TRƯ ỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯ ƠNG MẠI
TRẦN NGỌC YẾN NHI
CHUYỂN RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG
MUA BÁN HÀNG HÓA THEO LUẬT THƯƠNG MẠI 2005
CHUYÊN NGÀNH LUẬT THƯ ƠNG MẠI
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2022
TRƯ ỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯ ƠNG MẠI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
CHUYỂN RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG
MUA BÁN HÀNG HÓA THEO LUẬT THƯƠNG MẠI 2005
SINH VIÊN THỰC HIỆN: TRẦN NGỌC YẾN NHI
KHÓA: 43
MSSV: 1853801011150
GIẢNG VIÊN HƯ ỚNG DẪN: THS. NGUYỄN HOÀNG PHƯỚC HẠNH
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2022
LỜI CAM ĐOAN
Tơi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được
thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Nguyễn Hồng Phước Hạnh, đảm
bảo tính trung thực và tn thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo.
Tơi xin chịu hồn tồn trách nhiệm về lời cam đoan này.
TP HCM, ngày 29 tháng 6 năm 2022
Sinh viên thực hiện
Trần Ngọc Yến Nhi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT
NỘI DUNG ĐƯỢC VIẾT TẮT
BLDS 2015
Bộ luật Dân sự năm 2015
LTM 2005
Luật Thương mại năm 2005
CISG 1980
United Nations Convention on Contracts for the
International Sale of Goods (Công ước Viên năm 1980 về
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế)
INCOTERMS 2020
Các quy tắc của ICC về sử dụng các điều kiện thương mại
quốc tế và nội địa (phiên bản năm 2020)
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ...............................................................................................................
CHƯƠNG 1..................................................................................................................... 7
1.1 Khái quát chung về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá ......... 7
1.1.1 Khái niệm rủi ro và chuyển rủi ro ................................................................. 7
1.1.1.1 Khái niệm rủi ro ....................................................................................... 7
1.1.1.2 Khái niệm chuyển rủi ro ......................................................................... 11
1.1.2 Đặc điểm của rủi ro đối với hàng hoá và phân biệt rủi ro với sự kiện bất
khả kháng trong hoạt động mua bán hàng hoá .................................................. 12
1.1.2.1 Đặc điểm của rủi ro đối với hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hoá
............................................................................................................................ 12
1.1.2.2 Phân biệt rủi ro với sự kiện bất khả kháng............................................. 15
1.1.3 Các loại rủi ro thường gặp và phân loại rủi ro trong hoạt động mua bán
hàng hoá ................................................................................................................ 16
1.1.3.1 Phân loại rủi ro ....................................................................................... 16
1.1.3.2 Các loại rủi ro thường gặp...................................................................... 18
1.1.4 Thời điểm chuyển rủi ro .............................................................................. 21
1.1.4.1 Khái niệm thời điểm chuyển rủi ro ........................................................ 21
1.1.4.2 Đặc điểm thời điểm chuyển rủi ro.......................................................... 24
1.1.4.3 Mối liên hệ giữa thời điểm chuyển rủi ro và thời điểm chuyển quyền sở
hữu ...................................................................................................................... 25
1.2 Ý nghĩa của việc xác định rủi ro, thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hoá
trong hoạt động mua bán hàng hoá ........................................................................ 26
1.2.1 Ý nghĩa của việc xác định rủi ro ................................................................. 26
1.2.2 Ý nghĩa của việc xác định thời điểm chuyển rủi ro .................................... 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ............................................................................................. 30
CHƯƠNG 2................................................................................................................... 31
2.1 Chuyển rủi ro trong trường hợp có địa điểm giao hàng xác định ................. 32
2.2 Chuyển rủi ro trong trường hợp khơng có địa điểm giao hàng xác định ..... 39
2.3 Chuyển rủi ro trong trường hợp giao hàng cho người nhận hàng để giao mà
không phải là người vận chuyển ............................................................................. 43
2.4 Chuyển rủi ro trong trường hợp mua bán hàng hoá trên đường vận chuyển
.................................................................................................................................... 46
2.5 Chuyển rủi ro trong trường hợp khác ............................................................. 50
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ............................................................................................. 53
KẾT LUẬN CHUNG ................................................................................................... 54
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập quốc tế và tồn cầu hố diễn ra mạnh mẽ hiện nay, cũng như
nhiều quốc gia đang phát triển trên thế giới, Việt Nam đã và đang ngày càng nghiêm túc
phấn đấu hội nhập vào nền kinh tế quốc tế. Trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế
quốc tế, Việt Nam đã tham gia các tổ chức kinh tế thương mại khu vực và thế giới, ký
kết các hiệp định hợp tác kinh tế đa phương. Đặc biệt, dấu ấn tích cực trong tiến trình
hội nhập quốc tế là sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO) - tổ chức thương mại lớn nhất thế giới, đây là cột mốc
quan trọng góp phần đổi mới tư duy chính sách, tạo động lực mạnh mẽ để giúp Việt Nam
phát triển kinh tế, ngày càng trở thành một quốc gia cạnh tranh và hiện đại1.
Quá trình hội nhập toàn cầu với nhiều thành tựu trên là kết quả của sự nỗ lực, bền
bỉ theo đuổi và học hỏi những chính sách đổi mới tiên tiến. Từng giai đoạn hội nhập kinh
tế mang đến cho Việt Nam ngày càng nhiều những cơ hội lớn nhưng bên cạnh đó là
khơng ít những thách thức khi chính thức “đặt dấu chân” mình vươn xa hơn trên đấu
trường quốc tế. Một trong những thách thức mà nền kinh tế Việt Nam phải quan tâm là
việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá. Bởi lẽ mua bán hàng hoá là hoạt động thương
mại phổ biến trong nền kinh tế thị trường, là cách thức chủ yếu để tìm kiếm lợi nhuận và
là khâu quan trọng để tái sản xuất sức lao động xã hội; hơn thế nữa, nếu có sự điều tiết
chặt chẽ thì hoạt động mua bán hàng hố sẽ là địn bẩy thúc đẩy nền kinh tế quốc gia.
Chính vì vậy, có thể khẳng định rằng hoạt động mua bán hàng hoá là một trong
những mối quan tâm hàng đầu của quốc gia khi hội nhập toàn cầu. Khi hội nhập vào nền
kinh tế quốc tế, hoạt động mua bán hàng hóa trong nước lẫn hoạt động mua bán hàng
hóa quốc tế đều cần phải được chú trọng nhằm mục tiêu phù hợp và sẵn sàng hoà nhập
với xu hướng pháp luật của đa số quốc gia trên thế giới. Đánh dấu cho sự nỗ lực đó, Việt
Nam đã gia nhập Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Đây
được coi là một trong những hiệp định cốt lõi trong thương mại quốc tế được áp dụng
phổ biến trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế hiện nay. Cơng ước Viên 1980 cung
cấp một chế độ hiện đại, thống nhất và công bằng cho việc giải quyết các tranh chấp liên
quan đến việc mua bán hàng hóa quốc tế, một khung pháp lý chắc chắn trong trao đổi
“Kinh tế hội nhập”, truy cập ngày 24/3/2022.
1
1
thương mại2. Gia nhập Công ước Viên 1980 là sự kiện đặc biệt giúp Việt Nam hoàn thiện
hệ thống pháp luật, tạo một mơi trường kinh doanh an tồn cho các thương nhân Việt
Nam và nhà đầu tư nước ngoài. Hoạt động mua bán hàng hố mang tính phức tạp vì mua
bán hàng hố, đặc biệt là mua bán hàng hóa quốc tế là hoạt động giao thương quốc tế
chứa đựng rất nhiều rủi ro. Bởi lẽ, các bên giao kết hợp đồng thường là những chủ thể
có quốc tịch khác nhau; khoảng cách khá xa về mặt địa lý; sự khác biệt về truyền thống
pháp luật, tập quán thương mại, chính sách kinh tế đối ngoại và đặc biệt là sự khác biệt
về ngôn ngữ dẫn đến nhiều trường hợp các bên khơng hiểu rõ ý chí của nhau 3. Trong
lĩnh vực mua bán hàng hoá, chuyển rủi ro là một trong những nội dung quan trọng mà
các thương nhân phải nắm bắt trong quá trình ký kết hợp đồng. Xác định thời điểm
chuyển rủi ro, hậu quả pháp lý khi chuyển rủi ro là mấu chốt trong việc xác định trách
nhiệm của các bên vì rủi ro là những thiệt hại không mong muốn tác động tiêu cực đến
lợi nhuận cũng chính là mục đích chính của hoạt động thương mại. Hơn thế nữa, quy
định liên quan đến vấn đề chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hố trong Luật
Thương mại năm 2005 vẫn cịn một số điểm chưa thể hiện sự chặt chẽ, những điểm này
được quy định trong các văn bản pháp luật quốc tế với những ưu điểm nhất định. Điều
này đòi hỏi cần phải thực hiện những nghiên cứu thiết thực về vấn đề chuyển rủi ro trong
hoạt động mua bán hàng hóa sao cho chặt chẽ và phù hợp với xu hướng chung của pháp
luật quốc tế từ đó góp phần tạo nền tảng pháp lý cho thương nhân khi tham gia vào hoạt
động mua bán hàng hóa trong bối cảnh hiện nay.
Với những lý do nêu trên, tác giả nhận thức tầm quan trọng của vấn đề và chọn đề
tài “Chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa theo Luật Thương mại 2005”
để nghiên cứu làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hoạt động mua bán hàng hoá là một chế định quan trọng trong Luật Thương mại
năm 2005. Chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá là bộ phận quan trọng trong
chế định đó. Vì vậy, vấn đề này đã được các tác giả nghiên cứu dưới những góc độ khác
nhau thông qua các bài viết được công bố trong các sách chuyên khảo, tạp chí chuyên
ngành, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp. Dưới đây là một vài cơng trình tiêu biểu:
Phùng Bích Ngọc (2018), “Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Cơng ước viên năm 1980 - So
sánh với pháp luật Việt Nam”, Tạp chí luật học, số 6/2019, tr.49.
3
Nguyễn Vũ Hồng (2001), Những khía cạnh kinh tế và luật pháp về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường
biển trong thương mại quốc tế, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tr.9.
2
2
Bài viết “Chuyển rủi ro đối với hàng hoá trong Công ước Viên 1980: Tiếp cận pháp
lý và khuyến nghị thực thi tại Việt Nam” được đăng trên tạp chí Khoa học Kiểm sát số
chuyên đề 01-2021 của tác giả Trần Viết Long và tác giả Bùi Thị Quỳnh Trang. Bài viết
trình bày những nguyên tắc chuyển rủi ro đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế theo Cơng ước Viên 1980; đồng thời trình bày quy định pháp luật về những
trường hợp chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa theo Luật Thương mại năm
2005. Tuy nhiên, bài viết chưa xác định các vấn đề liên quan đến bản chất của việc
chuyển rủi ro, trách nhiệm pháp lý của các bên khi phải gánh chịu rủi ro, mặt khác chưa
có sự so sánh chặt chẽ giữa các quy định liên quan đến vấn đề chuyển rủi ro trong Công
ước Viên 1980 và Luật Thương mại năm 2005. Tác giả sẽ kế thừa những nội dung trong
bài viết này, phân tích sâu hơn và bổ sung những vấn đề mà bài viết chưa đề cập.
Bài viết “Các trường hợp chuyển rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo
Luật Thương mại năm 2005” được đăng trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 11
(260)/2013 của tác giả Bùi Huyền. Bài viết cung cấp những nội dung cơ bản của vấn đề
chuyển rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hoá bằng cách phân tích những quy định
của Luật Thương mại năm 2005, đề cập đến những điểm tiến bộ so với Luật Thương mại
năm 1997 và những điểm chưa hợp lý trong các điều khoản mới. Tác giả cũng tiến hành
so sánh các quy định trên với các quy định trong Công ước Viên 1980 và Các quy tắc
của ICC về sử dụng các điều kiện thương mại quốc tế và nội địa (phiên bản năm 2010).
Tuy nhiên, bài viết chỉ dừng lại ở mức độ phân tích và đánh giá các quy định của pháp
luật Việt Nam. Tác giả sẽ kế thừa những nội dung mà bài viết đã đề cập, tìm hiểu và
nghiên cứu một số trường hợp thực tiễn phát sinh trong quá trình áp dụng pháp luật.
Sách chuyên khảo “Luật hợp đồng thương mại quốc tế” của nhóm tác giả Dương
Anh Sơn, Lê Thị Bích Thọ, Nguyễn Văn Luyện của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
thành phố Hồ Chí Minh năm 2016. Các tác giả đã phân tích quy định pháp luật mới về
vấn đề chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa theo Luật Thương mại năm 2005
trên cơ sở so sánh với Luật Thương mại năm 1997. Đồng thời, các tác giả cũng đã đề
cập những quy định pháp luật liên quan đến vấn đề chuyển rủi ro trong Công ước Viên
năm 1980, Các quy tắc của ICC về sử dụng các điều kiện thương mại quốc tế và nội địa
(phiên bản năm 2010) và kiến nghị sửa đổi phù hợp. Tác giả sẽ phân tích sâu hơn các
vấn đề pháp lý đặt ra lần lượt trong từng điều khoản và đề cập đến các trường hợp chuyển
rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa trong thực tiễn xét xử.
3
Sách chuyên khảo “Giáo trình pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch vụ”của
Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, nhà xuất bản Hồng Đức năm 2014 (tái
bản năm 2020). Các tác giả đã phân tích, làm rõ quy định pháp luật về các trường hợp
chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa theo Luật Thương mại năm 2005; đồng
thời chỉ một số điểm bất hợp lý trong các quy định này. Tác giả sẽ kế thừa nội dung về
những vấn đề bất hợp lý trong các quy định của pháp luật hiện hành mà các tác giả đề
cập, từ đó đánh giá cụ thể và so sánh với pháp luật quốc tế, đề xuất giải pháp hoàn thiện.
Luận văn Thạc sĩ Luật “Xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu và chuyển rủi ro
đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa” của tác giả Phan Văn Mạnh thực
hiện tại Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh năm 2012. Tác giả đã phân tích
và đánh giá các quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu, thời điểm chuyển rủi ro
trong hoạt động mua bán hàng hoá trong các trường hợp chuyển rủi ro cụ thể, từ đó chỉ
ra một số bất cập và đề xuất các giải pháp định hướng hoàn thiện pháp luật về thời điểm
chuyển quyền sở hữu và chuyển rủi ro đối với hàng hóa. Vì luận văn tập trung vào thời
điểm chuyển quyền sở hữu và thời điểm chuyển rủi ro nên chưa làm rõ các vấn đề chuyển
rủi ro như đặc điểm, bản chất của rủi ro, địa điểm chuyển rủi ro, trách nhiệm chịu rủi ro
và thực tiễn áp dụng vấn đề chuyển rủi ro.
Luận văn Thạc sĩ Luật “Quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong hoạt động mua
bán hàng hoá” của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Lan thực hiện tại Trường Đại học Luật
thành phố Hồ Chí Minh năm 2020. Luận văn là nguồn tài liệu quan trọng làm rõ các vấn
đề về rủi ro, thời điểm chuyển rủi ro đồng thời đánh giá và đề xuất giải pháp khắc phục
những điểm bất hợp lý trong hoạt động mua bán hàng hóa. Với nội dung chuyển rủi ro
trong hoạt động mua bán hàng hoá, điều này vừa là cơ hội thuận lợi để tác giả tham khảo
vừa là thách thức khi cả hai cơng trình nghiên cứu cùng một vấn đề. Tuy rằng những quy
định pháp luật của Luật Thương mại năm 2005 vẫn cịn có hiệu lực và chưa có sự thay
đổi nhưng cơng trình nghiên cứu của tơi sẽ có phương pháp tiếp cận và triển khai vấn đề
khác, do đó sẽ mang đến những kết quả khác so với những kết quả của cơng trình này.
Hầu hết các cơng trình nghiên cứu trên đã trình bày, đánh giá các quy định pháp
luật hiện hành, tiến hành so sánh với Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế và đưa ra những điểm bất hợp lý, đề xuất hoàn thiện pháp luật một cách khá
cụ thể. Bên cạnh đó, các cơng trình đều sử dụng Các quy tắc của ICC về sử dụng các
điều kiện thương mại quốc tế và nội địa (phiên bản năm 2010) nên cơng trình nghiên
cứu này là cần thiết để giúp các doanh nghiệp nắm quy định vì Bộ quy tắc này vừa được
4
cập nhật phiên bản mới nhất năm 2020 có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2020 được
áp dụng trong giai đoạn tiếp theo của thương mại toàn cầu. Đồng thời, bối cảnh kinh tế
- xã hội toàn cầu vừa trải qua giai đoạn nhiều thay đổi nên vấn đề chuyển rủi ro trong
hoạt động mua bán hàng hóa cần được đánh giá lại trên những cơ sở đã nghiên cứu, bổ
sung thêm những góc độ phát sinh để thích ứng một cách tối ưu, hạn chế những tổn thất
cho nền kinh tế quốc gia. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu đề tài “Chuyển rủi ro trong
hoạt động mua bán hàng hóa theo Luật Thương mại năm 2005” là cần thiết.
3. Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của
việc chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hố. Thơng qua những quy định pháp
luật hiện hành và thực tiễn áp dụng pháp luật, tác giả sẽ đề xuất giải pháp hoàn thiện
pháp luật bằng cách tiếp thu những quy định tiến bộ để đảm bảo việc thực hiện có hiệu
quả, hạn chế những thiệt hại phát sinh từ vấn đề chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán
hàng hoá. Đây là một trong những biện pháp nhằm thống nhất với quy định pháp luật
của quốc tế và góp phần to lớn vào quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam.
Để đạt được mục tiêu mà tác giả đã đề ra, đề tài sẽ có các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, phân tích những vấn đề cơ bản và khẳng định tầm quan trọng của việc
xác định rủi ro, thời điểm chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa.
Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trạng quy định pháp luật; so sánh và tham khảo
những quy định tiến bộ từ các văn bản pháp luật quốc tế về các trường hợp chuyển rủi
ro trong hoạt động mua bán hàng hoá. Đồng thời, đề xuất định hướng và giải pháp hoàn
thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu: tác giả sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến
việc chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa bao gồm rủi ro, thời điểm chuyển
rủi ro, hậu quả pháp lý của việc chuyển rủi ro và các trường hợp chuyển rủi ro trong hoạt
động mua bán hàng hoá theo quy định của Luật Thương mại năm 2005.
Phạm vi nghiên cứu: tác giả tập trung nghiên về vấn đề chuyển rủi ro trong hoạt
động mua bán hàng hố đối với hàng hóa chứ khơng phải với tất cả tài sản theo quy định
của Luật Thương mại năm 2005. Đồng thời, tác giả chỉ nghiên cứu các vấn đề liên quan
đến chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa thơng thường chứ khơng nghiên
5
cứu hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa vì hoạt động này có những
đặc trưng riêng. Đề tài nghiên cứu các trường hợp chuyển rủi ro trong hợp đồng mua
bán hàng hoá theo quy định của Luật Thương mại năm 2005. Đồng thời trình bày, so
sánh, đối chiếu các quy định nêu trên với các quy định về vấn đề chuyển rủi ro trong
Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và Các quy tắc của ICC về
sử dụng các điều kiện thương mại quốc tế và nội địa (phiên bản năm 2020).
5. Phương pháp tiến hành nghiên cứu đề tài
Tác giả sử dụng lý luận triết học Mác-Lê Nin làm cơ sở, phương pháp luận cho
việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn áp dụng của vấn đề chuyển rủi ro trong hoạt động
mua bán hàng hóa được quy định trong Luật Thương mại năm 2005.
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả khóa luận cịn sử dụng nhiều phương
pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp
so sánh luật, phương pháp phân tích quy phạm pháp luật.
Chương 1, tác giả sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp nhằm làm rõ các
vấn đề mang tính lý luận chung về chuyển đổi rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa
từ kiến thức thực tiễn, các cơng trình nghiên cứu trước đó để khẳng định tầm quan trọng
của việc xác định rủi ro, thời điểm chuyển đổi rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá.
Chương 2, tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích quy phạm pháp luật và
phương pháp so sánh luật để trình bày, phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam
về vấn đề chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá đồng thời so sánh với các
quy định của Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và Các quy tắc
của ICC về sử dụng các điều kiện thương mại quốc tế và nội địa (phiên bản năm 2020)
để tìm ra điểm tương đồng, khác biệt nhằm tìm ra những quy định tiến bộ, đánh giá khả
năng áp dụng và đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam.
6. Bố cục tổng quát của khóa luận
Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội
dung của khóa luận gồm có 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung lý luận chung về chuyển rủi ro trong hoạt động
mua bán hàng hóa.
Chương 2: Thực trạng về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá và đề
xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật.
6
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN RỦI RO TRONG HOẠT
ĐỘNG MUA BÁN HÀNG HOÁ
1.1 Khái quát chung về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá
1.1.1 Khái niệm rủi ro và chuyển rủi ro
1.1.1.1 Khái niệm rủi ro
Một kế hoạch dù có được chuẩn bị kỹ lưỡng đến đâu cũng sẽ có thể xảy ra những
bất trắc, nguy hiểm nằm ngoài mong đợi của chúng ta làm ảnh hưởng đến kết quả dự
kiến ban đầu của kế hoạch. Những bất trắc, nguy hiểm đó được gọi là rủi ro. Theo nghĩa
chung nhất, rủi ro được hiểu là những điều không may mắn, không tốt đẹp bất ngờ xảy
đến nằm ngoài sự mong đợi của con người. Rủi ro hiện diện trong mọi lĩnh vực của đời
sống kinh tế - xã hội và không thể liệt kê một cách đầy đủ được.
Ngày nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất giải thích như thế nào là rủi ro.
Xuất phát từ những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau sẽ có những quan điểm
định nghĩa rủi ro khác nhau. Những định nghĩa này rất đa dạng, phong phú nhưng tựu
trung lại có thể chia rủi ro làm hai trường phái lớn: trường phái truyền thống (hay trường
phái tiêu cực) và trường phái trung hòa4.
Thứ nhất, theo trường phái truyền thống (hay trường phái tiêu cực): rủi ro được
xem là sự không may, sự nguy hiểm, sự mất mát, sự tổn thất,... Thuộc trường phái này,
ta có một số định nghĩa về rủi ro như sau:
Theo Từ điển Tiếng Việt do Viện ngôn ngữ học xuất bản năm 2006, “rủi ro là điều
không lành, không tốt bất ngờ xảy đến”5.
Theo thuật ngữ Luật học, “rủi ro là sự thiệt hại, trở ngại có thể xảy ra, trong giao
dịch dân sự, nguyên nhân của sự rủi ro phải là sự kiện bất khả kháng”6.
Theo từ điển Oxford, “rủi ro là khả năng có điều gì đó xấu xảy ra tại một thời điểm
trong tương lai, tình huống có thể dẫn đến nguy hiểm hoặc có kết quả xấu” 7.
Đoàn Thị Hồng Vân, Kim Ngọc Đạt, Hà Đức Sơn (2009), Quản trị rủi ro và khủng hoảng, Nhà xuất bản Lao
Động - Xã Hội, tr. 29.
5
Hoàng Phê (2006), Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, tr. 836.
6
Viện Khoa học pháp lý (1999), Từ Điển Luật học, Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa, tr. 422.
7
Risk, truy cập ngày 29/3/2022.
4
7
Một số tác giả khác cho rằng “rủi ro là khả năng có điều gì đó bất lợi, khơng mong
muốn xảy ra” hay “rủi ro là yếu tố liên quan đến nguy hiểm, sự khó khăn hoặc điều
khơng chắc chắn,…”8.
Trong lĩnh vực kinh doanh, “rủi ro là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi
nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến” hoặc “rủi ro là những bất trắc ngoài ý muốn xảy
ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp”9. Rủi ro gây khó khăn trở ngại cho chủ thể trong quá trình
thực hiện mục tiêu kinh doanh, tàn phá các thành quả đang có, bắt buộc họ phải chi phí
nhiều hơn về nhân lực, vật lực, thời gian trong q trình phát triển của họ.
Tóm lại, theo cách hiểu truyền thống: “Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, là những
yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, điều khơng chắc chắn có thể xảy ra cho con
người”10. Có thể hiểu rủi ro là một sự kiện khơng lành, khơng tốt bất ngờ xảy đến nằm
ngồi sự mong đợi của con người và gây ra những thiệt hại, bất lợi nhất định. Rủi ro là
một điều không may mắn, khơng lường trước một cách chính xác được về khả năng xảy
ra, về thời gian và không gian xảy ra cũng như mức độ nghiêm trọng và hậu quả của nó.
Thứ hai, theo trường phái trung hịa: rủi ro được hiểu là khả năng có sự sai lệch
giữa một bên là những gì xảy ra trên thực tế với một bên là những gì được dự kiến từ
trước (mà bình thường đáng lẽ phải diễn ra). Rủi ro khi này là sự bất trắc có thể đo lường
trước được. Rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến việc xuất hiện những biến cố không
mong đợi, là tổng hợp những yếu tố ngẫu nhiên có thể đo lường được xác suất xảy ra.
Rủi ro là giá trị và kết quả mà hiện thời chưa biết đến, là sự biến động tiềm ẩn ở những
kết quả11. Thuộc trường phái này, ta có thể thấy một số định nghĩa của rủi ro:
Theo tờ nhật báo kinh doanh The Economic Times, “rủi ro là sự không chắc chắn
trong tương lai về độ chênh lệch so với thu nhập dự kiến hoặc kết quả dự kiến” 12. Rủi
ro đo lường sự không chắc chắn mà nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận để thu được lợi nhuận
từ một khoản đầu tư.
Theo định nghĩa của Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN ISO 9000:2015 do Ban kỹ thuật
Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN/TC 176 Quản lý chất lượng và đảm bảo chất lượng biên
Đoàn Thị Hồng Vân, Kim Ngọc Đạt, Hà Đức Sơn, tlđd (1), tr. 29.
Đoàn Thị Hồng Vân, Kim Ngọc Đạt, Hà Đức Sơn, tlđd (2), tr. 30.
10
Phan Văn Mạnh, Xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu và chuyển rủi ro đối với hàng hoá trong hoạt động
mua bán hàng hoá, Luận văn thạc sĩ luật, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, tr. 15.
11
Đồn Thị Hồng Vân, Kim Ngọc Đạt, Hà Đức Sơn, tlđd (3), tr. 30.
12
“What is Risk”, truy cập ngày 30/3/2022.
8
9
8
soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đề nghị, Bộ Khoa học và Cơng nghệ
cơng bố thì rủi ro được định nghĩa là “tác động của sự không chắc chắn”13.
Như vậy, theo trường phái trung hòa, rủi ro vừa mang tính tích cực vừa mang tính
tiêu cực. Rủi ro có thể mang đến những tổn thất, mất mát cho con người nhưng bên cạnh
đó cũng có thể mang lại những lợi ích, cơ hội khi biết cách giải quyết rủi ro. Nếu tích
cực nghiên cứu rủi ro, quản trị rủi ro người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa,
hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp.
Tóm lại, theo hai quan điểm trên thì rủi ro được hiểu là sự kiện bất ngờ, xảy ra
ngoài mong đợi, gây nên những tổn thất cho con người và có thể đo lường được. Pháp
luật Việt Nam khơng quy định như thế nào là “rủi ro” trong hoạt động mua bán hàng
hố. Trong Cơng ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG 1980)
cũng khơng đưa ra bất kỳ giải thích nào về khái niệm “rủi ro” nhưng việc sử dụng cụm
từ “mất mát hay hư hỏng hàng hóa” cũng chỉ rõ xu hướng của Công ước trong việc xác
định nội hàm của khái niệm này. Rủi ro đối với hàng hoá được xác định là những mất
mát, tổn thất. Sự mất mát của hàng hố bao gồm các trường hợp hàng hóa khơng thể
được tìm thấy, đã bị đánh cắp hoặc đã được chuyển giao cho người khác 14. Sự tổn thất
của hàng hóa bao gồm hàng hóa bị phá hủy tồn bộ, sự hư hỏng, giảm sút chất lượng
hàng hóa và sự thiếu hụt số lượng của hàng hố trong q trình vận chuyển hoặc lưu
trữ15. Bên cạnh đó, thực tiễn cịn cho thấy một số trường hợp rủi ro khác ngoài sự mất
mát hay hư hỏng hàng hóa như sự chậm trễ của nhà chuyên chở sau khi người bán chuyển
hàng hóa cho người chuyên chở, hay các quy định của chính phủ cấm kinh doanh các
mặt hàng mà hai bên mua bán vẫn được xem là rủi ro đối với hàng hóa16.
Xã hội lồi người càng phát triển, hoạt động của con người ngày càng đa dạng,
phong phú và phức tạp thì rủi ro cho con người ngày càng nhiều và đa dạng hơn. Trong
các lĩnh vực khác nhau sẽ tồn tại các loại rủi ro đặc trưng khác nhau. Trong hoạt động
mua bán hàng hóa, rủi ro rất đa dạng và phức tạp. Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng
hố khơng những tác động trực tiếp đến hàng hố trong hoạt động kinh doanh của các
“Tiêu chuẩn Việt Nam TCVNISO9000:2015”, truy cập ngày 30/3/2022.
14
UNICITRAL, “Digest of Case Law on the United Nation Convention on Contracts for the International Sale of
Goods, 2016 edition”, truy cập ngày 25/5/2022.
15
UNICITRAL, tlđd (1), tr. 303.
16
Trường Đại học ngoại thương – Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (2016), 101 câu hỏi – đáp về Công ước
của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG), Nhà xuất bản thanh niên, tr. 176.
13
9
thương nhân gây ra những thiệt hại hoặc mất mát nghiêm trọng đối với tài sản, những cơ
hội mà đáng lẽ họ sẽ được hưởng với từng mức độ khác nhau, uy tín kinh doanh trên thị
trường mà cịn tác động đến tinh thần, thể chất của các thương nhân và nguồn nhân lực
của họ. Thiệt hại của rủi ro phụ thuộc vào tần suất rủi ro và biên độ rủi ro17. Tần suất rủi
ro được hiểu là số lần xuất hiện rủi ro trong một khoảng thời gian và biên độ của rủi ro
được hiểu là tính chất nguy hiểm, mức độ thiệt hại tác động tới chủ thể. Khi rủi ro xuất
hiện, dù với tần suất và biên độ ít hay nhiều cũng sẽ gắn liền với sự thiệt hại và chi phí
liên quan. Như đã đề cập, trong từng lĩnh vực thì rủi ro sẽ xuất phát từ những nguyên
nhân khác nhau phụ thuộc vào tính chất đặc thù của lĩnh vực đó. Trong hoạt động mua
bán hàng hóa, rủi ro có thể xuất hiện bởi những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan.
Những nguyên nhân khách quan gây ra rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hố có thể
kể đến như: những yếu tố bất lợi của mơi trường kinh tế như suy thối kinh tế, lạm phát,
thay đổi tỷ giá hối đối…; sự khơng ổn định chính trị, thay đổi thể chế, chính sách, luật
pháp theo hướng bất lợi; nhân tố từ môi trường văn hóa – xã hội như trở ngại từ định chế
xã hội, truyền thống, thuần phong mỹ tục, tập quán, thói quen tiêu dùng, văn hóa ứng
xử…; điều kiện tự nhiên bất lợi như thiên tai, lũ lụt, hạn hán…; tình hình biến động của
giá cả, khách hàng, nhà cung cấp18. Dù rủi ro có thể xuất phát từ nguyên nhân khách
quan nhưng ít nhiều, trong một số trường hợp rủi ro có thể xuất hiện do những nguyên
nhân chủ quan của các chủ thể trong hoạt động mua bán hàng hoá như thiếu kiến thức,
kinh nghiệm; sơ xuất, bất cẩn, thiếu trách nhiệm; sai lầm trong lựa chọn, triển khai thực
hiện chiến lược, kế hoạch; sai lầm trong ra quyết định và thực hiện quyết định. Dù nguyên
nhân gây ra rủi ro là khách quan hay chủ quan thì rủi ro luôn là sự kiện không mong đợi
xảy ra nằm ngồi dự đốn của con người, đe dọa gây ra thiệt hại về lợi nhuận và làm ảnh
hưởng đến những cơ hội mà chủ thể trong hoạt động mua bán hàng hố lẽ ra được hưởng.
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm rủi ro đối với hàng hóa
trong hoạt động mua bán hàng hóa như sau: “Rủi ro đối với hàng hóa trong hoạt động
mua bán hàng hóa là sự mất mát, tổn thất ảnh hưởng tới giá trị hàng hóa. Đây là sự kiện
khách quan, nằm ngoài sự mong đợi của các bên trong hợp đồng nhưng có thể lường
trước được”19.
Nguyễn Ngọc Dương, “Quản trị rủi ro”, />slide/TC308_Bai1_v1.0014111204.pdf, truy cập ngày 03/4/2022.
18
Nguyễn Ngọc Dương, tlđd (1), tr. 8.
19
Nguyễn Thị Tuyết Lan (2020), Quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá, Luận
văn thạc sĩ luật, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, tr. 9.
17
10
1.1.1.2 Khái niệm chuyển rủi ro
Rủi ro và trách nhiệm phải gánh chịu những hậu quả mà rủi ro gây ra là vấn đề
phức tạp mà các bên trong hoạt động mua bán hàng hóa khơng mong muốn xảy ra bởi lẽ
rủi ro gây ra những hệ quả tiêu cực mà bên gánh chịu rủi ro phải nỗ lực giải quyết để
giảm thiểu thiệt hại. Chuyển dịch rủi ro chính là một trong những cách thức để các bên
trong hoạt động mua bán hàng hóa hạn chế tổn thất. Những điều khoản thỏa thuận về
vấn đề này trong hợp đồng cần phải chặt chẽ, khơng bỏ sót những trường hợp có thể phát
sinh để tránh tranh chấp khi rủi ro xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng. Nếu các
bên không thoả thuận trong hợp đồng về điều khoản chuyển rủi ro, quy định của pháp
luật sẽ điều chỉnh các vấn đề liên quan đến chuyển rủi ro trong quan hệ này. Việc định
liệu cách thức ngăn chặn và phân chia trách nhiệm gánh chịu rủi ro được gọi là phân bổ
rủi ro. CISG 1980 và pháp luật một số quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam định
nghĩa việc phân bổ rủi ro này là “chuyển giao rủi ro” nhằm xác định sự chuyển giao trách
nhiệm giữa các bên trong quá trình tham gia hợp đồng20.
Chuyển dịch là sự thay đổi từ người này sang người khác, từ vị trí này sang vị trí
khác . Theo đó, chuyển rủi ro đối với hàng hố là sự chuyển dịch những rủi ro từ người
này sang người khác, hay sự thay đổi vị trí trách nhiệm gánh chịu rủi ro đối với hàng hóa
từ người này sang người khác. Hoạt động mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại
21
nhằm mục đích sinh lợi trong đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu
hàng hóa cho bên mua và nhận thanh tốn; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán,
nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận22. Bên bán và bên mua là chủ thể
trong hoạt động mua bán hàng hố cũng đồng thời là đối tượng của q trình chuyển
dịch rủi ro, có nguy cơ sẽ chịu rủi ro đối với hàng hố trong q trình tham gia quan hệ
hợp đồng này. Như vậy, chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hố có thể hiểu là
sự chuyển dịch rủi ro từ người này sang người khác, cụ thể q trình chuyển dịch này có
thể diễn ra từ người mua sang người bán hoặc từ người bán sang người mua trong quan
hệ hợp đồng mua bán hàng hoá. Ngồi ra, trong hoạt động mua bán hàng hố, đặc biệt
là mua bán hàng hóa quốc tế, chuyển dịch rủi ro có thể diễn ra từ người mua hoặc người
bán hàng hố cho người vận chuyển khi giữa họ có có sự ký kết các hợp đồng vận chuyển.
Phạm Duy Nghĩa (2013), Giáo trình Luật kinh tế, Nhà xuất bản Công an nhân dân, tr. 400.
Nguyễn Lân (2000), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nhà xuất bản TP.HCM, tr. 371.
22
Khoản 8 Điều 3 LTM 2005.
20
21
11
Khi xác định được rủi ro đã được chuyển dịch cho chủ thể nào trong hoạt động mua
bán hàng hoá thì chủ thể đó sẽ phải có trách nhiệm gánh chịu những hậu quả của sự mất
mát, tổn thất đối với hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hoá. Tóm lại, bản chất pháp
lý của việc chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá là xác định thời điểm chuyển
rủi ro, địa điểm chuyển rủi ro, bên nào có trách nhiệm gánh chịu những sự mất mát và
tổn thất của hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hoá.
1.1.2 Đặc điểm của rủi ro đối với hàng hoá và phân biệt rủi ro với sự kiện bất
khả kháng trong hoạt động mua bán hàng hoá
1.1.2.1 Đặc điểm của rủi ro đối với hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hố
Trong hoạt động mua bán hàng hóa, rủi ro là vô cùng đa dạng và phức tạp mà chúng
ta khơng thể nào dự đốn một cách chính xác nó sẽ xảy ra như thế nào, xảy ra tại đâu và
vào thời gian nào. Việc các chủ thể trong hoạt động mua bán hàng hố có thể hạn chế
thấp nhất những tổn thất là dự đoán một cách tương đối rủi ro, nắm được những thuộc
tính cơ bản của rủi ro để phòng ngừa, giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro. Thông qua
những khái niệm đã phân tích trên, rủi ro sẽ có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, rủi ro đối với hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hố có tính khách
quan. Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015) và Luật Thương mại năm 2005 (LTM
2005) không quy định như thế nào được xem là một sự kiện xảy ra một cách khách quan.
Tuy vậy, có thể hiểu tính khách quan của rủi ro thể hiện ở việc nó xảy ra mà khơng phụ
thuộc vào ý chí của con người. Hay nói cách khác, sự kiện đó khơng do các bên tạo ra
hoặc phát sinh do lỗi chủ quan của các bên và các bên không thể nào thay đổi được. Cụ
thể, rủi ro đối với hàng hóa có thể xảy ra từ những biến cố tự nhiên như thiên tai, bão
lụt, động đất, sóng thần; từ những biến cố xã hội như chiến tranh, biểu tình, bãi cơng hay
từ những biến cố về mặt pháp lý như sự thay đổi chính sách pháp luật của nhà nước dẫn
đến hàng hóa hiện tại theo quy định của pháp luật trở thành hàng hóa cấm lưu thơng hoặc
tàng trữ23. Các biến cố tự nhiên, xã hội, pháp lý tồn tại khách quan vì những lý do sau:
Một là, do rủi ro có thể xảy ra đối với bất kỳ bên nào trong hoạt động mua bán hàng
hoá dù là bên mua, bên bán hay bên vận chuyển. Mặt khác, rủi ro có thể xảy ra ở bất kỳ
thời điểm nào mà các chủ thể khơng thể xác định một cách chính xác.
23
Nguyễn Thị Tuyết Lan, tlđd (1), tr.18.
12
Hai là, do con người khơng thể tiếp cận tồn bộ các nguồn thơng tin, khơng có năng
lực để tiếp cận nguồn thông tin thể hiện sự tồn tại của rủi ro. Lượng dữ liệu mà con người
tạo ra mỗi ngày rất lớn và con số này vẫn không ngừng tăng lên khi cơng nghệ hiện diện
trong mọi ngóc ngách cuộc sống. Khơng có gì lạ khi con người ngày càng khó theo kịp
tốc độ của thơng tin, tiếp cận tồn bộ thơng tin và cũng càng khó để xác định thông tin
đúng hay sai. Mặt khác, khả năng tiếp cận thông tin của mỗi người là khác nhau phụ
thuộc vào điều kiện, phương tiện của họ. Con người không có năng lực để tiếp cận nguồn
thơng tin thể hiện sự tồn tại của rủi ro vì tri thức con người là có hạn, con người khơng
thể có “siêu năng lực” như trên phim ảnh để nhận thấy các khả năng có thể xảy ra. Con
người khơng thể nhìn thấy tương lai để nhận thấy những biến cố sẽ xảy ra, khơng có khả
năng nghe nhìn trên phạm vi rộng nên khơng thể nhận biết ở khu vực đó đang xảy ra sự
kiện gì. Do đó con người khơng thể ngăn cản những biến cố mà mình khơng thể tiếp cận.
Ba là, con người không đủ khả năng để kiểm sốt, đo lường và hạn chế một cách
chính xác, tuyệt đối những nguyên nhân của các biến cố. Vạn vật trong cuộc sống đều
chuyển động không ngừng, mỗi sự vật hay hiện tượng khác nhau lại có một phương thức
chuyển động khác nhau. Do vậy, khơng một người nào có thể dự đốn đầy đủ và chính
xác sự kiện đó sẽ xảy ra như thế nào, mức độ và phạm vi ảnh hưởng ra sao; cũng khơng
một ai có kiến thức và kinh nghiệm giải quyết mọi tình huống xảy ra.
Thứ hai, rủi ro đối với hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hố có tính khơng
mong đợi. Rủi ro là sự kiện xảy ra một cách bất ngờ, nằm ngồi sự mong đợi của các
bên và khơng bên nào mong muốn rủi ro xảy ra với mình. Vì sự kiện xảy ra nằm ngồi
dự đốn, những quy định mà các bên giao kết trong hợp đồng nên các bên khơng có sự
chuẩn bị để ứng phó, thích nghi nên khi rủi ro xảy ra sẽ dẫn đến một kết quả không được
các bên mong muốn. Kết quả được mong đợi của các bên giao kết hợp đồng mua bán
hàng hố là khi mục đích của họ như lợi nhuận, quyền và lợi ích liên quan đến hợp đồng
được diễn ra một cách trơi chảy, đạt đúng dự tính của các bên. Rủi ro là những nguyên
nhân hạn chế kết quả mong muốn, đồng thời gây cản trở quá trình thực hiện nhiệm vụ,
mục tiêu mà các bên trong hợp đồng đề ra.
Thứ ba, rủi ro đối với hàng hố trong hoạt động mua bán hàng hố có tính thiệt hại.
Xuất phát từ tính khơng mong đợi, các bên khơng có sự chuẩn bị nguồn nhân lực, nguồn
vật lực hay tài sản để ứng phó với các sự kiện xảy ra nằm ngồi dự tính nên dẫn đến
những thiệt hại không mong muốn. Thiệt hại mà rủi ro gây ra trong hoạt động mua bán
hàng hố khơng chỉ tác động đến hàng hố mà cịn tác động đến các bên trong quan hệ
13
mua bán, hoạt động kinh doanh. Thiệt hại đối với hàng hoá trong hoạt động mua bán
hàng hoá mà rủi ro mang lại luôn là thiệt hại vật chất như sự hư hỏng, mất mát, khơng
cịn đáp ứng chất lượng và tính năng sử dụng đối với hàng hố. Đối với các bên trong
quan hệ mua bán, rủi ro xảy đến ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của họ khi giao kết hợp
đồng, mất đi những cơ hội mà lẽ ra họ được hưởng, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh
thần thậm chí là tính mạng của các bên. Đối với hoạt động kinh doanh, rủi ro làm ảnh
hưởng đến khả năng tái sản xuất của quy trình sản xuất, khả năng xoay chuyển nguồn
vốn, chi trả kinh phí cho các nguồn nhân lực và vật lực.
Thứ tư, rủi ro đối với hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hố có tính bất định.
Tính bất định là sự không ổn định, ngẫu nhiên, không chắc chắn, không thể nhận biết về
các sự kiện tiếp diễn trong tương lai. Tính bất định của rủi ro thể hiện ở việc các bên
trong hoạt động mua bán hàng hố có thể lường trước được rủi ro nhưng không thể đánh
giá một cách chính xác về mức độ của rủi ro và khi nào rủi ro xảy ra24. Rủi ro đối với
hàng hố chỉ có thể lường trước được chứ khơng thể xác định chính xác loại sự cố, diễn
ra vào thời gian và địa điểm nào, mức độ thiệt hại ra sao. Sự lường trước rủi ro có thể
hiểu đơn giản là sự dự trù đối với hàng hóa như vậy thì chặng đường vận chuyển, nhu
cầu của đối tác, chính sách pháp luật của quốc gia nơi đối tác hoạt động, điều kiện tự
nhiên có thích hợp để đưa hàng hố đến nơi nhận hàng an tồn và với những yếu tố như
vậy thì có thể xảy ra những loại rủi ro gì, có thể xảy ra trong hồn cảnh nào để chủ động
trong việc ứng phó rủi ro25. Tuy nhiên, sự lường trước đó cũng chỉ mang tính ước lượng,
dự đốn chứ khơng chính xác, rõ ràng đối với những biến cố có thể xảy đến.
Thứ năm, rủi ro đối với hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hố có tính khả
năng. Các rủi ro nói chung ln có cơ hội xảy ra, nhưng khơng thể khẳng định rằng rủi
ro đó 100% sẽ xảy ra hay 0% sẽ không bao giờ xảy ra 26. Cho rằng rủi ro đối với hàng
hóa trong hoạt động mua bán hàng hóa có tính khả năng vì nó là nguy cơ tiềm ẩn khơng
mang tính chắc chắn27. Khẳng định như thế vì rủi ro mang tính xác suất, nghi ngờ, khơng
cố định nên rủi ro mà chúng ta dự đốn có khả năng xảy ra hoặc không xảy ra trên thực
tế. Việc rủi ro có thể phát sinh hay khơng phụ thuộc vào các yếu tố liên quan tác động
đến nó trong những điều kiện nhất định. Khi có đầy đủ điều kiện, khả năng sẽ trở thành
Nguyễn Thị Tuyết Lan, tlđd (2), tr.19.
Nguyễn Thị Tuyết Lan, tlđd (3), tr.20.
26
Nguyễn Quang Cúc Hoà (2019), “Một số vấn đề về quản trị rủi ro trong doanh nghiệp”, Tạp chí Tài chính, kỳ 2
tháng 5/2019, tr. 109.
27
Đinh Ngọc Tuấn (2004), Rủi ro và các giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật, Trường Đại học Ngoại thương, tr. 21.
24
25
14
hiện thực và ngược lại khi khơng có hoặc chưa đủ điều kiện thì khả năng chưa được
chuyển hố thành hiện thực. Theo quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng, khả năng và
hiện thực có mối quan hệ biện chứng vì khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ
chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau, ln chuyển hóa lẫn nhau 28. Do đó, muốn hạn
chế được rủi ro trên thực tế phải nhận biết được xác suất, khả năng xảy ra của nó.
1.1.2.2 Phân biệt rủi ro với sự kiện bất khả kháng
Từ những đặc điểm và tính chất của rủi ro nêu trên, xét thấy cần phân biệt khái
niệm “rủi ro” và “sự kiện bất khả kháng”. Bởi lẽ, “rủi ro” và “sự kiện bất khả kháng”
đều là những sự kiện mang tính khách quan, nằm ngoài sự mong đợi của các bên trong
quá trình thực hiện hoạt động mua bán hàng hố do đó dễ dẫn đến việc nhầm lẫn giữa
hai khái niệm này. Một sự kiện được coi là khách quan khi sự kiện đó khơng do các bên
tạo ra hoặc phát sinh do lỗi chủ quan của các bên. Tuy cùng là sự kiện khách quan nhưng
cần nhấn mạnh rằng “rủi ro” và “sự kiện bất khả kháng” lại có bản chất riêng biệt dẫn
đến hệ quả pháp lý của hai sự kiện này cũng không giống nhau. Việc nhận biết nguyên
nhân dẫn đến những thiệt hại về hàng hoá trong quan hệ mua bán hàng hoá do “rủi ro”
hay “sự kiện bất khả kháng” giúp các bên xác định được trách nhiệm và nghĩa vụ liên
quan của bản thân đối với sự mất mát hoặc tổn thất của hàng hoá trong quan hệ mua bán
hàng hố đó khi xảy ra các vấn đề tranh chấp trong hợp đồng.
Theo quy định của BLDS 2015, “sự kiện bất khả kháng” là sự kiện xảy ra một cách
khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng
mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép29. Tóm lại, một sự kiện được coi là bất
khả kháng khi đáp ứng đủ các điều kiện: (i) xảy ra khách quan, (ii) không thể lường trước
được, (iii) không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả
năng cho phép. Sự kiện bất khả kháng giải phóng một hay các bên trong hợp đồng mua
bán hàng hoá ra khỏi các trách nhiệm pháp lý, nghĩa vụ khi có những tình huống bất
thường vượt ngồi tầm kiểm sốt của các bên xảy ra và sự việc đó ngăn cản một hay các
bên hồn thành nghĩa vụ của mình trong hợp đồng. Tuy nhiên, sự kiện bất khả kháng
không miễn trách cho các bên trong trường hợp thiệt hại phát sinh do cho lỗi của các bên
xuất phát từ các sơ suất hay hành vi phi pháp hoặc khi các hoàn cảnh can thiệp vào việc
thực hiện hợp đồng đã được dự tính một cách rõ ràng. Tóm lại, “sự kiện bất khả kháng”
“Khả năng và hiện thực (Chủ nghĩa Marx-Lenin)”,
- :~:text=của con người.-,Mối
quan hệ biện chứng,khả năng thành hiện thực., truy cập ngày 10/4/2022.
29
Khoản 1 Điều 156 BLDS 2015.
28
15
là sự kiện khách quan xảy ra sau khi ký hợp đồng, không do lỗi của các bên trong hợp
đồng và là sự kiện mà các bên trong hợp đồng khơng thể dự đốn và khống chế được30.
Trong khi đó, “rủi ro” là sự kiện khách quan, nằm ngoài sự mong đợi của các bên
trong hợp đồng, gây nên những tổn thất cho con người nhưng có thể lường trước được.
Theo đó, chủ thể nào trong hoạt động mua bán hàng hố đã được chuyển rủi ro thì chủ
thể đó sẽ phải có trách nhiệm gánh chịu những hậu quả của sự mất mát, tổn thất đối với
hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hoá. Nội dung này đã được phân tích cụ thể tại
phần nội dung 1.1 khái quát chung về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hố.
Như vậy, có sự khác biệt rõ ràng giữa khái niệm và bản chất pháp lý giữa “rủi ro”
và “sự kiện bất khả kháng” theo quy định của pháp luật. Theo đó, “sự kiện bất khả kháng”
là sự kiện khách quan không thể lường trước được, không thể khắc phục được, hệ quả
pháp lý của sự kiện bất khả kháng là một hoặc các bên được miễn trách nhiệm một phần
hoặc toàn bộ nghĩa vụ liên quan đến hợp đồng. Trong khi đó, “rủi ro” là sự kiện khách
quan xảy ra ngồi sự kiểm sốt của con người, có thể lường trước được, đồng thời hệ
quả pháp lý của rủi ro là bên gánh chịu rủi ro phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại,
tổn thất đối với hàng hoá trong hoạt động mua bán hàng hoá.
1.1.3 Các loại rủi ro thường gặp và phân loại rủi ro trong hoạt động mua bán
hàng hoá
1.1.3.1 Phân loại rủi ro
Rủi ro tồn tại xung quanh môi trường sống của chúng ta, xuất hiện ở mọi lĩnh vực,
mọi nơi và có thể xảy đến với bất kỳ ai. Để phân loại rủi ro, người ta thường dựa trên rất
nhiều tiêu chí, sau đây là các căn cứ phân loại rủi ro phổ biến: căn cứ vào nguồn gốc rủi
ro, căn cứ vào phạm vi ảnh hưởng của rủi ro và căn cứ vào tính chất rủi ro.
Thứ nhất, phân loại rủi ro căn cứ vào nguồn gốc của rủi ro.
Dựa trên nguồn gốc phát sinh của rủi ro, rủi ro được chia thành hai nhóm cơ bản là
rủi ro phát sinh do sự thay đổi môi trường kinh doanh và rủi ro phát sinh từ quá trình
thực hiện nghiệp vụ mua bán hàng hố31. Hay nói cách khác, rủi ro có thể xuất hiện vì
yếu tố khách quan hoặc yếu tố chủ quan. Theo đó:
Nguyễn Thị Tuyết Lan, tlđd (4), tr. 22.
Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2018), Pháp luật về thời điểm chuyển rủi ro đối với hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật - Đại học Huế, tr. 8.
30
31
16
Rủi ro do các yếu tố khách quan là rủi ro nằm ngồi ý muốn của con người và
khơng thể kiểm sốt được. Những yếu tố khách quan có thể xuất phát từ môi trường thiên
nhiên do các hiện tượng tự nhiên; các yếu tố liên quan đến kinh tế, xã hội, chính trị.
Ngồi ra, rủi ro có thể xuất hiện từ chính bản chất của hàng hố trong hoạt động mua
bán hàng hoá (bột bị lên men, ngũ cốc bị mốc mọt, sắt thép bị rỉ sét). Ví dụ rủi ro do yếu
tố khách quan: cơn bão ở Đại Tây Dương gây gián đoạn cho các chuỗi cung ứng khi xảy
ra tình trạng tắc nghẽn tại các cảng xuất, nhập khẩu hay trung chuyển hàng kéo dài.
Rủi ro do các yếu tố chủ quan là rủi ro do hành vi của con người gây ra như hành
vi bất cẩn, thiếu kinh nghiệm, thiếu kỹ năng trong q trình đóng gói, vận chuyển, bảo
quản hàng hóa khơng đảm. Ngồi ra, loại rủi ro này cũng có thể xuất phát từ chính sách
quản lý, chiến lược kinh doanh khơng đảm bảo an tồn của con người. Ví dụ rủi ro do
các yếu tố chủ quan: một người khơng có những kiến thức về vận chuyển bình gas sẽ
khơng biết những ngun tắc cơ bản khi vận chuyển bình gas bằng xe hai bánh như bình
gas phải ln ở vị trí thẳng đứng, van hướng lên trên, số lượng chuyên chở không được
vượt q hai bình, từ đó dễ xảy ra những tình huống nguy hiểm khi vận chuyển sai cách.
Thứ hai, phân loại rủi ro căn cứ vào phạm vi ảnh hưởng.
Dựa vào phạm vi ảnh hưởng của rủi ro, có thể chia rủi ro thành hai nhóm cơ bản là
rủi ro cơ bản và rủi ro riêng biệt. Theo đó32:
Rủi ro cơ bản là những rủi ro phát sinh ngoài sự kiểm soát của tất cả mọi người.
Hậu quả của rủi ro cơ bản thường rất nghiêm trọng, nó tác động trên một phạm vi rộng
lớn hay tác tác động đến tất cả dân số, có ảnh hưởng đến cộng đồng và tồn xã hội. Ví
dụ: chiến tranh, dịch bệnh toàn cầu, khủng hoảng kinh tế,…
Rủi ro riêng biệt là là những rủi ro phát sinh từ một số hiện tượng cá biệt và ảnh
hưởng đến lợi ích của một hoặc một nhóm cá nhân, tổ chức nhất định. Hậu quả của rủi
ro cơ bản đối với các chủ thể bị tác động trực tiếp rất nghiêm trọng nhưng không ảnh
hưởng nhiều đến nền kinh tế xã hội. Ví dụ: đắm tàu, cháy kho, rủi ro thanh toán,…
Thứ ba, phân loại rủi ro căn cứ vào tính chất của rủi ro.
Dựa vào phạm vi ảnh hưởng của rủi ro, có thể chia rủi ro thành hai nhóm cơ bản là
rủi ro thuần túy và rủi ro suy đoán. Như đã đề cập, rủi ro là sự kiện xảy ra ngoài mong
32
Nguyễn Thị Tuyết Lan, tlđd (5), tr.25.
17
đợi của con người và mang lại những thiệt hại, mất mát cho hàng hoá, tuy nhiên rủi ro
cũng mang lại cho chúng ta những lợi ích, cơ hội. Theo đó:
Rủi ro thuần tuý là loại rủi ro chỉ mang lại những hậu quả khơng có lợi hoặc những
tổn thất, mất mát đối với hàng hoá. Tức là, khi xảy ra các rủi ro này thì chắc chắn có
thiệt hại mà khơng thể xoay chuyển tình thế. Rủi ro thuần tuý có thể xuất phát từ rủi ro
cá nhân, rủi ro tài sản, rủi ro pháp lý hay rủi ro phát sinh do sự phá sản của người khác33.
Rủi ro suy đốn là những rủi ro có thể vừa có thể mang lại những tổn thất, mất mát
nhưng cũng có thể mang lại lợi ích. Rủi ro suy đốn có thể xuất phát từ rủi ro do sự thay
đổi thị hiếu của khách hàng, rủi ro do lạm phát, rủi ro do điều kiện không ổn định của
thuế, rủi ro do thiếu thơng tin, rủi ro do tình hình chính trị bất ổn34. Đây là loại rủi ro mà
các bên trong hoạt động mua bán hàng hố có thể đưa ra những giải pháp ứng biến linh
hoạt phù hợp với hoàn cảnh để “biến bại thành thắng”.
1.1.3.2 Các loại rủi ro thường gặp
“Take the risk or lose the chance” – chấp nhận rủi ro hay đánh mất cơ hội là một
câu “thần chú” mà các doanh nhân thường áp dụng. Trong hoạt động mua bán hàng hóa,
rủi ro là một sự kiện không mong đợi với xác suất xuất hiện rất lớn. Bởi lẽ, trong giới
kinh doanh có câu “no risk no profit” nghĩa là khơng có rủi ro thì khơng có lợi nhuận.
Hoạt động mua bán hàng hố là hoạt động thương mại với mục đích chính là sinh lợi.
Điều này đồng nghĩa với việc thương nhân phải chấp nhận rủi ro trong quá trình thực
hiện hợp đồng nếu muốn có lợi nhuận. Khi tham gia vào hoạt động mua bán hàng hóa,
các thương nhân thường gặp rất nhiều rủi ro. Mỗi loại rủi ro sẽ có sự ảnh hưởng với mức
độ khác nhau do đó tương ứng với mỗi loại rủi ro, cần phải có những biện pháp phòng
ngừa và khắc phục phù hợp. Trong hoạt động mua bán hàng hố sẽ có những loại rủi ro
thường xun xảy ra mà các bên cần nghiên cứu để phòng ngừa, hạn chế tối đa khả năng
xảy ra của nó. Một số rủi ro thường gặp trong hoạt động mua bán hàng hoá như sau:
Thứ nhất rủi ro về mặt chính trị: Chính phủ ở mỗi quốc gia sẽ có những mơ hình
tổ chức khác nhau, đồng thời mỗi Chính phủ khi cầm quyền sẽ có những chính sách,
cách quản lý khác theo quan điểm của họ. Chính vì vậy, nếu các bên không cập nhật và
nghiên cứu về thể chế chính trị quốc gia của đối tác trong quan hệ mua bán hàng hố của
mình sẽ dẫn đến những thiệt hại do không hiểu biết, không nắm vững các quy định quan
Nguyễn Hải Quang, “Quản trị rủi ro”, truy cập ngày 15/4/2022.
34
Nguyễn Hải Quang, tlđd (1), tr. 12.
33
18
trọng. Ở những nước có chế độ chính trị ổn định thì mức độ rủi ro chính trị thấp, ngược
lại ở những nước thường xảy ra bạo loạn, đảo chính hay chính sách thường xun thay
đổi thì rủi ro chính trị sẽ ở mức cao35. Rủi ro chính trị có thể là chiến tranh, xung đột
giữa các quốc gia hoặc rủi ro liên quan đến các chính sách pháp luật của mỗi quốc gia
như điều kiện gia hạn, hủy bỏ giấy phép xuất, nhập khẩu…36 Ví dụ: sự kiện Liên minh
Châu Âu (EU) đề xuất lệnh cấm nhập khẩu dầu từ Nga như một phần của vòng trừng
phạt sau cuộc chiến ở Ukraine. Các thương nhân Châu Âu sẽ bị tác động trực tiếp đến
lợi nhuận trong hoạt động mua bán hàng hố vì giá xăng dầu tăng đột biến37.
Thứ hai, rủi ro về mặt hàng hoá: hoạt động mua bán hàng hố có đặc thù là phải
vận chuyển hàng hoá từ người bán sang người mua với khoảng cách nhất định. Trên
quãng đường vận chuyển, hàng hoá dễ gặp những rủi ro ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị
hàng hoá do các yếu tố khách quan như thiên nhiên hoặc do q trình đóng gói, bốc hàng,
vận chuyển hàng. Ngồi ra, có những thiệt hại do hàng hố tự tạo ra mà khơng cần có
ngun nhân bên ngồi nào tác động. Thiệt hại hàng hóa do một trong các bên vi phạm
hợp đồng như giao hàng không phù hợp với hợp đồng, không giao hàng, giao hàng thiếu,
giao hàng chậm, người mua từ chối nhận hàng đều không được coi là rủi ro đối với hàng
hóa. Sau đây là ví dụ cho trường hợp hàng hố bị thiệt hại do nội tì của hàng hố38:
Bên mua (người Ai Cập) và bên bán (người Nga) ký hợp đồng mua bán 1000 MT
ammonium sulphate. Khi hàng được dỡ lên cảng chặng hai để chuyển đi thì rất nhiều
bao hàng bị bục, rách trong điều kiện hết sức rồi tệ nên thuyền trưởng từ chối chuyển
hàng. Tuy nhiên, thuyền trưởng được trao thư bảo đảm miễn mọi trách nhiệm và xếp
hàng lên tàu. Khi bên mua nhận được hàng hóa, hàng hố đã trong tình trạng thiếu hụt
và bao bì khơng đảm bảo làm hàng hóa bị đổ vãi. Bên bán và người bảo hiểm đùn đẩy
trách nhiệm cho nhau nên bên mua đã kiện ra trọng tài. Giám định viên kết luận do tác
động ăn mòn của ammonium sulphate nên bao bì bị rách. Như vậy, bao bì bị hư hại do
tính chất ăn mịn của hàng hóa, nghĩa là tổn thất tự xảy ra do nội tì của hàng hóa. Do
vậy, người bảo hiểm từ chối bảo hiểm và hội đồng trọng tài kết luận bên bán đã thực
hiện đầy đủ nghĩa vụ theo điều kiện CIF quy định trong hợp đồng. Theo đó, bên bán chỉ
Nguyễn Thị Tuyết Lan, tlđd (6), tr.28.
“Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế”, truy cậo ngày 17/4/2022.
37
“EU cấm dầu mỏ Nga tác động thế nào tới giá xăng dầu”, truy cập ngày 17/4/2022.
38
Trần Hữu Huỳnh (2007), Các quyết định trọng tài quốc tế chọn lọc, Nhà xuất bản Tư pháp, Quyết định số 32,
tr. 75.
35
36
19