bồi dưỡng, nâng cao quyết tâm thực hiện chức trách, nhiệm vụ của
học viên cũng được các chủ thể đặc biệt coi trọng.
Đặc điểm nổi bật của học viên tại HVKTQS là chưa có nhiều kinh nghiệm
trong tham gia các hoạt động sư phạm quân sự nên quá trình thực hiện chức trách,
nhiệm vụ thường gặp khơng ít khó khăn. Bám sát đặc điểm này, trong nâng cao
BLCT của học viên trước những mặt trái của MXH, nhìn chung các chủ thể ở
HVKTQS đã luôn quan tâm bồi dưỡng, nâng cao ý chí quyết tâm, tinh thần nỗ lực
vượt khó cho từng học viên.


×