Tải bản đầy đủ (.docx) (30 trang)

TƯƠNG QUAN GIỮA CHUẨN TRÌNH ĐỘ TIẾNG TRUNG QUỐC (HSK) VÀ CHƯƠNG TRÌNH DẠY-HỌC TIẾNG TRUNG QUỐC Ở BẬC HỌC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (322.92 KB, 30 trang )

TƯƠNG QUAN GIỮA CHUẨN TRÌNH ĐỘ TIẾNG TRUNG QUỐC
(HSK)
VÀ CHƯƠNG TRÌNH DẠY-HỌC TIẾNG TRUNG QUỐC
Ở BẬC HỌC TRUNG HỌC PHỔ THƠNG VIỆT NAM
ThS. PHĨ THI MAI 

Trung tâm NCGDNN&KĐCL
PHẦN THỨ NHẤT
TỔNG QUAN VÊ CHUẨN TRÌNH ĐỘ TIẾNG HÁN (HSK)
NHƯ MỘT NGOẠI NGỮ CỦA TRUNG QUỐC

1.1 Những nét chính về HSK
1.1.0 Khái niệm về thi đánh giá năng lực tiếng Hán (HSK)
HSK là tên gọi rút gọn với các chữ cái đầu của quy trình thi đánh giá trình độ
tiếng Hán 汉汉汉汉汉汉 HANYU SHUIPING KAOSHI. Đây là một quy trình kiểm tra
được thiết kế chuyên biệt một cách quy chuẩn trên cơ sở lí luận của ngơn ngữ học, tâm
lý học, đo lường giáo dục học, giáo học pháp tiếng Hán và lí luận về trắc nghiệm ngoại
ngữ để đo lường và đánh giá năng lực tiếng Hán của người nước ngoài và người dân
tộc thiểu số Trung Quốc sử dụng thứ tiếng này như một ngơn ngữ thứ hai..
1.1.1 Tính chất cơ bản và tác dụng của HSK
1.1.1.1 HSK là một kiểu thi đánh giá trình độ, kết hợp thêm một số đặc trưng của kiểu
thi đánh giá năng lực học tập.
Kiểu thi đánh giá trình độ chủ yếu được áp dụng để đánh giá xem trình độ tiếng
Hán của người dự thi có đạt tới mức quy định nào đó hay khơng; trọng tâm đánh giá
của kiểu thi này là thực trạng của năng lực hiện tại.
Kiểu thi đánh giá năng lực học tập được áp dụng để đánh giá khuynh hướng năng
lực của thí sinh có đủ để đảm nhiệm một nhiệm vụ chun mơn nào đó hay không;
trọng tâm đánh giá của kiểu thi này là tiềm năng của tương lai.
1.1.1.2 HSK là sản phẩm kết hợp của hai hình thái thi kiểu “tham chiếu mục tiêu” và
“tham chiếu mô thức thông thường”
Theo sự phân loại của các chun gia khảo thí, hình thái thi tham chiếu mục tiêu


có trọng tâm là giám định xem kết quả thi của thí sinh có đạt tới được “chuẩn quy
định” (để đảm bảo cho việc tiếp tục và thích ứng với yêu cầu sử dụng ngôn ngữ để học
tập hoặc cơng tác về sau) hay khơng.
Hình thái thi tham chiếu mơ thức thơng thường có trọng tâm là xác định “vị trí
tương đối” cho kết quả thi của từng thí sinh trong tổng số thí sinh dự thi, để bảo đảm
tính cơng bằng, hợp lý trong việc đánh giá tuyển chọn nguồn nhân tài.
1.1.1.3 HSK là kiểu thi kết hợp giữa năng lực (ngôn ngữ) và tốc độ (phản ứng).
Bài thi HSK vừa khảo sát năng lực làm bài vừa khảo sát tốc độ làm bài của thí
sinh. Đích quan trọng nhất của sự kết hợp giữa năng lực và tốc độ là phân định chính


DĐ: 09 85 32 57 33 E-Mail:

242


xác chuẩn về năng lực tiếng Hán của đối tượng dự thi trong một khung thời gian cho
phép nhất định. Chuẩn phân định năng lực ấy được phân chia thành 5 loại như sau:
a. Chuẩn quy định trình độ để xếp lớp cho người học đã biết tiếng Hán đến Trung
Quốc tiếp tục học tiếng Hán.
b. Chuẩn quy định trình độ phải đạt tới để vào học chuyên ngành khác trong các
trường đại học của Trung Quốc.
c. Chuẩn quy định trình độ phải đạt tới khi kết thúc một khóa trình dạy - học tiếng
Hán cho người nước ngồi của Trung Quốc (thường là khóa một năm hoặc hai
năm).
d. Chuẩn quy định trình độ được cấp “Chứng chỉ trình độ tiếng Hán” đối với người
nước ngoài và con em Hoa kiều đã có trình độ tiếng Hán ban đầu nhất định.
e. Chuẩn quy định trình độ phải đạt tới đối với học sinh các dân tộc thiểu số Trung
Quốc khi nhập học các ngành chuyên môn ở cao đẳng, đại học trong nước hoặc thi
lấy “Chứng chỉ trình độ tiếng Hán”.

Bên cạnh đó, bản thân tốc độ làm bài nhanh hay chậm chính là biểu hiện của một
loại năng lực (năng lực vận dụng kiến thức ngôn ngữ và phản ứng bằng các kĩ năng
ngôn ngữ). Tốc độ làm bài bình quân quy định cho mỗi tiểu mục của đề thi HSK với
từng loại hình bài tập có khác nhau, cụ thể: bài tập nghe hiểu 15 - 20 giây; bài tập ngữ
pháp 40 giây; bài tập đọc hiểu 80 giây; bài tập (chọn đáp án) điền trống tổng hợp 45
giây.
1.1.2. Mục đích và ý nghĩa của HSK
1.1.2.1 HSK là chuẩn khách quan để đánh giá năng lực tiếng Hán thực tế của người
dự thi
Việc làm đề thi của HSK không dựa vào một đề cương dạy học tiếng Hán cụ thể
nào, cũng không lựa chọn ngữ liệu cụ thể từ một bộ giáo trình sẵn có nào. Đề thi của
HSK do các chuyên gia chuyên trách tuyển chọn và thiết kế riêng theo các tiêu chí
mặc định của yêu cầu kiểm tra đánh giá năng lực ngôn ngữ, nhằm mục đích xây dựng
nên một hệ thống chuẩn, dùng để đo và đánh giá trình độ tiếng Hán thực tế của người
dự thi.
1.1.2.2 HSK là một trong những nguồn động lực để đối mới và cải cách việc dạy và
học tiếng Hán như ngôn ngữ thứ hai
Nội dung và yêu cầu kiểm tra đánh giá của HSK có vai trị chỉ dẫn và sức ràng
buộc nhất định đối với toàn bộ quy trình dạy học, từ thiết kế tổng thể chương trình,
giáo trình dạy học, biên soạn giáo trình, hoạt động dạy học trên lớp. Thông thường,
kiểm tra đánh giá không thể tách rời việc dạy học mà phải được phối hợp đồng bộ với
dạy học. Mặt khác, thực tế cho thấy, kiểm tra đánh giá, nhất là việc đánh giá trình độ
một cách quy chuẩn có vai trị tác động ngược trở lại đối với việc dạy học, và đó cũng
chính là tác dụng phản hồi tích cực hay cịn có thể gọi là tác dụng làm “gậy chỉ huy”
không thể xem nhẹ của HSK. Thực tế cho thấy, việc nghiên cứu và thiết kế một quy
trình thi HSK quy chuẩn với trọng tâm là khảo sát năng lực ngơn ngữ thực tế của
người dự thi có hiệu ứng rõ rệt là làm động lực thúc đẩy quá trình dạy học đặc biệt chú
trọng bồi dưỡng cho người học năng lực sử dụng ngơn ngữ chính xác, đồng thời đã tạo
ra sự chuyển biến tương ứng trong chương trình đại cương, trong phương pháp giảng
243



dạy và giáo trình học liệu. Một quy trình HSK quy chuẩn đóng vai trị tích cực xúc tiến
và dẫn dắt quá trình dạy tiếng Hán cơ bản đi vào quỹ đạo phát triển đúng hướng
1.1.2.3 HSK là một trong những tiêu chuẩn để kiểm định và đánh giá chất lượng dạy học tiếng Hán như một ngoại ngữ
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy học khá phức tạp và tồn tại ở nhiều
phương diện. Tuy nhiên trong các yếu tố đó, khâu thi cử và đặc biệt là một quy trình
thi quy chuẩn như HSK đã trở thành một trong những đối sách quan trọng để nắm
vững “cửa ải” chất lượng của cả quá trình dạy học. Trong tình hình giảng dạy tiếng
Hán cho người nước ngồi ở trong và ngoài đất nước Trung Quốc được xúc tiến rộng
khắp với nhiều hệ thống giáo trình và phương pháp giảng dạy khác nhau dẫn đến hệ
quả là chất lượng dạy học cũng có sự khác biệt lớn; nhu cầu bức thiết đặt ra là càng
cần phải có một cơ chế thi với hệ thống chuẩn đánh giá năng lực tiếng Hán thống nhất,
khoa học và chặt chẽ để vừa làm thước đo, vừa làm đòn bẩy năng cao hiệu quả và chất
lượng dạy học tiếng Hán.
1.1.2.4 HSK là một trong những tiêu chí đánh dấu sự trưởng thành của chuyên ngành
dạy tiếng Hán như một ngoại ngữ
Trải qua gần nửa thế kỷ hình thành và phát triển, chuyên ngành giảng dạy tiếng
Hán như một ngoại ngữ ở Trung Quốc đã có những bước tiến triển dài và ngày càng
hoàn thiện với bề dày kinh nghiệm hết sức phong phú về biên soạn giáo trình và hoạt
động giảng dạy trên lớp. Tuy nhiên việc nghiên cứu và thiết kế một cách tổng thể tồn
bộ quy trình dạy học bao gồm cả một hệ thống chuẩn kiến thức, chuẩn đánh giá năng
lực ngôn ngữ (tiếng Hán) và khâu kiểm nghiệm cuối cùng là quy trình kiểm tra đánh
giá quy chuẩn, vẫn là một mắt xích yếu. Chỉ cho đến khi có sự ra đời của HSK với một
hệ thống ngân hàng dữ liệu đề thi có độ tin cây khá cao, tính hiệu quả, tính cân đối và
tính phân loại khá mạnh, thì chuyên ngành giảng dạy tiếng Hán như một ngoại ngữ
mới có được cơng cụ kiểm nghiệm chuẩn xác để có thể coi là hồn thiện. Do vậy, hồn
tồn có thể khẳng định rằng, sự hồn thiện của HSK cũng chính là tiêu chí đánh dấu sự
hồn thiện của ngành giảng dạy tiếng Hán như một ngoại ngữ.
1.1.3. Đường hướng và bố cục cơ bản của HSK

Về cơ bản, đường hướng và bố cục của HSK có 3 đặc điểm chủ yếu:
- Mạch chính là nghe hiểu và đọc hiểu.
- Hạt nhân là đánh giá năng lực ngôn ngữ trên nền tảng vận dụng tri thức ngôn ngữ.
- Tồn bộ quy trình đánh giá sử dụng hình thức đề thi chuẩn hóa.
Nội dung chi tiết của các đặc điểm này có thể cụ thể hóa và lí giải như sau.
1.1.3.1 HSK là một quy trình đánh giá năng lực ngơn ngữ với mạch chính là nghe hiểu
và đọc hiểu
Một trong những ý tưởng thiết kế đầu tiên, và cũng là nguồn gốc phát sinh ra mạch
chính nghe hiểu và đọc hiểu của HSK, đó là: nhằm vào mục tiêu chủ yếu là đo năng
lực tiếng Hán của đối tượng dự thi, xem có đủ vốn liếng ngơn ngữ tối thiểu (nghe hiểu
để có thể tiếp thu bài giảng trên lớp, đọc hiểu để có thể sử dụng giáo trình và tham
khảo tài liệu học tập) để nhập học ở các trường đại học của Trung Quốc hay khơng.
Chính vì thế, đường hướng và bố cục chính của HSK nhất thiết phải phục tùng yêu cầu
244


cơ bản về năng lực tiếng Hán đối với người dự thi để có thể nhập học cũng như hịa
nhập vào cuộc sống bình thường ở mơi trường bản ngữ. Trên thực tế, ở các giai đoạn
đầu tiên xuất hiện và áp dụng quy trình đánh giá năng lực tiếng Hán HSK, nội dung
trắc nghiệm Nghe hiểu - Đọc hiểu đóng vai trị trọng điểm trong bài thi HSK, khối
lượng bài tập trắc nghiệm của hai kỹ năng này chiếm tỉ lệ 58% tổng định lượng bài tập
trong một đơn vị đề thi.
1.1.3.2 HSK là một quy trình đánh giá năng lực ngôn ngữ được xây dựng trên nền
tảng là sự vận dụng kiến thức ngơn ngữ, trong đó hạt nhân là trắc nghiệm
năng lực ngôn ngữ
Ý đồ nhất quán của những người thiết kế mơ hình đề thi HSK là nhằm tạo ra một
loại hình HSK vừa đánh giá được một cách có hiệu quả và chính xác năng lực tiếng
Hán của người dự thi, vừa phát huy được tác dụng phản hồi tích cực đối với q trình
dạy và học tiếng Hán qua kết quả thi. Xuất phát từ ý đồ đó, các chun gia khảo thí
Trung Quốc đã thiết kế các đề thi mẫu của HSK với 82% tỉ lệ định lượng bài tập trắc

nghiệm nghe hiểu, đọc hiểu và điền trống tổng hợp, đồng thời cũng dành 18% tỉ lệ bài
tập trắc nghiệm cho mục tiêu đánh giá năng lực vận dụng kiến thức ngôn ngữ.
Để đạt mục đích đánh giá năng lực vận dụng kiến thức, các chuyên gia thiết kế đề
thi HSK thể hiện ý đồ rõ rệt trong khâu lựa chọn ngữ liệu, tuân thủ chặt chẽ hai
nguyên tắc:
a. Chú trọng tính chân thực và tính phổ biến của ngữ liệu để đảm bảo ngôn ngữ của
đề thi là thứ ngôn ngữ tự nhiên, thông dụng, xác thực mà người học thường được
tiếp xúc và cần thiết phải nắm vững trong những tình huống nhất định như giao
tiếp và sinh hoạt đời thường, trong học tập và trong cơng việc.
b. Chú trọng tính rộng khắp và tính tiêu biểu của nội dung trắc nghiệm.
1.1.3.3 HSK là một hệ thống đánh giá năng lực ngôn ngữ được thực thi trên nền tảng
cơ bản là các hình thức đề thi chuẩn hóa.
Cái được gọi là hình thức đề thi chuẩn hóa, tức là nói đến kiểu đề thi yêu cầu thí
sinh trả lời câu hỏi theo dạng thức thống nhất, cố định bằng cách lựa chọn đáp án
chính xác hoặc điền trống trên cơ sở tự phân tích, lý giải, phán đốn vấn đề qua các dữ
liệu và đáp án cho sẵn trong nội dung đề thi.
Hiện tại, một đề thi HSK chuẩn hóa có cấu trúc thống nhất bao gồm 170 tiểu mục
bài tập, trong đó có 154 tiểu mục (từ 1-154, chiếm tỉ lệ xấp xỉ 90% định lượng đề thi)
là bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn (4 phương án lựa chọn), còn lại 15
tiểu mục cuối cùng (chiếm tỉ lệ xấp xỉ 10% định lượng đề thi) là bài tập điền trống
bằng chữ Hán phù hợp, thuộc loại bài tập trắc nghiệm nửa chủ quan, nửa khách quan.
1.1.4. Tiêu chuẩn và nguyên tắc thiết kế đề thi HSK
1.1.4.1 Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đề thi:
Theo các chuyên gia nghiên cứu khảo thí Trung Quốc, đề thi HSK được thiết kế
dựa trên 3 tiêu chuẩn cơ bản để đảm bảo chất lượng của một công cụ đo lường năng
lực ngơn ngữ của người học, đó là:
+ Có đo đếm được chính xác trình độ tiếng Hán thực tế của đối tượng dự thi hay
không.
245



+ Có đảm bảo được tính cân bằng và ổn định về độ khó giữa các đề thi của các kỳ
thi khác nhau hàng năm, giữa các hạng mục trong cùng một đề thi hay khơng.
+ Có tác dụng làm địn bẩy để thúc đẩy q trình dạy học tiếng Hán phát triển đúng
hướng và nâng cao chất lượng của việc dạy và học hay không.
Để đạt được các tiêu chuẩn trên, các bộ đề thi HSK được thiết kế theo hướng vừa
đảm bảo thể hiện được đầy đủ đặc tính chung của loại hình kiểm tra đánh giá quy
chuẩn, vừa thể hiện được rõ nét bản sắc Trung Quốc và bản sắc riêng của ngôn ngữ
Hán.
1.1.4.2 Một số nguyên tắc chung của việc thiết kế đề thi HSK
Nguyên tắc bao trùm trong việc làm đề HSK là kết hợp hài hịa giữa lí luận kiểm
tra đánh giá quy chuẩn, thực tiễn dạy và học tiếng Hán như một ngoại ngữ với bản sắc
ngơn ngữ của tiếng Hán. Điều đó có nghĩa là một “sản phẩm” đề thi HSK được thiết
kế ra một mặt phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc và lý luận phổ quát của một đề thi
đánh giá năng lực ngôn ngữ, mặt khác phải chú trọng thể hiện được bản sắc của văn
hóa Trung Quốc và đặc thù của tiếng Hán.
(1) Nguyên tắc giới hạn phạm vi từ vựng và chữ Hán
Thông thường, phạm vi từ vựng của HSK được sử dụng giới hạn trong “Bảng từ
vựng thường dùng HSK” - tài liệu quy định của Hội đồng kiểm tra đánh giá năng lực
tiếng Hán quốc gia Trung Quốc ; quy định cho 3 cấp trình độ A, B, C với phạm vi số
lượng từ vựng tổng cộng khoảng 5168 từ. Trong từng phần của đề thi, có thể có phần
hơi khó hoặc thật khó, phạm vi từ vựng có thể vượt q chút ít số lượng quy định,
nhưng không được quá 5%. Đối với đề thi nghe của HSK, tổng số lượng từ và chữ
trong cả ngôn bản lẫn văn bản đề thi của thí sinh được giới hạn trong phạm vi từ 7800
– 8600 chữ, tính cả các con số La mã (trong đó số lượng chữ trong văn bản đề thi từ
1800 – 2200 chữ).
(2) Nguyên tắc giới hạn phạm vi ngữ pháp
Phạm vi ngữ pháp của đề thi HSK được giới hạn trong “Đề cương cấp độ ngữ
pháp” - tài liệu do Hội đồng kiểm tra đánh giá năng lực tiếng Hán nhà nước Trung
Quốc ban hành; quy định cho 3 cấp độ năng lực tiếng Hán A, B, C một số lượng mục

và điểm ngữ pháp tổng cộng là 589 mục. Trong khi làm đề, phạm vi của phần đề thi
trọng điểm ngữ pháp có thể có độ khó tương đối, hoặc hơi cao nhất định so với chuẩn
giới hạn, song biên độ cũng không được vượt quá 5%.
(3) Nguyên tắc đảm bảo tính rộng rãi và đa dạng của ngữ liệu đề thi
Ngữ liệu của đề thi HSK thường được lựa chọn từ vài chục loại báo và tạp chí
trong nước Trung Quốc có chất lượng cao về ngơn ngữ văn phạm. Thể loại ngữ liệu
phong phú bao gồm tin tức thời sự, tiểu thuyết, tản văn, chính luận, giới thiệu nhân
vật… Nội dung ngữ liệu đa dạng gồm rất nhiều lĩnh vực như chính trị, xã hội, kinh tế,
văn hóa, sử địa, phổ biến khoa kiến thức khoa học .v..v. Ngữ liệu đề thi càng có tính
rộng rãi và đa dạng bao nhiêu thì độ tin cậy của đề thi càng được đảm bảo và nâng cao
bấy nhiêu.
(4) Ngun tắc đảm bảo tính phổ biến và tính cơng bằng khách quan của nội dung đề
thi
246


Đây là yêu cầu đối với nội dung tri thức được đề cập đến trong đề thi, phải là tri
thức mang tính thường thức, phi chuyên sâu hoặc chuyên ngành hóa, có như vậy mới
đảm bảo được tính cơng bằng, khách quan và đáp ứng được mục tiêu của việc đánh giá
năng lực ngôn ngữ, làm tăng thêm độ tin cậy của HSK.
(5) Nguyên tắc đảm bảo tính mới mẻ và tính hứng thú của nội dung đề thi
Nguyên tắc này đòi hỏi nội dung tri thức trong ngữ liệu đề thi phải có những thơng
tin mới, tri thức sử dụng để làm đề thi hoặc là thuộc loại thường thức mới mẻ và lý
thú, hoặc là nêu ra những kiến giải độc đáo từ góc độ mới (ví dụ bài tập đọc hiểu trong
đề thi có nội dung mới: giới thiệu tri thức về sự sinh trưởng của cây tre; hoặc bài tập
điền trống có nội dung lí giải vì sao giống mèo nhất định phải ăn thịt chuột…)
(6) Nguyên tắc nhiều tầng bậc, nhiều thông tin trong dung lượng ngữ liệu đề thi
Đó là kiểu ngữ liệu đề thi có thơng tin phong phú với dung lượng nhiều tầng bậc,
hoặc là kiểu thuật lại các sự kiện tương quan theo trình tự thời gian, hoặc là cung cấp
tình tiết ở nhiều mặt, hoặc là biện luận so sánh hai hay nhiều sự kiện, nhân vật, luận

điểm…
(7) Nguyên tắc đảm bảo tính cân bằng, tính gây nhiễu trong các nội dung nhiễu của
đề thi
Các phương án để lựa chọn trong các phần của đề thi (bao gồm đáp án đúng và
đáp án nhiễu) đều được biên soạn kỹ lưỡng. Đáp án chính xác mang tính “ẩn giấu” ở
một mức độ nhất định; đáp án nhiễu (hay gọi là đáp án phân tâm) được đặt vào trong
những tình huống có thể làm cho thí sinh dễ phát sinh nhầm lẫn nhất, có tác dụng gây
nhiễu nhất định.
(8) Nguyên tắc đảm bảo tính đơn nhất, ngắn gọn rõ ràng của đáp án đề thi
Với loại hình đề thi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn, yêu cầu đối với đáp
án chính xác phải là phương án duy nhất, khơng thể có hai hoặc trên hai đáp án đều
đúng. Nói cách khác, cùng một đề thi khơng thể có hai hoặc trên hai phương án lựa
chọn đều có thể được chấp nhận. Ngoài ra, độ dài ngắn (số chữ) trong câu cú của các
phương án lựa chọn cần cố gắng đảm bảo cân xứng và thống nhất với nhau. Nếu vì
yêu cầu của đề thi không thể làm cho cân xứng được, thì cũng sắp xếp trật tự đáp án
theo hình thức bậc thang tùy theo số lượng chữ nhiều ít trong từng đáp án.
Tóm lại, HSK là một quy trình kiểm tra đánh giá năng lực tiếng Hán áp dụng với
tất cả đối tượng dự thi là người sử dụng tiếng Hán như một ngơn ngữ thú hai. Quy
trình đánh giá năng lực ngôn ngữ HSK được thực thi định kỳ rộng rãi và được sử dụng
như một công cụ đo lường mang tính chuẩn hóa, thống nhất, nhằm mục đích chính là
phục vụ cho việc đánh giá năng lực tiếng Hán của người học cũng như việc dạy và học
tiếng Hán như một ngoại ngữ ở trong và ngoài lãnh thổ Trung Quốc.
1.2 Một số nét cơ bản về hệ thống đề thi chuẩn đánh giá năng lực tiếng Hán như
một ngoại ngữ (HSK)
1.2.0 Chuẩn đánh giá năng lực tiếng Hán như một ngoại ngữ của HSK
Được cụ thể hóa trong một hệ thống đề thi mang tính quy chuẩn và thống nhất
trong toàn đất nước Trung Quốc, cho phép xác định và công nhận mức độ nắm vững
và sử dụng tiếng Hán như một ngôn ngữ thứ hai của tất cả mọi đối tượng dự thi, không
phụ thuộc vào địa điểm, thời gian và hình thức học thứ tiếng này của người học.
247



HSK là cuộc thi có quy mơ lớn, được tiến hành trên phạm vi cả trong và ngoài
lãnh thổ Trung Quốc, dùng để đánh giá năng lực tiếng Hán của tất cả đối tượng dự thi
(bao gồm cả dân tộc thiểu số Trung Quốc) nói tiếng Hán như một ngơn ngữ thứ hai.
Mục đích và chức năng quan trọng như vậy địi hỏi HSK mang tính thống nhất cao, thể
hiện ở các mặt cụ thể như cấu trúc đề thi, phạm vi và nội dung nội dung ngữ liệu đề
thi, quy trình tổ chức thi, quy định cho điểm đánh giá…
1.2.1 Tính thống nhất của hệ thống đề thi HSK
Trước hết, tính thống nhất của HSK thể hiện ở chỗ đề thi được thiết kế hồn tồn
dựa trên tiêu chí nhất qn về mục đích: đánh giá trình độ thí sinh có đáp ứng được
yêu cầu sử dụng tiếng Hán ở từng cấp độ năng lực nhất định nào đó hay khơng, khơng
dựa trên căn cứ là giáo trình hay phương pháp dạy học nào, không chịu ảnh hưởng và
bị chi phối bởi hiện trạng dạy học, hiện trạng trình độ người học của bất kỳ một quốc
gia, một khu vực hoặc một cơ sở đào tạo nào.
Về hình thức, đề thi HSK được thiết kế thành hai kiểu hình thức dùng cho bốn cấp
độ trình độ khác nhau từ thấp đến cao, đó là cơ bản và sơ - trung cấp (3 cấp độ cùng sử
dụng một kiểu đề thi); cấp độ cao cấp sử dụng một hình thức đề thi khác.
Ngồi ra, tính thống nhất của HSK cịn được thể hiện ở sự ổn định về cấu trúc đề
thi và tiêu chí độ khó của các cấp độ trình độ thi (cơ bản, sơ - trung, cao cấp) khác
nhau. Cơ cấu và nội dung chính của đề thi HSK ln ln ổn định với hình thức: bài
tập trắc nghiệm khách quan là chủ yếu, chiểm tỉ trọng 90% khối lượng đề thi; bài tập
trắc nghiệm chủ quan là hình thức bổ trợ chiếm tỉ trọng 10%. Cấu trúc chi tiết của đề
thi HSK thống nhất như sau:
Bảng 1. Cấu trúc đề thi HSK trình độ cơ bản và sơ - trung cấp
Nội dung thi
Số lượng tiểu
Tỉ trọng đề
Thời gian làm
mục

thi
bài
Nghe hiểu
50
29.4%
khoảng 35 phút
Cấu trúc ngữ pháp
30
29.4%
20 phút
Đọc hiểu
50
17.7 %
60 phút
Điền trống tổng hợp
40
23.5%
30 phút
Tổng cộng
170 đơn vị tiểu
145 phút
mục
Với cấu trúc như trên, đề thi HSK cơ bản và sơ - trung cấp có 4 hạng mục khác
nhau về thời lượng, định lượng và nội dung kiểm tra. Điểm tối đa cho mỗi hạng mục
kiểm tra trong đề thi là 100, tổng cộng là 400 điểm.
Loại đề thi
Trắc
nghiệm
khách
quan


248

Bảng 2. Cấu trúc đề thi HSK trình độ cao cấp
Nội dung thi
Số lượng tiểu mục
Thời gian làm bài
Nghe hiểu
40
khoảng 25 phút
Đọc hiểu
40
40 phút
Biểu đạt tổng hợp
40
40 phút
Tổng cộng
120
khoảng 105 phút


Trắc
nghiệm
chủ
quan
Tổng

Làm văn

1bài(400-600 chữ)


Diễn đạt nói

10 phút ghi âm

Tổng cộng
cộng:

30 phút
Chuẩn bị 10 phút,
thi 10 phút, tất cả
gồm 20 phút
50 phút
155 phút

Cấu trúc đề thi HSK cao cấp bao gồm 5 hạng mục đề thi với thời lượng và định
lượng kiểm tra khác nhau. Điểm tối đa cho mỗi hạng mục là 100 điểm, tổng cộng kết
quả tối đa là 500 điểm.
1.2.2 Chuẩn kiến thức trong các cấp độ thi theo đánh giá của HSK
Chuẩn kiến thức ngôn ngữ tiếng Hán là căn cứ chính để thiết kế hệ thống đề thi
HSK cho tất cả các cấp độ trình độ khác nhau từ cơ bản đến sơ cấp - trung cấp và cao
cấp. Trên cơ sở của định lượng kiến thức (về từ vựng, về điểm ngữ pháp và số lượng
chữ Hán) quy định, HSK được phân chia thành 11 cấp đánh giá năng lực ngơn ngữ và
trình độ tiếng Hán, trong đó từ cấp 1 đến 3 là bậc trình độ cơ bản; từ cấp 3 đến 5 là
trình độ sơ cấp; từ cấp 6 đến 8 là trình độ trung cấp; từ cấp 9 đến 11 là trình độ cao
cấp.
Có thể đi sâu vào nội dung chi tiết về chuẩn kiến thức cho từng bậc trình độ năng
lực tiếng Hán trong 11 thang bậc của HSK như sau.
1.2.2.1 Tám cấp độ chuẩn kiến thức đầu tiên cho các bậc HSK cơ bản, sơ cấp và trung
cấp

Tám bậc đầu tiên của thang trình độ năng lực tiếng Hán được xác định theo chuẩn
quy định về định lượng kiến thức tương đối cụ thể và được phân chia thành 3 mức:
thấp, trung bình, cao tương ứng với các cấp trình độ 1, 2 , 3 trong 8 cấp độ của dạng
thức thứ nhất đề thi HSK (bảng 1). Tám cấp độ của trình độ tiếng Hán theo HSK được
xác định theo các thang bậc khác nhau, tùy thuộc vào sự khác nhau về thời lượng học
tập và khối lượng kiến thức ngơn ngữ tích lũy được. Ba cấp độ đầu tiên từ cấp 1 đến
cấp 3 được coi là chuẩn tối thiểu và tối đa của trình độ tiếng Hán cơ bản; từ cấp 3 đến
cấp 5 được coi là chuẩn tối thiểu và tối đa của trình độ sơ cấp, từ cấp 6 đến cấp 8 được
coi là chuẩn tối thiểu và tối đa của trình độ trung cấp.
1.2.2.1.1 HSK trình độ cơ bản
a. Yêu cầu chung về chuẩn kiến thức
Được học từ 100 đến 800 tiết học chính quy về tiếng Hán hiện đại, nắm vững được
số lượng từ vựng trong phạm vi từ 500 đến 1800 từ thường dùng và các trọng điểm
ngữ pháp cơ bản tương ứng liên quan đến hoạt động hành chức của các từ thường
dùng thuộc phạm vi số lượng trên. Yêu cầu cụ thể về năng lực sử dụng tiếng Hán trình
độ cơ bản được phân định thành 3 bậc 1, 2, 3.
b. Yêu cầu cụ thể cho từng cấp
+ Cấp 1 (cơ bản C): có năng lực tiếng Hán ở trình độ cơ bản thấp, biết một chút
tiếng Hán, hiểu được một số từ ngữ và mẫu câu thông dụng nhất, nắm vững khoảng
500 - 700 từ ngữ thơng dụng, có thể thực hiện được việc giao tiếp ngôn ngữ trong sinh

249


hoạt và học tập thường ngày bằng cách biểu đạt ý nghĩa muốn nói theo kiểu lắp ghép
từ ngữ một cách đơn giản.
Tỉ lệ đáp án trả lời đúng trong bài thi HSK cấp 1 từ 21% - 30%.
+ Cấp 2 (cơ bản B): có năng lực tiếng Hán ở trình độ cơ bản trung bình, nắm vững
khoảng 800 - 1200 từ ngữ thơng dụng, có thể hiểu được và biểu đạt được câu từ đơn
giản, có thể đáp ứng nhu cầu giao tiếp tối thiểu trong sinh hoạt hàng ngày, trong giao

tiếp xã hội ở phạm vi nhất định, cũng như nhu cầu học tập ở mức độ nhất định, như
chào hỏi làm quen, tự giới thiệu, giao dịch mua bán đơn giản…, một số mẫu câu
thường dùng trên lớp học.
Tỉ lệ đáp án trả lời đúng trong bài thi HSK cấp 2 từ 31% - 40%.
+ Cấp 3 (cơ bản A): có năng lực tiếng Hán ở trình độ cơ bản cao, nắm vững khoảng
1300 - 1800 từ ngữ thơng dụng, có thể thực hiện được giao tiếp ngôn ngữ ở mức độ
nghe hiểu và tự biểu đạt được một cách tương đối tự nhiên các câu đơn trong phạm vi
nội dung sinh hoạt đời sống, giao tiếp xã hội thông thường (mua bán, hỏi đường, khám
bệnh…), nghe hiểu và đáp ứng đúng đại bộ phận các yêu cầu giao tiếp ngôn ngữ trong
học tập trên lớp.
Tỉ lệ đáp án trả lời đúng trong bài thi HSK đạt cấp 3 từ 41% - 50%.
Cấp 3 là mức chuẩn thấp nhất của trình độ tiếng Hán, là điều kiện tối thiểu để
được tiếp nhận vào học tại các trường đại học ở Trung Quốc với các ngành khoa học
tự nhiên, công, nông nghiệp, tây y. HSK cơ bản loại A (cấp 3) được xếp hạng tương
đương với HSK sơ cấp loại C, đồng thời cũng là chuẩn tối thiểu của trình độ HSK sơ
cấp thấp (C).
1.2.2.1.2 HSK trình độ sơ cấp và trung cấp
a. Yêu cầu chung về chuẩn kiến thức
Được học từ 800 đến 2.000 tiết học chính quy về tiếng Hán hiện đại, nắm vững
khoảng 2.000 đến 4000 từ ngữ thường dùng và các trọng điểm ngữ pháp cơ bản tương
ứng liên quan đến hoạt động hành chức của các từ thường dùng thuộc phạm vi số
lượng trên.Yêu cầu cụ thể về năng lực sử dụng tiếng Hán trình độ sơ cấp và trung cấp
được phân định thành 6 bậc, trong đó trình độ sơ cấp từ bậc 3 đến 5 và trình độ trung
cấp từ bậc 6 đến 8.
b. Yêu cầu cụ thể cho từng cấp
(1) HSK trình độ sơ cấp (cấp 3 - cấp 5)
+ Cấp 3 (sơ cấp C): có năng lực tiếng Hán ở trình độ sơ cấp thấp, được học ít nhất
800 tiết học tiếng Hán chính quy, yêu cầu cụ thể về năng lực sử dụng ngơn ngữ như
cấp 3 trình độ cơ bản, mức cao (A).
Tỉ lệ đáp án đúng trong bài thi HSK đạt cấp 3 giống trình độ cơ bản cao (A): 41%

- 50%.
+ Cấp 4 (sơ cấp B): có năng lực tiếng Hán ở trình độ sơ cấp trung bình, được học ít
nhất 1.000 tiết học tiếng Hán chính quy, nắm vững khoảng 2000 – 2300 từ ngữ thơng
dụng, có thể nghe hiểu và tự biểu đạt được một cách bình thường dưới dạng câu đơn
và một số kiểu câu phức thông dụng các nội dung thiết yếu trong sinh hoạt đời sống,
có thể giao dịch điện thoại với nội dung đơn giản; nghe hiểu và đáp ứng đúng hoàn
toàn yêu cầu của giáo viên trong hoạt động học tập trên lớp.
250


Tỉ lệ đáp án đúng trong bài thi HSK đạt cấp 4 từ 51% - 60%.
+ Cấp 5 (sơ cấp A): có năng lực tiếng Hán ở trình độ sơ cấp cao, được học ít nhất
1.300 tiết học tiếng Hán chính quy, nắm vững khoảng 2.300 - 2.600 từ ngữ thơng
dụng, có khả năng giao tiếp tự nhiên và thuận lợi về các mặt của đời sống cá nhân,
giao tiếp xã hội và học tập trong môi trường ngôn ngữ tiếng Hán.
Tỉ lệ đáp án đúng trong bài thi HSK đạt cấp 5 từ 61% - 70%.
(2) HSK trình độ trung cấp (cấp 6 - cấp 8)
+ Cấp 6 (trung cấp C): có năng lực tiếng Hán ở trình độ trung cấp thấp, được học ít
nhất 1.500 giờ học tiếng Hán chính quy, nắm vững khoảng 2.600 – 3.000 từ ngữ thông
dụng, cơ bản khắc phục được trở ngại về ngôn ngữ trong đời sống, giao tiếp xã hội và
học tập. Đây cũng là chuẩn kiến thức tối thiểu và là điều kiện bắt buộc để có thể nhập
học ở các trường đại học của Trung Quốc với các chuyên ngành khoa học xã hội, ngôn
ngữ.
Tỉ lệ đáp án đúng trong bài thi HSK đạt cấp 6 là 71% - 80%.
+ Cấp 7 (trung cấp B): có năng lực tiếng Hán ở trình độ trung cấp trung bình, được
học ít nhất 1750 tiết học tiếng Hán chính quy, nắm vững khoảng 3000 - 3500 từ ngữ
thơng dụng. Có khả năng giao tiếp tương đối thuận lợi về các mặt sinh hoạt, học tập và
tiếp xúc công cộng trong môi trường ngôn ngữ tiếng Hán.
Tỉ lệ đáp án đúng trong bài thi HSK đạt cấp 7 là 81% - 90%.
+ Cấp 8 (trung cấp A): có năng lực tiếng Hán ở trình độ trung cấp cao, được học ít

nhất 2000 tiết học chính quy tiếng Hán, nắm vững khoảng 3500 - 4000 từ ngữ thơng
dụng. Trình độ HSK cấp 8 được coi là chuẩn tối thiểu của trình độ phiên dịch sơ cấp,
cũng là kết quả cao nhất của trình độ HSK cơ bản và sơ - trung cấp.
Tỉ lệ đáp án đúng trong bài thi HSK đạt cấp 8 là từ 91% - 100%.
Có thể thấy rõ sự khác biệt và khoảng cách về điểm số giữa các cấp độ khác nhau
ở 8 bậc trình độ đầu tiên của HSK (từ cơ bản đến trung cấp) qua biểu quy định chi tiết
khung điểm tối thiểu và tối đa dưới đây.
Bảng 3. Quy định khung điểm cho 8 cấp trình độ đầu tiên của HSK
Cấp độ
Tổng số tối
chứng chỉ
Nghe Ngữ pháp Đọc hiểu Tổng hợp
thiểu và tối
hiểu
đa
Cấp 1
20 – 28
19 – 27
21 – 29
19 - 27
78 - 114
Câp 2
29 – 37
28 – 36
30 – 36
28 – 36
115 - 151
Cấp 3
38 – 46
37 – 45

37 – 45
37 – 45
152 – 188
Cấp 4
47 – 55
46 – 54
46 – 54
46 – 54
189 – 225
Cấp 5
56 – 64
55 – 63
55 – 63
55 – 63
226 – 262
Cấp 6
65 – 73
64 – 72
64 – 72
64 – 72
263 – 299
Cấp 7
74 – 82
73 – 81
73 – 81
73 – 81
300 – 336
Cấp 8
83 - 100 82 - 100
82 - 100

82 - 100
337 – 400
Theo thang điểm tối thiểu và tối đa quy định cho từng cấp trình độ HSK trong
bảng 3 trên, chứng chỉ trình độ HSK chỉ cấp cho người dự thi đạt kết quả thi từ cấp 3
trở lên, vì đó là chuẩn tối thiểu để có thể nhập học ở Trung Quốc. Mặt khác, việc cấp
251


“Chứng chỉ trình độ tiếng Hán” theo kết quả thi HSK cịn có 3 điều kiện ràng buộc
như sau:
+ Tổng số điểm thi bắt buộc phải đạt tới mức quy định tối thiểu.
+ Trong 4 hạng mục kiểm tra riêng biệt của đề thi, bắt buộc phải có 3 hạng mục đạt
mức điểm quy định tối thiểu.
+ Trong 4 hạng mục kiểm tra trong đề thi, cho phép có một hạng mục đạt điểm số
thấp hơn mức quy định tối thiểu, nhưng mức thấp hơn không được quá một cấp liền
kề. Nếu thấp hơn quá một cấp, chỉ được cấp chứng chỉ thấp hơn một bậc tương ứng.
Những quy định ràng buộc này nhằm mục đích thúc đẩy người học chú trọng rèn
luyện và phát triển đồng đều tất cả các mặt kỹ năng và kiến thức trong quá trình học
tiếng Hán.
1.2.2.1.3 HSK trình độ cao cấp
a. Yêu cầu chung về chuẩn kiến thức
Được học khoảng trên 2000 đến 3000 tiết học chính quy về tiếng Hán hiện đại,
nắm vững trên 4000 - 5500 từ ngữ thường dùng; nắm vững toàn bộ hệ thống ngữ âm,
ngữ pháp tiếng Hán hiện đại; biết cách biểu đạt trơi chảy và chính xác nội dung tư
tưởng của mình trong giao tiếp xã hội, trong học tập và hoạt động chuyên môn, trong
nghiên cứu và trao đổi học thuật. Trình độ tiếng Hán cao cấp theo đánh giá của HSK
được phân định thành 3 bậc từ cấp 9 đến cấp 11.
b. Yêu cầu cụ thể cho từng cấp
+ Cấp 9 (cao cấp C): có năng lực tiếng Hán ở trình độ cao cấp thấp, được học ít nhất
2.300 tiết học chính quy tiếng Hán, nắm vững khoảng 4.500 từ ngữ thường dùng trong

các lĩnh vực đời sống, xã hội, văn hóa, khoa học thường thức. Đây là mức chuẩn trình
độ ngơn ngữ thấp nhất để được tiếp nhận vào học sau đại học (thạc sĩ và tiến sĩ) ở các
trường đại học của Trung Quốc, cũng là chuẩn thấp nhất để được chấp nhận và tuyển
dụng làm các cơng việc có nhu cầu sử dụng tiếng Hán như một công cụ giao tiếp.
Tỉ lệ đáp án đúng trong bài thi HSK cao cấp đạt cấp 9 là từ 56% - 67%.
+ Cấp 10 (cao cấp B): có năng lực tiếng Hán ở trình độ cao cấp trung bình, được
học ít nhất 2600 tiết học chính quy tiếng Hán, nắm vững khoảng 5.000 từ ngữ thường
dùng trong các lĩnh vực đời sống, xã hội, văn hóa, khoa học thường thức, có khả năng
biểu đạt thơng thạo dưới hình thức nói và tương đối thơng thạo dưới hình thức viết một
nội dung hồn chỉnh với chính kiến của bản thân. Đây là mức chuẩn trình độ ngơn ngữ
đạt u cầu (mức trung bình) để được tiếp nhận vào học sau đại học (thạc sĩ và tiến sĩ)
ở các trường đại học của Trung Quốc, cũng là chuẩn đạt yêu cầu (mức trung bình) để
được tuyển dụng làm các cơng việc có nhu cầu sử dụng tiếng Hán như một công cụ
giao tiếp.
Tỉ lệ đáp án đúng trong bài thi HSK cao cấp đạt cấp 10 là từ 68% - 79%.
+ Cấp 11(cao cấp A): có năng lực tiếng Hán ở trình độ cao cấp cao, được học ít nhất
2.000 tiết học chính quy tiếng Hán, nắm vững khoảng 5.500 từ ngữ thường dùng trong
các lĩnh vực đời sống, xã hội, văn hóa, khoa học thường thức, có khả năng biểu đạt
thơng thạo dưới hình thức nói và viết một nội dung hồn chỉnh với chính kiến của bản
thân. Đây là mức chuẩn trình độ ngơn ngữ đạt yêu cầu (mức cao) để được tiếp nhận
vào học sau đại học (thạc sĩ và tiến sĩ) ở các trường đại học của Trung Quốc, cũng là
252


chuẩn đạt yêu cầu (mức cao) để được tuyển dụng làm các cơng việc có nhu cầu sử
dụng tiếng Hán như một công cụ giao tiếp. HSK cấp 11 đồng thời cũng được coi là đạt
tiêu chuẩn của trình độ phiên dịch trung cấp tiếng Trung Quốc.
Tỉ lệ đáp án đúng trong bài thi HSK cao cấp đạt cấp 11 là từ 80% - 100%.
Với nguyên tắc đánh giá: khảo sát năng lực ngơn ngữ của thí sinh là chính, khảo
sát kiến thức kiến thức ngơn ngữ mang tính bổ trợ, biểu điểm để phân định kết quả và

phân loại trình độ HSK cao cấp được quy định cụ thể theo khung điểm tối thiểu và tối
đa như sau:

Cấp độ
chứng chỉ

Cấp 9
Câp 10
Câp 11

Bảng 4. Quy định điểm cho 3 cấp trình độ của HSK cao cấp
Hạng
Nghe
Đọc
Tổng
Làm
Diễn
Điểm tổng
chứng
hiểu
hiểu
hợp
văn
đạt nói tối thiểu và
chỉ
tối đa
Sàn 46 - 57
42 - 53 42 - 53 46 - 57 44 - 55 220 - 279
thấp
C

58- 69
54 - 65 54 - 65 58 - 69 56 - 67 280 - 339
B
70 - 81 66 - 77 66 - 77 70 - 81 68 - 79 340 - 399
A
82-100 78- 100 78- 100 82-100 80- 100 400 - 500

1.2.3 Ứng dụng chuẩn kiến thức HSK trong việc quy hoạch học tập của người học
sử dụng tiếng Hán như một ngôn ngữ thứ hai ở Trung Quốc
Khảo sát các mức quy định để phân loại cấp độ và đánh giá trình độ tiếng Hán
cũng như quy định mức chuẩn năng lực tối thiểu để được nhập học ở các cấp và các
ngành học trong các trường đại học của Trung Quốc, có thể thấy rõ có 3 mức chuẩn
khác nhau, đó là:
1.2.3.1 Chuẩn năng lực tiếng Hán tối thiểu để được vào học các ngành khoa học tự
nhiên, cơng, nơng nghiệp và tây y
Để có thể được nhập các ngành học này, yêu cầu tối thiểu về năng lực tiếng Hán là
đạt trình độ HSK cấp 3: được học khoảng 600 - 800 giờ học tiếng Hán, nắm vững
1.800 - 2.000 từ ngữ thông dụng, nghe hiểu được thông tin đơn giản liên quan đến nhu
cầu sinh hoạt, học tập, và giao tiếp xã hội thông thường (làm quen, hỏi đường, mua
bán, khám bệnh, hỏi đáp điện thoại…), tự biểu đạt được ý tưởng cần giao tiếp dưới
dạng câu đơn giản.
1.2.3.2 Chuẩn năng lực tiếng Hán tối thiểu để được vào học các ngành khoa học xã
hội và ngơn ngữ
u cầu tối thiểu đạt trình độ HSK cấp 6: được học khoảng 1500 giờ học tiếng
Hán, nắm vững tối đa 2.600 - 3000 từ ngữ thông dụng, cơ bản khắc phục được trở ngại
về ngôn ngữ trong đời sống, giao tiếp xã hội và học tập. Về cơ bản đáp ứng được yêu
cầu của giáo viên trong các nhiệm vụ học tập với độ khó trung bình, có thể tham gia
thảo luận về nội dung bài học trên lớp với tốc độ ngữ lưu biểu đạt trung bình trong thời
gian khoảng 2 -3 phút.
1.2.3.3 Chuẩn năng lực tiếng Hán tối thiểu để được vào học ở bậc học sau đại học

(thạc sĩ và tiến sĩ)
253


Yêu cầu tối thiểu đạt trình độ HSK cấp 9: được học ít nhất 2.300 giờ học tiếng
Hán, nắm vững khoảng 4500 từ ngữ thường dùng trong các lĩnh vực đời sống, xã hội,
văn hóa, khoa học thường thức. Về cơ bản có khả năng trình bày rõ nội dung tư tưởng
cần biểu đạt dưới cả hai hình thức nói và viết.
Giống như quy định về điều kiện cấp chứng chỉ HSK sơ - trung cấp, quy định cấp
chứng chỉ HSK cao cấp cũng có 5 điều kiện ràng buộc nhất định, cụ thể như sau:
+ Tổng số điểm phải đạt mức quy định tối thiểu tương ứng với từng cấp trình độ.
+ Trong 5 hạng mục kiểm tra, khơng được có bất cứ hạng mục nào rơi vào mức
điểm thấp hơn điểm sàn thấp ở dưới cấp 9 (hạng C)
+ Đối với 4 trong 5 hạng mục kiểm tra của đề thi là nghe hiểu, đọc hiểu, làm văn và
diễn đạt nói, bắt buộc phải có 3 hạng mục đạt mức điểm quy định tối thiểu tương ứng.
+ Trong 5 hạng mục kiểm tra, cho phép có 2 hạng mục đạt điểm thấp hơn mức điểm
quy định tối thiểu, biên độ thấp hơn không quá một cấp liền kề (trong 2 hạng mục đó
chỉ được phép có một rơi vào bốn kỹ năng nghe, đọc, viết, nói). Nếu thấp hơn quá một
cấp, chỉ được cấp loại chứng chỉ thấp hơn một bậc tiếp theo.
Sự phân chia cấp hạng trong kết quả đánh giá năng lực tiếng Hán HSK nói chung
và HSK cao cấp nói riêng có tác dụng giúp cho người dự thi biết và đánh giá được
thực trạng trình độ ngơn ngữ của mình, căn cứ kết quả thi mà biết được tương quan vị
trí và thứ hạng năng lực ngơn ngữ của mình trong khung quy định điểm số của HSK,
đồng thời xác định được trình độ của mình đạt tới cấp nào. Vấn đề này có tác dụng
quan trọng trong việc thúc đẩy người học phát huy tính tích cực của bản thân trong q
trình học tiếng Hán như một ngoại ngữ.
1.3 Tiểu kết phần thứ nhất
HSK có thể coi là một cơng cụ đo lường tương đối chuẩn xác dùng để đánh giá
năng lực ngôn ngữ nói chung và năng lực tiếng Hán nói riêng, là một quy trình kiểm
tra đánh giá quy chuẩn với hệ thống đề thi thống nhất, được thiết kế trên cơ sở nền

tảng là chuẩn kiến thức và kỹ năng (tương ứng với định lượng về thời gian và khối
lượng kiến thức cùng ngữ liệu trong từng giai đoạn học tập) quy định và áp dụng cho
tất cả các cấp độ trình độ tiếng Hán từ thấp đên cao, từ trình độ cơ sở đến trình độ cao
cấp ở người học.
Việc phân chia thang bậc (cơ bản, sơ - trung cấp và cao cấp) và cấp độ trình độ
tiếng Hán khác nhau ( từ cấp1 - cấp 8 cho sơ trung cấp và từ cấp 9 - cấp 11 cho cao
cấp) có tác dụng tích cực giúp cho người dự thi định vị được năng lực ngơn ngữ và
trình độ tiếng Hán của mình ở “cung bậc” nào trong tồn bộ học tập, tiếp thu và sử
dụng tiếng Hán như một công cụ giao tiếp mới. Chuẩn kiến thức cũng như các tài liệu
mô phỏng đề thi HSK đồng thời cũng là tài liệu tham khảo thiết thực và là địn bẩy
định hướng tích cực cho việc dạy và học tiếng Hán như một ngoại ngữ ở cả trong và
ngoài lãnh thổ Trung Quốc.
PHẦN THỨ HAI

TỔNG QUAN VỀ CHƯƠNG TRÌNH VÀ NỘI DUNG
SÁCH GIÁO KHOA TIẾNG TRUNG QUỐC
BẬC HỌC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VIỆT NAM
254


2.1 Khái qt về chương trình mơn tiếng Trung Quốc bậc Trung học phổ thơng
Việt Nam
Theo “Chương trình giáo dục phổ thông môn tiếng Trung Quốc cấp trung học phổ
thông” của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành năm 2006, chương trình mơn tiếng
Trung Quốc được xây dựng theo chủ điểm, lấy chủ điểm làm trục chính. Nội dung chủ
đề, nội dung ngữ liệu, độ khó của hệ thống bài tập rèn luyện kiến thức ngôn ngữ và kỹ
năng được thiết kế, giới thiệu và luôn được tái hiện trong chương trình theo trình tự từ
dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp theo nguyên tắc đồng trục, xoáy ốc, phù hợp với
nhu cầu giao tiếp và sử dụng thực tiễn.
Tư tưởng giáo dục trong việc xây dựng chương trình ngoại ngữ Trung học phổ

thơng nói chung và chương trình tiếng Trung Quốc trung học phổ thơng nói riêng là
coi trọng cả 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết; có sự chú trọng và nhấn mạnh trong từng
giai đoạn học tập ở từng cấp, lớp khác nhau; phối hợp rèn luyện đồng thời cả 4 kỹ
năng trong một đơn vị bài học nhằm tạo khơng khí sống động và gây hứng thú học tập
cho học sinh.
Có thể tóm tắt một số nét chính thể hiện quan điểm xây dựng chương trình tiếng
Trung Quốc bậc Trung học phổ thơng như sau:
+ Chương trình hướng tới tồn thể học sinh, chú trọng chất lượng giáo dục, tôn trọng
sự khác biệt cá thể; coi trọng tư tưởng lấy học sinh làm chủ thể của quá trình dạy học,
đồng thời lấy sự phát triển của học sinh làm xuất phát điểm và hướng đích để triển
khai dạy và học.
+ Chương trình phải có tác dụng hướng dẫn hoạt động dạy học, tạo cơ hội và khuyến
khích học sinh ứng dụng kiến thức ngôn ngữ được học vào thực tiễn giao tiếp ngôn
ngữ thông qua hoạt động dạy và học; đồng thời chú trọng khâu đánh giá, thúc đẩy sự
phát triển của học sinh.
+ Chương trình phải tích cực khai thác một cách triệt để, hợp lí các nguồn tài liệu,
ứng dụng thành tựu khoa học - kĩ thuật hiện đại nhằm tạo nên tính khoa học, tính thực
tiễn và tính cập nhật của mơn học.
2.2 Mục tiêu giáo dục của chương trình tiếng Trung Quốc THPT Việt Nam
Chương trình tiếng Trung Quốc bậc học Trung học phổ thông được xây dựng
nhằm mục tiêu giúp học sinh hình thành năng lực sử dụng tổng hợp tiếng Trung Quốc
như một công cụ giao tiếp mới, đặt nền tảng và tạo điều kiện tốt cho việc học tập suốt
đời và sự phát triển của học sinh.
Mục tiêu này được cụ thể hóa và thể hiện khá rõ nét trên hai phương diện kiến
thức và kỹ năng trong tồn bộ chương trình.
2.2.1 Kiến thức
Nắm vững kiến thức cơ sở về ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp (từ pháp và
cú pháp) của tiếng Trung Quốc hiện đại; thông qua việc họctập tiếp thu ngôn ngữ để
hiểu thêm văn hóa Trung Quốc; hiểu được mối quan hệ chặt chẽ giữa tiếng Trung
Quốc và văn hóa Trung Quốc với tiếng Việt và văn hóa Việt Nam, làm cơ sở cho việc

hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực giao tiếp bằng tiếng Trung
Quốc như một ngoại ngữ.
255


2.2.2 Kỹ năng
Hình thành kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết tiếng Trung Quốc, trên cơ sở đó
biết lựa chọn và vận dụng kiến thức ngôn ngữ tiếng Trung Quốc vào các tình huống
giao tiếp cụ thể gắn với nội dung ngày càng sâu hơn, phức tạp hơn theo hệ thống chủ
điểm được xây dựng trong chương trình.
2.3. Nội dung chương trình và sách giáo khoa tiếng Trung Quốc bậc Trung học
phổ thông Việt Nam
2.3.1 Quy mô của chương trình
2.3.1.1 Về thời lượng học tập
Chương trình mơn học tiếng Trung Quốc ở trường phổ thông Việt Nam được xây
dựng theo quy mô của hệ giáo dục ngoại ngữ phổ thông 7 năm, bắt đầu từ lớp đầu cấp
trung học cơ sở là lớp 6. Chương trình tiếng Trung Quốc trung học phổ thông (THPT)
là giai đoạn 3 năm cuối của bậc học phổ thông, tiếp nối giai đoạn 4 năm đầu của bậc
trung học cơ sở (THCS). Nội dung chương trình được triển khai theo mạch chính là hệ
thống chủ điểm - trục chính của Sách giáo khoa tiếng Trung Quốc lớp 10, lớp 11 và
lớp 12.
Theo thống kê trên cơ sở tài liệu Sách giáo khoa tiếng Trung Quốc THPT, chương
trình tiếng Trung Quốc THPT được phân phối trong 3 cuốn sách giáo khoa, thực hiện
trong 3 năm học với tổng số thời lượng học tập là 315 tiết học (105 tiết/năm học) bao
gồm cả ôn tập và kiểm tra. Đây là sự tiếp nối một cách liền mạch và chặt chẽ chương
trình THCS 4 năm với tổng số thời lượng học tập là 385 tiết (lớp 6 - lớp 8: 105
tiết/năm; lớp 9: 70 tiết/năm).
Thống kê trên cho thấy, chương trình ngoại ngữ nói chung và mơn Tiếng Trung
Quốc nói riêng cho hệ phổ thơng 7 năm từ THCS đến THPT có tổng số thời lượng học
tập là 700 tiết học chính quy (bao gồm cả ôn tập và kiểm tra đánh giá).

2.3.1.2 Về định lượng kiến thức
a. Từ vựng
Thống kê theo tài liệu sách giáo khoa Tiếng Trung Quốc hệ lớp 10, 11, 12, với 3
năm học và tổng số tiết học chính quy là 315 tiết, tổng số đơn vị từ vựng được đưa vào
các bài học chính là 1.857 (bao gồm cả bộ phận từ ngữ bổ sung cuối các bài đọc thêm
trong phần bài tập), phân phối cụ thể như sau:
- Lớp 10: 661 từ ngữ
- Lớp 11: 597 từ ngữ
- Lớp 12: 599 từ ngữ
Nếu tính cả khối lượng đơn vị từ vựng đã được học ở bậc THCS trong 4 năm học
là 1.491 từ ngữ, thì cho đến cuối cấp THPT, học sinh phổ thông Việt Nam đã được học
tất cả 3.348 từ, ngữ tiếng Trung Quốc. Có thể thấy đây đã là một định lượng kiến thức
từ vựng không nhỏ, về cơ bản có thể giúp học sinh khắc phục được trở ngại ngôn ngữ
trong giao tiếp thông thường bằng tiếng Trung Quốc.
b. Ngữ pháp
Đến bậc THPT, tất cả các nội dung ngữ pháp cơ bản của tiếng Trung Quốc (các
loại thành phần câu, các kiểu dạng câu đơn và một bộ phận câu phức thông dụng) hầu
256


như đã được dạy trong chương trình THCS. Vì vậy nội dung dạy và học ngữ pháp ở
bậc học này chủ yếu là các kết cấu từ ngữ, cấu trúc câu biểu thị quan hệ ý nghĩa cú
pháp khác nhau được đưa vào từng bài học chính khóa dưới dạng “Trọng điểm ngơn
ngữ”. Trung bình trong mỗi đơn vị bài học có từ 2 - 3 trọng điểm ngơn ngữ liên quan
đến các vấn đề ngữ pháp. Như vậy, định lượng về khối kiến thức ngữ pháp trong
chương trình tiếng Quốc THCS có khoảng trên dưới 100 trọng điểm ngơn ngữ (kèm
theo các bài tập ngữ pháp tương ứng trong phần bài tập) bao quát nhiều ý nghĩa và nội
dung ngữ pháp cơ bản.
Khảo sát nội dung sách giáo khoa tiếng Trung Quốc lớp 10, 11, 12, có thể thấy đến
bậc cuối cấp phổ thơng này, chương trình tiếng Trung Quốc hầu như đã đề cập tương

đối toàn diện các vấn đề ngữ pháp cơ bản và trọng điểm của tiếng Trung Quốc, được
chuyển tải qua nội dung các bài khóa và bài đọc thêm của sách giáo khoa theo trình tự
từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.
2.3.2 Một số nét chính về sách giáo khoa tiếng Trung Quốc THPT Việt Nam
Sách giáo khoa (SGK) tiếng Trung Quốc được tổ chức biên soạn trong năm năm
gần đây, từ năm 2003 đến 2008 theo một quy trình và dự án thống thống nhất của Bộ
Giáo dục và Đào tạo Việt Nam. Trong 2 năm đầu tiên sau khi ra đời, SGK của tất cả
các mơn học trong đó có tiếng Trung Quốc đều được áp dụng thí điểm trong phạm vi
một số trường THPT nhất định. Sau thời gian thí điểm, SGK đã được chỉnh sửa, bổ
sung nhiều lần, và sản phẩm cuối cùng là 3 cuốn SGK tiếng Trung Quốc hiện hành đã
tương đối hoàn thiện, về cơ bản đáp ứng được yêu cầu dạy và học ngoại ngữ ở trường
phổ thông Việt Nam hiện nay.
SGK tiếng Trung Quốc THPT được biên soạn theo Khung chương trình giáo dục
phổ thơng mơn tiếng Trung Quốc, mang tính kế thừa, phát triển và nâng cao năng lực
thực hành tiếng học sinh trên cơ sở kiến thức và kỹ năng ngoại ngữ được cung cấp và
hình thành từ cấp THCS.
2.3.2.1 Về hình thức
SGK tiếng Trung Quốc được biên soạn như một tài liệu học tập chính quy, thiết kế
thành các đơn vị bài học với hai dạng bài chính: bài học mới và bài ôn tập. Bố cục
sách thống nhất ở cả ba khối lớp 10, 11, 12 đều bao gồm 20 đơn vị bài học, trong đó có
15 bài học mới và 5 bài ôn tập (sau 4 bài học mới có 1 bài ơn tập). Cấu tạo của mỗi bài
học mới được phân chia thành 5 phần: 1.Bài khóa; 2. Từ mới; 3. Trọng điểm ngơn
ngữ; 4. Bài tập; 5. Bài đọc thêm. Bài ôn tập được thiết kế thành 3 phần chính: 1.
Trọng điểm ngơn ngữ; 2. Kỹ năng ngôn ngữ; 3. Đề tự trắc nghiệm.
2.3.2.2 Về nội dung
Toàn bộ nội dung của SGK tiếng Trung Quốc THPT được xây dựng theo nguyên
tắc đồng trục, xoáy ốc và sắp xếp theo trình tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức
tạp, xoay quanh mạch nội dung chủ đạo gồm 4 hệ thống chủ điểm chính bao trùm tất
cả các lĩnh vực như sau.
(1) Chủ điểm Sinh hoạt bao gồm các mảng nội dung:

- Thông tin cá nhân: gia đình, nghề nghiệp
- Sinh hoạt hàng ngày: thời gian biểu và công việc hàng ngày
- Sức khỏe: cơ thể và tình trạng sức khỏe
257


- Thông tin - Truyền thông: thư từ, điên thoại, phát thanh, truyền hình...
- Hứng thú, sở thích: ca nhạc, mỹ thuật, thể thao
- Dự định, lý tưởng: mong muốn, nguyện vọng, kế hoạch
(2) Chủ điểm Nhà trường bao gồm các mảng nội dung:
- Cơ sở vật chất: phòng học, sân chơi, thư viện…
- Hoạt động ở trường: học tập, trực nhật, quét dọn vệ sinh, sinh hoạt lớp…
- Hoạt động ngoại khóa: du lịch, thể thao, dạ hội…
(3) Chủ điểm Tự nhiên bao gồm các mảng nội dung:
- Dân số - Môi trường:
+ Núi, sông, rừng, biển, vũ trụ
+ Dân số
+ Bảo vệ môi trường
- Động thực vật: một số loại cây, lồi thú
(4) Chủ điểm Văn hóa - Xã hội bao gồm các mảng nội dung:
- Cơng trình kiến trúc, văn hóa: nhà hát, viện bảo tàng, tượng đài…
- Phong tục, tập quán:
+ Nếp sống
+ Hoạt động văn hóa, xã hội trong các ngày lễ, tết…
- Khoa học kỹ thuật: thành tựu khoa học kỹ thuật
- Lịch sử, danh nhân: một số nhà khoa học, nhà nghệ thuật, nhân vật lịch sử
- Giao tiếp: tình bạn, quan hệ thày trò, láng giềng, xã hội.
2.3.3 Chuẩn kiến thức và kỹ năng của chương trình mơn học tiếng Trung Quốc
THPT Việt Nam
Trong khung “Chương trình giáo dục phổ thơng mơn tiếng Trung Quốc cấp Trung

học phổ thông” (Bộ GD&ĐT – 2006), chuẩn kiến thức và kỹ năng của môn tiếng
Trung Quốc đã được quy định chi tiết cho từng khối lớp 10, 11, 12 với mức độ cần đạt
như sau:
2.3.3.1 Về kiến thức
Nắm vững ý nghĩa biểu đạt và cách dùng của các trọng điểm ngôn ngữ về Từ vựng
– Ngữ pháp trong từng bài học, cụ thể:
- Chương trình lớp 10: 18 từ ngữ và 10 cấu trúc câu trọng điểm, phân biệt rõ nghĩa
và cách dùng của 5 cặp từ đồng nghĩa hoặc cận nghĩa.
- Chương trình lớp 11: 47 từ ngữ và 7 cấu trúc câu trọng điểm, phân biệt rõ nghĩa và
cách dùng của 7 cặp từ đồng nghĩa hoặc cận nghĩa.
- Chương trình lớp 12: 33 từ ngữ và 20 cấu trúc câu trọng điểm, phân biệt rõ nghĩa
và cách dùng của 6 cặp từ đồng nghĩa hoặc cận nghĩa.
2.3.3.2 Về kỹ năng
Chương trình quy định cụ thể mức độ cần đạt đối với 4 kỹ năng: nghe, nói, đọc,
viết được rèn luyện và hình thành và phát triển trong hoạt động dạy học ở từng năm
học. Sau đây là bảng thống kê so sánh chuẩn kỹ các năng tiếng Trung Quốc trong
chương trình THPT

258


Khố
i lớp
Lớp
10

Lớp
11

Lớp

12

Khố
i lớp
Lớp
10

Lớp
11

Lớp
12

259

Bảng 5 Chuẩn kỹ năng Nghe
Mức độ cần đạt
1. Nghe và nắm được các từ then chốt trong một đoạn văn
2. Có thể nắm bắt được thơng tin chính từ các tài liệu nghe, bài nói chuyện
đơn giản hoặc từ một cuộc thảo luận.
3. Có thể nghe hiểu câu chuyện hoặc bài viết dài 12 – 15 câu với tốc độ nói
bình thường, lượng từ mới khơng q 2%
4. Nghe hiểu và thực hiện được theo yêu cầu của một số câu cầu khiến thông
thường.
1. Nhận biết được thông tin quan trọng trong đoạn đoạn văn được nghe và
đưa ra được suy đốn đơn giản
2. Có thể ghi chép theo nội dung được nghe
3. Có thể kết nối các thơng tin và sự thật có liên quan dựa vào đầu mối trong
câu chuyện
4. Có thể nghe hiểu nội dung mô tả về người, sự vật trong câu chuyện và sự

phát triển các tình tiết, kết quả của câu chuyện
1. Nhận biết thái độ khác nhau của người nói qua ngữ khí khác nhau trong
câu để có thể cảm nhận được ý tứ của người nói.
2. Nghe hiểu nội dung cơ bản các cuộc thảo luận, trò chuyện về nội dung chủ
đề đã được học
3. Nghe, nhận biết đại ý của các mẩu tin thông thường được phát thanh,
truyền hình bằng tiếng Trung Quốc
Bảng 6. Chuẩn kỹ năng Nói
Mức độ cần đạt
1.Có thể truyền đạt thơng tin và nêu ý kiến, quan điểm của bản thân về chủ
đề quen thuộc dưới hình thức nhắc lại, nêu ví dụ, giải thích
2.Có thể mơ tả kinh nghiệm cá nhân, biểu đạt được ý kiến và tưởng tượng
của bản thân về các chủ đề quen thuộc đã học
3. Có thể bày tỏ thái độ và ý muốn của bản thân trong các tình huống và ngữ
cảnh xác định bằng các phương thức biểu đạt thích hợp
1. Có thể giao tiếp bằng tiếng Trung Quốc với nội dung đơn giản dưới hình
thức đối thoại, độc thoại
2. Có thể phát biểu ý kiến cá nhân bằng lời của bản thân trên cơ sở đề cương
chuẩn bị theo chủ đề đã được học
3. Có thể trình bày nội dung chủ đề đã học với độ dài khoảng 15 – 20 câu
4. Có thể tham gia tranh luận về một vấn đề nào đó được hỏi hoặc được yêu
cầu
1. Có thể trao đổi, báo cáo về tình hình học tập (của cá nhân, của lớp)
2. Có thể trình bày một vấn đề nào đó trong vịng 3 phút có chuẩn bị trước
3. Có thể giao tiếp được với người Trung Quốc bằng những câu đơn giản


Khố
i lớp
Lớp

10

Lớp
11

Lớp
12

Bảng 7. Chuẩn kỹ năng Đọc
Mức độ cần đạt
1.Đọc hiểu nội dung của tài liệu có khoảng 3% từ mới dựa vào ngữ cảnh
2.Có thể suy luận và dự đốn được sự phát triển của tình tiết câu chuyện
3. Có thể thu lượm thơng tin, nội dung chủ yếu từ các loại tài liệu liên quan
đến các chủ điểm đã học thông qua các kênh thông tin khác nhau (sách,
báo, tài liệu đọc trên mạng Internet, trên truyền hình)
1. Có thể thu thập và tóm tắt được được thơng tin chủ yếu trong tài liệu đọc
đơn giản
2. Có thể đọc hiểu mục đích của bài văn và ý đồ của tác giả với từ ngữ quen
thuộc đã học
3. Có thể lựa chọn, thu thập và sắp xếp lại thông tin trong một bài văn đơn
giản
4. Có thể dựa và văn cảnh để đọc hiểu nội dung của bài đọc có độ dài
khoảng 20 – 25 câu
1. Nhận biết được đặc trưng của các thể loại văn khác nhau
2. Có thể lý giải được các câu khó, câu dài thơng qua việc phân tích kết câu
của câu
3. Có thể hiểu và thu thập được thông tin lấy từ mạng Internet hoặc các tài
liệu đọc đọc điện tử theo yêu cầu học tập
Bảng 8.


Khố
i lớp
Lớp
10

Lớp
11

Lớp
12

Chuẩn kỹ năng Viết
Mức độ cần đạt

1.Đọc hiểu nội dung của tài liệu cso khoảng 3% từ mới dựa vào ngữ cảnh
2.Có thể suy luận và dự đốn được sự phát triển của tình tiết câu chuyện
3. Có thể thu lượm thơng tin, nội dung chủ yếu từ các loại tài liệu liên quan
đến các chủ điểm đã học thông qua các kênh thông tin khác nhau (sách,
báo, tài liệu đọc trên mạng Internet, trên truyền hình)
1. Có thể miêu tả tương đối chi tiết về đặc điểm của sự vật hiện tượng
2. Có thể viết được đoạn văn dài 15 – 20 câu theo đề tài, thể thức thường gặp
(báo cáo, lời giới thiệu, thuyết minh vấn đề quen thuộc)
3. Có thể mơ tả nhân vật hoặc sự kiện và bày tỏ cách lý giải của bản thân
4. Có thể điền được đầy đủ thơng tin cá nhân vào các biểu bảng, tờ khai
thơng thường
1. Có thể viết một đoạn văn hoàn chỉnh, thuật lại sự việc, bày tỏ quan điểm
và thái độ của bản thân
2. Có thể viết tóm tắt bài khóa
3. Có thể viết bài tập làm văn theo chủ đề quen thuộc
4. Có thể viết báo cáo dựa vào tư liệu hoặc biểu bảng cho sẵn


2.4 Tiểu kết phần thứ hai
Qua nghiên cứu về chương trình, SGK mơn Tiếng Trung Quốc phổ thơng nói
chung và chương trình, SGK bậc học THPT nói riêng, có thể rút ra một số nhận xét
bước đầu như sau:
260


+ Tiếng Trung Quốc được đưa vào dạy học trong nhà trường phổ thông như một ngoại
ngữ và là một môn học bắt buộc, nhằm mục tiêu tạo cơ sở tốt cho sự phát triển trí lực và
việc học tập lâu dài của học sinh.
+ Chương trình và SGK tiếng Trung Quốc được xây dựng và biên soạn một cách có
hệ thống, đảm bảo tính khoa học, tính sư phạm, tính thực tiễn và tính cập nhật thời đại,
mang tính liên thông và liền mạch nhất quán giữa hai cấp học THCS và THPT.
+ Tiếng Trung Quốc được dạy trong SGK phổ thông theo đơn vị là phát ngôn với tư
cách là một đơn vị giao tiếp cơ bản, trong đó câu như một phát ngơn tối thiểu được cấu
thành bởi từ, cụm từ theo những quy tắc kết hợp nhất định. SGK thể hiện sự chú trọng
đến các kiểu câu, mẫu câu, tình huống sử dụng và ý nghĩa của câu trong ngữ cảnh thực
tế.
+ Ngữ liệu được sử dụng trong chương trình và cung cấp cho học sinh trong SGK có
chú trọng sự giữa các yếu tố ngơn ngữ và văn hóa, thơng qua việc dạy câu mẫu dạy học
sinh cách làm các bài tập trong sách, rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức và ngữ liệu
đã học để biểu đạt nội dung tư tưởng của bản thân trong các tình huống cụ thể cần thiết,
từng bước hình thành năng lực giao tiếp bằng tiếng Trung Quốc.
+ Cấu tạo của SGK về cơ bản được xây dựng theo đường hướng dạy và phương pháp
dạy học tích cực: coi học sinh là chủ thể của hoạt động dạy học, SGK trong từng bài đều
có sử dụng sơ đồ, cơng thức tóm tắt, có phần tổng kết, hệ thống hóa kiến thức ngơn ngữ,
ý nghĩa ngữ dụng của ngữ liệu một cách đơn giản, dễ hiểu giúp học sinh hiểu bài, tiếp
thu và vận dụng ngay được kiến thúc và có thể chủ động tham gia vào hoạt động học tập
trên lớp dưới sự gợi ý và dẫn dắt của giáo viên.

+ Chương trình và SGK tiếng Trung Quốc phổ thơng Việt Nam có tính đến đặc điểm
của mơn ngoại ngữ này trong mối liên hệ với tiếng Việt và văn hóa Việt Nam. Tận dụng
những lợi thế trong chuyển di ngôn ngữ để phát huy tác dụng của các chuyển di tích
cực, hạn chế chuyển di tiêu cực, dẫn dắt học sinh tiếp cận được chính xác với chữ Hán
và ngơn ngữ văn hóa Trung Quốc thơng qua hệ thống âm đọc Hán - Việt, đặc thù ngữ
âm của tiếng Trung Quốc trong mối liên hệ với tiếng Việt, thể hiện qua bảng thống kê từ
vựng và âm đọc Hán - Việt tương ứng được đưa vào cuối SGK của mỗi lớp.
Tài liệu tham khảo
I. Sách giáo khoa
[1] Nguyễn Hữu Cầu Chu Quang Thắng Phó Thị Mai, Tiếng Trung Quốc 10, NXB
Giáo dục, 2006
[2] Nguyễn Hữu Cầu Chu Quang Thắng Nguyễn Hoàng Anh, Tiếng Trung Quốc 11,
NXB Giáo dục, 2007
[3] Nguyễn Hữu Cầu Chu Quang Thắng Bùi Đức Thiệp, Tiếng Trung Quốc 12, NXB
Giáo dục, 2008
II. Tài liệu khác
[4] Chương trình giáo dục phổ thơng mơn Tiếng Trung Quốc cấp Trung học phổ
thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội, 5 - 2006
[5] 汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉1994
[6] 汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉1997
[7] 汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉 汉汉汉汉汉汉汉汉汉(HSK)汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉1993
[8] 汉汉汉 汉汉 汉汉汉 汉汉汉HSK 汉汉汉汉(汉汉汉),汉汉汉汉汉汉汉汉 汉汉2003
[9] 汉汉汉 汉汉汉 汉汉汉HSK 汉汉汉汉(汉汉汉),汉汉汉汉汉汉汉汉汉, 2003

261


HỌC TIẾNG HÁN BẮT ĐẦU TỪ VIỆC LÝ GIẢI Ý NGHĨA VĂN HĨA
CỦA NHỮNG LỜI CHÀO THƠNG DỤNG NHẤT
ThS. PHĨ THỊ MAI 

Trung tâm NCGDNN&KĐCL
1. Đặt vấn đề
Trong quan hệ tiếp xúc giữa con người với con người, ở bất kỳ nơi nào, với tập
quán giao tiếp của bất cứ dân tộc nào thì nghi thức giao tiếp đầu tiên bao giờ cũng bắt
đầu bằng lời chào. Đó là những khn mẫu lời nói nhất định, để biểu thị tình cảm thân
thiện, thái độ lịch thiệp và tôn trọng lẫn nhau, hoặc để thiết lập, củng cố và duy trì sự
tiếp xúc theo chiều hướng tốt đẹp, dễ chịu, đạt hiệu quả giao tiếp mong muốn. Lời
chào ở mọi nơi, mọi lúc đều được đặc biệt coi trọng bởi nó quyết định chiều hướng
thành công hay tan vỡ, gián đoạn của tất cả các cuộc tiếp xúc.
Nội hàm ý nghĩa của lời chào mang tính phổ quát đối với tất cả mọi tộc người với
mọi ngôn ngữ. Tuy nhiên, ý nghĩa phổ quát của lời chào lại được thể hiện ra dưới các
hình thức ngơn ngữ khơng giống nhau, thậm chí hồn tồn khác nhau. Mỗi dân tộc,
mỗi quốc gia khác nhau có bối cảnh văn hố, khởi nguồn lịch sử và và khu vực cư trú
khác nhau nên tất yếu có sự khác biệt rõ rệt về tập quán sinh hoạt và giao tiếp, về
phương thức chào hỏi và hình thức lời chào, đó là sự khác biệt về văn hóa.
Với người Việt Nam học tiếng Hán, sự hiểu biết thấu đáo về tầng sâu văn hóa hàm
chứa trong những lời chào thông dụng nhất chắc chắn giúp cho người học tâm đắc
được sâu sắc hơn phần “ý tại ngơn ngoại” với sắc thái tình cảm riêng của các lời chào
để có thể sử dụng được chúng một cách đắc dụng nhất, sống động và “có hồn” nhất.
Từ góc độ khởi nguồn lịch sử, bài viết này sẽ khai thác và giới thiệu thêm ý nghĩa
và đặc trưng văn hóa lịch sử của lời chào trong tiếng Hán, đặt chúng vào mối tương
quan với tiếng Việt và văn hóa Việt - bối cảnh văn hóa chi phối tư duy, ý thức của
người học Việt Nam trong toàn bộ quá trình học tiếng Hán.
2. Đặc trưng văn hố của lời chào trong tiếng Hán
2.1 Lời chào - nhân tố xúc tác khởi động tiếp xúc phản ánh nét đặc thù văn hóa
dân tộc.
Như trong tất cả mọi ngơn ngữ, lời chào trong tiếng Hán có chức năng chuyên biệt
của nó so với các kiểu loại lời nói khác. Nét chính yếu nhất trong chức năng của lời
chào là “khởi động và định hướng giao tiếp”. Tuy nhiên, khởi động như thế nào và
định hướng ra sao để hoàn thành được sứ mệnh của lời chào thì trong mỗi ngơn ngữ có

cách thức thể hiện khác nhau. Sự khác nhau đó bắt nguồn từ cội rễ sâu xa là văn hóa
dân tộc.
Bản thân lời chào là đơn vị lời nói - hình thức biểu hiện của ngơn ngữ, mà ngơn
ngữ là phương tiện chuyển tải và phản ánh văn hóa. Do vậy, lời chào trong mọi ngơn
ngữ nói chung và trong tiếng Hán nói riêng tất yếu là mặt gương phản chiếu, phản ánh
đặc trưng văn hóa của dân tộc Hán, hay nói một cách sát thực hơn, phản ánh văn hóa


DĐ: 09 85 32 57 33 E-Mail:

262


chào hỏi của Trung Quốc. Chào hỏi là khi con người thể hiện năng lực giao tiếp văn
hóa của bản thân mình. Năng lực đó được hình thành và phát triển trên nền tảng của
bối cảnh văn hóa dân tộc, là đặc điểm tâm lý và tính cách dân tộc…Giữa các bên tham
gia giao tiếp, nếu có cùng một “phơng văn hóa dân tộc” thì khơng có sự xung đột về
văn hóa, chỉ có sự khác nhau về năng lực giao tiếp văn hóa cao hay thấp mà thơi.
Người Việt Nam có câu “ Nói ngọt lọt đến xương”. Khi cuộc giao tiếp được khởi động
bằng một lời “nói ngọt” - một lời chào lịch sự, đúng thể thức thì chức năng khởi động,
định hướng của lời chào đó lập tức phát huy được tác dụng tối đa, còn ngược lại thì sẽ
là một kết cục phản tác dụng. Nếu giữa các bên tham gia giao tiếp khác nhau về bối
cảnh văn hóa dân tộc thì q trình giao tiếp được gọi là giao tiếp xun văn hóa. Q
trình giao tiếp này luôn luôn tồn tại đồng thời hiện tượng giao thoa văn hóa và hiện
tượng xung đột văn hóa. Sự thơng hiểu lẫn nhau về văn hóa giao tiếp giữa các bên
càng nhiều bao nhiêu thì xung đột văn hóa càng giảm nhẹ bấy nhiêu.
Với tất cả người học tiếng Hán như một ngoại ngữ, muốn vượt qua được trở ngại
về ngôn ngữ để giao tiếp tự nhiên được với người Hoa, thì điều kiện trước tiên và tối
thiểu là phải biết chào hỏi đúng thể thức, phù hợp với tập quán giao tiếp của dân tộc
Trung Hoa. Điều đó địi hỏi người sử dungj ngơn ngữ, trước một tình huống tiếp xúc

cụ thể, đồng thời với việc biết phải nói gì thì cịn phải biết rõ tại sao phải nói như vậy,
yếu tố chi phối tính phù hợp hay không phù hợp của từng lời chào trong mỗi tình
huống tiếp xúc cụ thể đó, chính là những nét đặc trưng về văn hóa chào hỏi của Trung
Quốc. Tuy nhiên, cần nói rõ, những nét đặc trưng văn hóa chủ yếu thể hiện trong lời
chào của tiếng Hán được đề cập và bàn luận ở đây khơng có nghĩa là chỉ có thể tìm
thấy trong văn hóa Trung Quốc, càng khơng có nghĩa là chỉ có người Trung Quốc mới
có những quan niệm giá trị hay tài sản văn hóa tinh thần như vậy. Bởi vì văn hóa ngồi
tính dân tộc cịn có tính khu vực. Với người phương Đơng nói chung và người Việt
Nam nói riêng, khi tiếp xúc với văn hố và ngơn ngữ chào hỏi của tiếng Hán chắc chắn
sẽ có cảm giác dường như đang gặp lại đâu đó “bóng dáng” phảng phất của truyền
thống văn hóa dân tộc mình. Đó là thực tế hiển nhiên hiện hữu một cách khách quan.
2.2 Một số đặc trưng văn hóa cơ bản của lời chào trong tiếng Hán
2.2.1 Xưng hô trong lời chào – nét khúc xạ phản ánh văn hóa Nho giáo và quan niệm
giá trị của dân tôc Trung Hoa
Ai cũng biết, xưng hô luôn luôn là tâm điểm chú ý đầu tiên trong giao tiếp ngôn
ngữ, mà tác nhân "mở màn" của mọi cuộc tiếp xúc là lời chào, trong đó rất ít khi thiếu
vắng từ ngữ xưng hơ. Vì vậy mà xưng hơ trở nên có vị trí "tâm điểm của tâm điểm"
trong mọi cảnh huống tiếp xúc ngôn ngữ, và lời chào của tiếng Hán cũng khơng phải
là ngoại lệ
Văn hóa Trung Hoa chịu ảnh hưởng sâu sắc của hình thái kinh tế nơng nghiệp và
văn hóa làng xã. Một trong những đặc điểm tâm lí văn hố của người Trung Quốc là
ln nhấn mạnh sự hài hồ trong quan hệ nhân luân, nhấn mạnh tính xã hội của mỗi cá
thể con người. Con người Trung Quốc vốn được sinh ra và tắm mình trong tư tưởng
“汉汉汉” (nhân - lễ汉của văn hố Nho gia, dịng chảy chính trong suối nguồn văn hố
truyền thống của dân tộc Trung Hoa. Triết lý ứng xử của văn hóa Nho gia là “kỷ dục
đạt nhi đạt nhân” (汉汉汉汉汉汉- mình muốn được thế nào thì hãy làm cho người khác
263


cũng được như vậy). Ai cũng muốn được người khác tơn trọng, vì vậy người ta hiểu

rằng cần phải biết tôn trọng và đề cao người khác, trước tiên bắt đầu từ lời chào hỏi
thân thiện, từ lối xưng hô lịch thiệp và trang trọng sao cho đúng với danh phận, vị thế
của người nói, cho phù hợp, thoả đáng với quan hệ song phương giữa người nói và
người nghe. Trong văn hoá giao tiếp và quan niệm giá trị của Trung Hoa, đức khiêm
tốn theo kiểu “汉汉汉汉汉; 汉汉汉汉” (ti kỷ nhi tôn nhân; biếm kỷ tôn nhân) hạ thấp mình và
đề cao người được coi là một phẩm chất tốt đẹp của con người.. Trong lời chào tiếng
Hán, nét đặc trưng văn hóa nổi bật thể hiện tập trung nhất ở tập quán xưng hô theo một
nguyên tắc lịch sự truyền thống lâu đời “xưng khiêm hô tôn”: hạ thấp mình, đề cao và
tơn xưng đối tượng giao tiếp.
Thời cổ đại, ngoài cách “khiêm xưng” kiểu tự gọi tên tục của mình ra, từ ngữ tự
xưng thường dùng nhất của người Trung Quốc là “bỉ nhân” (汉汉), nghĩa là kẻ quê mùa,
thô lậu nơi điền dã, hàm nghĩa chỉ người ít học, hèn kém. Xưa kia, những người có
danh phận cao sang thường sống ở nơi đô hội, chỉ có những người ít chữ nghĩa, những
kẻ “phàm phu tục tử” khơng có địa vị xã hội mới sống ở nơi thôn dã với đồng ruộng.
Vào cuối thời Chiến quốc và quãng giao thời giữa hai triều đại Tần - Hán, trong ngôn
ngữ tự xưng ở ngôi thứ nhất, thường dân Trung Quốc phổ biến tự xưng là “thần, bộc”,
(đàn ông) và “thiếp” (đàn bà), các từ chỉ lớp người có thân phận hèn kém nhất trong xã
hội, người quả phụ tự xưng là “vị vong nhân” (kẻ sống thừa, sống dở). Ngay cả các
tầng lớp có địa vị và danh phận cao sang trong xã hội, các bậc quân vương chư hầu
cũng không ngoại lệ với tập quán khiêm xưng. Đó là “quả nhân”, ( 汉 汉 : kẻ khiếm
khuyết) ; “bất cốc” (汉汉: kẻ khơng hồn thiện) [10,773 - 775].
Trong tiếng Hán hiện đại, lời chào hỏi thường được mở đầu bằng từ ngữ xưng hô
chỉ chức danh, nghề nghiệp, nhất là khi chào hỏi trong giao tiếp công vụ, như hiệu
trưởng Vương (汉汉汉), chủ nhiệm Trương (汉汉汉), bác sĩ Lý (汉汉汉), thày giáo Triệu (汉汉
汉)…Tập quán này phản ánh quan niệm đẳng cấp của ngưừoi Trung Quốc xưa và quan
niệm giá trị của người Trung Quốc hiện đại, chuộng cách xưng hô với địa vị giá trị
cao. Trong con mắt của người Trung Quốc, chức nghiệp phản ánh địa vị xã hội và sự
thành đạt cũng như thời vận của mỗi con người trong cuộc sống. Xưng hô trong chào
hỏi bằng từ chỉ chức danh, nghề nghiệp là cách biểu thị sự tôn vinh giá trị của đối
tượng giao tiếp, là đặc trưng của văn hóa giao tiếp “ 汉汉汉汉” ( biếm kỷ tơn nhân: hạ

thấp mình, đề cao người) mang đậm bản sắc Trung Quốc. Với tập quán xưng hô của
người Việt, người học Việt Nam ngoài việc cần làm quen và lý giải cách xưng hơ chào
hỏi theo chức danh, nghề nghiệp nêu trên cịn cần phải biết tập quán xưng hô theo kiểu
“nâng cấp” của người Trung Quốc hiện đại. Đó là cách gọi chức danh cấp phó thành
trưởng khi tiếp xúc trực tiếp (ví dụ: khi chào hỏi trực tiếp phải gọi phó hiệu trưởng họ
Trần là hiệu trưởng Trần, phó trưởng phịng họ Cao phải được gọi là trưởng phòng
Cao…)
Trong lời chào, xưng hơ thể hiện rõ tình cảm, thái độ và cả ý đồ giao tiếp của chủ
thể giao tiếp. Do vậy, có những lúc các bên tham gia giao tiếp trở nên lúng túng hoặc
khó xử khi chào hỏi, thường là vì vấp phải khó khăn khơng biết xưng hơ thế nào cho
khỏi thất lễ. Trích đoạn truyện ngắn "Cố hương" của Lỗ Tấn sau đây là một ví dụ.

264


Dưới ngòi bút miêu tả tinh tế của tác giả, cuộc tái ngộ sau nhiều năm xa cách giữa
hai người bạn thân thiết thuở thiếu thời (vốn quen gọi nhau bằng Nhuận Thổ - anh
Tấn) bỗng trở nên khách khí, xa lạ vì vị thế mỗi người đã đổi thay cùng với lối xưng
hô đầy vẻ cách ngăn của lễ tiết:
… Lúc bấy giờ tôi mừng rỡ vô cùng nhưng chưa biết nói thế nào cho phải, đành
chỉ hỏi:
- À, anh Nhuận Thổ, anh đã đến đấy à? …
Nhuận Thổ đứng dừng lại, nét mặt vừa hớn hở vừa thê lương, mơi mấp máy,
nhưng cũng khơng nói ra tiếng. Rồi bỗng anh lấy một dáng điệu cung kính, chào
rất rành mạch:
- Bẩm ông!
Tôi như điếng người đi. Thôi đúng rồi! Giữa chúng tơi đã có một bức tường
khá dày ngăn cách. Thật là bi đát…
Anh ta ngoảnh đầu lại gọi:
- Thuỷ Sinh, con khơng lạy ơng đi kìa!...

( Cố hương - “Truyện ngắn Lỗ Tấn”, Trương Chính dịch,
NXB Văn học, 1998, trang 102)
Ở đoạn thoại trên, Lỗ Tấn diễn tả tình cảm giữa "tơi" và Nhuận Thổ dường như
vẫn cịn nguyên trong ký ức về tuổi thiếu thời (“tôi mừng rỡ vơ cùng”, cịn Nhuận Thổ
“nét mặt vừa hớn hở vừa thê lương”), chỉ có thân phận đã đổi khác khiến cho cả hai
đều phải lúng túng khi giáp mặt và chào hỏi nhau. Vốn chỉ quen gọi là Nhuận Thổ, nay
“tôi” chuyển sang gọi “anh Nhuận Thổ” (汉汉汉); vốn quen gọi “tôi” là “anh Tấn”汉汉汉汉,
nay Nhuận Thổ bỗng chuyển xưng hô gọi “tôi” là “ông lớn” (汉汉 lão da).
2.2.2 Chào bằng câu hỏi – nét đặc thù trong ngôn ngữ chào hỏi tiếng Hán
Một thực tế giao tiếp sống động cho thấy, xưa nay đại bộ phận lời chào của tiếng
Hán có nội dung thăm hỏi; và, vì thế tuyệt đại bộ phận lời chào được sử dụng dưới
hình thức câu hỏi. (Rất có thể, đây cũng là một nguyên do xuất hiện của từ “ 汉汉”(vấn
hậu: chào hỏi, thăm hỏi) trong tiếng Hán). Nét đặc trưng “chào- hỏi” này có cội nguồn
văn hóa, lịch sử xã hội sâu xa, bởi bối cảnh lịch sử và xã hội của một dân tộc là vườn
ươm của ngôn ngữ chào hỏi mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc ấy. Chẳng hạn, những
ai quan tâm đến lĩnh vực nghiên cứu về ngơn ngữ chào hỏi của tiếng Hán đều biết, có
một câu chào của miệng “汉汉汉汉”(Đã ăn chưa?), mà cho đến hơm nay - khi mà xã hội
và tồn dân Trung Quốc đã vượt xa mục tiêu phấn đấu cho một cuộc sống “cơm no áo
ấm”, phần đông dân chúng đã và đang có cuộc sống sung túc “ăn ngon mặc đẹp” thì
khơng ít học giả Trung Quốc vẫn đang bàn về nguồn gốc của câu chào này, vì nó liên
quan đến đặc trưng văn hóa chào hỏi của một dân tộc. Cũng như vậy, không phải ngẫu
nhiên mà trong tiếng Hán hiện đại vẫn thông dụng câu chào “汉汉汉汉汉汉” (Anh/chị có
khỏe khơng?). Thoạt nghe thì câu chào này có vẻ mang tính phổ qt, vì trong nhiều
ngơn ngữ khác hầu như đều có câu chào này, nhưng đi sâu vào cội nguồn xa xưa của
nó sẽ thấy, tất cả đều có lai lịch và nguyên do lịch sử bắt nguồn từ thực tế đời sống xã
hội ngàn xưa của dân tộc Trung Hoa.

265



Thiết tưởng, bằng việc đi sâu tìm hiểu nguồn gốc văn hóa của hai lời chào thơng
dụng tiêu biểu này, có thể lý giải sâu sắc hơn đặc trưng văn hóa và hàm ý sâu xa của
lời chào tiếng Hán.
2.3 Nguồn gốc lịch sử và ý nghĩa văn hóa của hai câu chào “Anh/chị có khỏe
khơng?” , “Đã ăn chưa?”
2.3.1 Vì sao“ 吃吃吃吃” (Đã ăn chưa?) lại trở thành câu chào cửa miệng của người
Trung Quốc?
Theo nhiều học giả Trung quốc thì câu chào này ra đời với hai lí do liên quan đến
lịch sử xã hội và văn hóa của dân tộc Trung Hoa. Cách lí giải thứ nhất cho rằng: là một
nước đất rộng người đông, Trung Quốc từ xa xưa cho đến trước thời kỳ mở cửa và cải
cách kinh tế ở thập kỷ 70 của thế kỷ XX chủ yếu là một nước kinh tế nông nghiệp với
tập quán canh tác lạc hậu, năng suất lao động thấp. Do vậy, vấn đề ăn no mặc ấm luôn
là một thách thức lớn với con người trên đất nước này. Bách tính Trung Hoa từ ngàn
xưa ln ln phải bươn chải vật lộn với cuộc sống đói nghèo, vì thế trong khi các bậc
đế vương Trung Hoa tuân thủ triết lý “dĩ dân vi thiên - coi dân là trời”(汉汉汉汉), thì triết
lý sống cuả dân là “dĩ thực vi thiên - coi cái ăn là trời” (汉汉汉汉). Khổng Tử cũng từng
nói: “汉, 汉汉汉汉” (thực, sắc, tính dã: thực dục và tính dục, đó là bản năng vậy - “Luận
ngữ”). Bản năng “ăn” đã được cổ nhân Trung Quốc đặt lên trước bản năng tính dục
trong cuộc sống của con người theo một quan niệm hết sức duy vật, bởi vì khơng ăn
thì khơng thể tồn tại được. Trong khoảng thời gian mấy chục năm sau khi nước Cộng
hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, vấn đề no ấm cho toàn dân vẫn chưa hoàn toàn giải
quyết được, cuộc sống vật chất vẫn thiếu thốn trăm bề, vì vậy “ăn” vẫn là mối quan
tâm hàng đầu của mọi người trong cuộc sống xã hội. Và “汉汉汉汉” (Đã ăn chưa?) mặc
nhiên trở thành lời chào thể hiện sự quan tâm đến cuộc sống của nhau giữa mọi người,
mang ý nghĩa xã hội và ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
- Từ một góc nhìn khác về văn hóa giao tiếp của dân tộc Trung Hoa, một số học giả
phân tích: Trung Quốc là một đất nước có truyền thống văn hóa ẩm thực lâu đời và
phong phú. “Ăn”cùng với sự thể hiện thịnh tình của chủ với khách và những câu
chuyện tình cảm, chuyện làm ăn xung quanh bàn ăn cũng là một đặc trưng của văn hoá
ẩm thực, đồng thời cũng là một phương thức giao tiếp quan trọng trong văn hóa giao

tiếp của người Trung Quốc. Từ ngàn xưa, từ buổi bình minh của văn hóa nhân văn trên
đất nước này, trong Chu lễ (汉汉) đã biết đến “汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉汉” (dĩ ẩm
thực chi cát lễ thân tông tộc huynh đệ, dĩ hưởng yến chi lễ thân tứ phương tân khách:
biện lễ mâm cao cỗ đầy để thù tiếp anh em trong gia tộc, đãi đằng yến tiệc để kết thân
bầu bạn khách khứa bốn phương). Trong một xã hội coi trọng “chủ nghĩa tông pháp”
với quan niệm sâu sắc về “tứ hải chi nội giai huynh đệ” (khắp nơi bốn bể đều là anh
em) như xã hội Trung Quốc, quan hệ tông tộc, quan hệ thân duyên hết sức quan trọng.
Giữa con người với người, dù không cùng huyết thống cũng cần phải gắn kết với nhau
bằng các mối lương dun. Chính vì vậy, người Trung Quốc coi trọng và rất chuộng
thú vui biện cỗ bàn thịnh soạn đãi đằng anh em, bè bạn, vì ở đó có tình thân, ở đó
“tửu phùng tri kỷ thiên bơi thiểu” (uống rượu gặp bạn tri kỷ ngàn chén không đủ), tất
cả những cái đó là nhân dun, là nhu cầu tình cảm không thể thiếu trong cuộc sống
tinh thần của con người. Văn hóa ẩm thực đã đi vào tình cảm của người Trung Quốc
266


×