TRƢỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA SƢ PHẠM
***********
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: CHUYỂN BIẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN
CỦA NGƢỜI CHƠ RO Ở ĐỒNG NAI (1986 – 2016)
Sinh viên thực hiện
: Nguyễn Thị Mỹ Duyên
Lớp
Khoá
Ngành
Giảng viên hƣớng dẫn
: D17LS1
: 2017 – 2021
: Sƣ phạm lịch sử
: Nguyễn Văn Tiến
Bình Dƣơng, tháng 11/2020
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bài báo cáo này là cơng trình nghiên cứu của bản thân,
dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Văn Tiến. Các nội dung trong báo cáo là
trung thực, khách quan dựa trên kết quả nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, so sánh
và đánh giá từ thực tiễn. Những tài liệu tham khảo đảm bảo đã được cơng bố,
chính thống và được bản thân trích dẫn đúng theo quy cách của hướng dẫn trình
bày báo cáo tốt nghiệp theo quy định của nhà trường.
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình.
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS. Nguyễn Văn Tiến người đã tận
tình giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện báo cáo tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Sư phạm, đặc biệt là các thầy
cô bộ môn đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong thời gian học tập tại trường
Đại học Thủ Dầu Một. Đồng thời em cũng cảm ơn thầy cô làm việc tại Thư viện
trường Đại học Thủ Dầu Một và thầy cô làm việc tại Thư viện tỉnh Bình Dương
đã hướng dẫn em tìm kiếm nguồn tài liệu tham khảo.
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn đến những người thân, bạn bè…đã luôn động
viên và hỗ trợ tôi trong việc thực hiện báo cáo này
Mặc dù đã cố gắng nhưng chắc chắn bài báo cáo khơng tránh khỏi những
thiếu sót, rất mong được nhận những ý kiến đóng góp bổ sung của q thầy cơ
Bình Dương, ngày 17 tháng 11 năm 2020
Nguyễn Thị Mỹ Duyên
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU......................................................................................................1
1.Lý do chọn đề tài .......................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài ......................................................................................... 1
3. Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................................3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................3
Đối tượng: chuyển biến đời sống văn hóa tinh thần của người Chơ Ro ......................... 3
Phạm vi nghiên cứu .........................................................................................................3
Không gian: ở Đồng Nai .................................................................................................3
Thời gian: từ năm 1986 đến 2016 ...................................................................................3
5. Phương pháp nghiên cứu ..........................................................................................3
6. Đóng góp của đề tài ..................................................................................................4
7. Bố cục .......................................................................................................................4
B. NỘI DUNG ................................................................................................................6
Chƣơng 1: Khái quát về dân tộc Chơ Ro ....................................................................6
1.1.
Dân số và phân bố dân cư ..................................................................................6
1.2.
Tộc danh và lịch sử tộc người ............................................................................7
1.2.1.
Tộc danh ......................................................................................................7
1.2.2.
Lịch sử tộc người ........................................................................................ 7
1.3.
Kinh tế truyền thống ........................................ Error! Bookmark not defined.
1.4.
Hình thái xã hội ................................................ Error! Bookmark not defined.
1.5.
Tổ chức gia đình .............................................. Error! Bookmark not defined.
Chƣơng 2: Chuyển biến về tín ngƣỡng tơn giáo của ngƣời Chơ Ro ở Đồng Nai .11
2.1. Vũ trụ quan tôn giáo ............................................ Error! Bookmark not defined.
2.1.1. Tự nhiên quan ................................................ Error! Bookmark not defined.
2.2.2.Nhân sinh quan ............................................... Error! Bookmark not defined.
2.2.3. Tôn giáo .........................................................................................................12
2.2. Các nghi lễ nông nghiệp ...................................................................................... 12
2.2.1. Lễ hội cúng thần lúa ...................................................................................... 12
2.2.2. Lễ hội cúng thần rừng ...................................................................................13
Chƣơng 3: Chuyển biến về văn học nghệ thuật của ngƣời Chơ Ro ở Đồng Nai ..17
3.1. Ngôn ngữ .............................................................................................................17
3.2. Loại hình chuyện kể ............................................................................................ 17
3.3. Nghệ thuật dân ca, múa, nhạc khí cụ ...................................................................18
3.3.1 Loại hình dân ca ............................................................................................. 19
3.3.2.Nghệ thuật múa .............................................................................................. 19
3.3.3.Loại hình nhạc khí cụ .....................................................................................20
3.5. Nghệ thuật tạo hình, trang trí ...............................................................................20
3.5.1. Trên kiên trúc nhà ở ...................................................................................... 20
3.5.2 Trên thổ cẩm, vật dụng ...................................................................................20
KẾT LUẬN ..................................................................................................................22
PHỤ LỤC HÌNH ẢNH ................................................................................................ 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................... 30
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang trên con đường hội nhập, đời sống người dân đang được thay
đổi từng ngày, nhưng có những điều khơng thể nào thay đổi được, đó chính là
những giá trị văn hóa quý giá của dân tộc. Do đó sự nghiệp xây dựng và phát
triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới phải hướng vào việc củng cố và tăng
cường sự thống nhất, nhân lên sức mạnh tinh thần chung của toàn dân tộc. Đồng
thời phải khai thác và phát triển mọi sắc thái và giá trị văn hóa của các dân tộc,
đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần ngày càng cao và nhu cầu phát triển từng dân
tộc.
Cùng với nền văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, mỗi dân tộc đều có
những giá trị văn hóa mang bản sắc riêng từ lâu đời, phản ánh truyền thống, lịch
sử và niềm tự hào dân tộc. Bản sắc văn hóa dân tộc là tất cả những giá trị vật
chất và tinh thần, bao gồm tiếng nói, chữ viết, văn học, nghệ thuật, kiến trúc,
trang phục, tâm lý, tình cảm, phong tục, tập qn, tín ngưỡng... được phát triển
lâu dài của lịch sử.
Trong các giá trị văn hóa của các dân tộc thì khơng thể khơng nhắc đến văn hóa
của người Chơ Ro. Ở Đồng Nai, người Chơ Ro là một trong những dân tộc thiểu
số bản địa có dân số đơng. Những nghiên cứu về những biến đổi về văn hóa của
người Chơ Ro trong giai đoạn hiện nay là cần thiết để tìm ra giải pháp bảo tồn
và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc do Đảng và Nhà nước đề ra. Những giá
trị nào cần gìn giữ và phát huy, những hủ tục nào cần loại bỏ. Trong bài viết này
tôi tập trung nghiên cứu tìm hiểu về những biến đổi văn hóa tinh thần của người
Chơ Ro từ năm 1986 đến năm 2016
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
1. Quyển sách “Đặc trưng văn hóa truyền thống 54 dân tộc Việt Nam” của
GS.TS Hoàng Nam, NXB Khoa học Xã hội, 2013 đã giới thiệu một cách tóm tắt
những nét văn hóa đặc trưng của dân tộc, từ tên gọi, nơi cư trú đến kinh tế, văn
hóa vật thể, phi vật thể và văn hóa xã hội
2. Quyển sách “Việt Nam sắc màu văn hóa 54 dân tộc anh em” của Trần
Quang Phúc (biên soạn), NXB Đồng Nai, 2013 nhằm cung cấp cái nhìn tổng
qt những giá trị văn hóa của 54 dân tộc Việt Nam. Đây là tập sách được biên
1
soạn trên cơ sở tập hợp, chọn lọc từ các nguồn tư liệu khác nhau đã được công
bố trên các phương tiện thơng tin đại chúng.
3. Cơng trình sách “Các tộc người ở Việt Nam” của Bùi Xuân Dính, NXB
Thời đại, 2012. Đây là cơng trình Dân tộc học đầu tiên dựng lên bức tranh toàn
cảnh về các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, cơng trình nghiên cứu này phản ánh
một cách toàn diện về các tộc người ở nước ta. Cơng trình đã bước đầu chỉ ra
mối quan hệ tộc người trong lịch sử, được đặt trong bối cảnh của khu vực lịch sử
Dân tộc học ở vùng Đông Nam Á. Những cư liệu về nguồn gốc, di cư, dấu tích
lịch sử trong văn hóa cung cấp cho người đọc những hiểu biết cơ bản. Nghiên
cứu đã góp phần xác định một số đặc trưng cơ bản về văn hóa các tộc người.
Những miêu thuật Dân tộc học của cơng trình về văn hóa vật chất, văn hóa xã
hội, văn hóa tinh thần của mỗi tộc người đã góp phần phản ánh và lưu giữ những
yếu tố cơ bản của tộc người đó. Trong cơng trình nghiên cứu này, tập trung về
phần văn hóa, vì vậy nghiên cứu đã xây dựng cơ sở quan trọng để so sánh về
văn hóa ở mỗi tộc người và giữa các tộc người. Cơng trình này đã phản ánh sự
biến đổi và phát triển của các tộc người trong thời kỳ đương đại. Ở mỗi tộc
người trong cơng trình ngồi việc trình bày các vấn đề trong xã hội, các tác giả
còn nêu lên sự biến đổi đang diễn ra, dưới tác động củ điều kiện mới và chính
sách dân tộc của Đảng và Nhà nước
Cuốn sách này là đóng góp chung của nhiều tác giả, đi vào các vấn đề cơ bản về
các dân tộc ở tỉnh phía Nam. Thể hiện những vấn đề cơ bản của dân tộc học,
cuốn sách này trình bày những điều kiện về tự nhiên, cư dân, ngôn ngữ, lịch sử
tộc người và thành phần dân tộc , kinh tế, xã hội, văn hóa, trình bày về từng dân
tộc, quá trình các dân tộc tham gia chống chủ nghĩa xã hội nhằm phục vụ những
yêu cầu thực tiễn của đất nước, nhất là các vùng dân tộc thiểu số. Cuốn sách này
chỉ tập trung nói về các dân tộc ít người vốn sinh sống lâu đời tại những tỉnh
phía Nam, được quan niệm là những cộng đồng người bản địa ở khu vực này.
4. Quyển sách “Văn hóa người Chơ Ro” của Huỳnh Văn Tới – Lâm Nhân –
Phan Đình Dũng, NXB Văn hóa Thơng tin, 2013. Quyển sách này nghiên cứu về
văn hóa – văn nghệ dân gian của dân tộc Chơ Ro, góp phần bảo tồn và phát huy
những giá trị văn hóa – văn nghệ mang đậm bản sắc dân tộc
5. Quyển sách “Tìm hiểu một số phong tục, tập qn, tín ngưỡng, tôn giáo các
dân tộc vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long” của Thạc Sĩ Đặng
Văn Hường, NXB Quân đội Nhân dân, 2013 cung cấp cho người đọc hiểu sâu
2
hơn về một vùng đất giàu đẹp – một địa bàn chiến lược quan trọng về kinh tế xã hội, quốc phòng – an ninh của đất nước; đặc biệt là phong tục tập qn, tín
ngưỡng, tơn giáo của các dân tộc vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu
Long. Trong đó có nói đến dân tộc Chơ Ro về dân số, địa bàn cư trú và chuyển
biến về kinh tế văn hóa
3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu về sự chuyển biến văn hóa tinh thần của người Chơ Ro ở
Đồng Nai
- Chuyển biến về tín ngưỡng, tôn giáo của người Chơ Ro ở Đồng Nai (1986 –
2016)
- Chuyển biến về ngơn ngữ và các loại hình văn học nghệ thuật của người Chơ
Ro ở Đồng Nai (1986 – 2016)
Qua đó thấy được văn hóa truyền thống của người Chơ Ro mang bản sắc riêng
từ lâu đời. Cho đến ngày nay trong quá trình giao lưu và hội nhập đã có những
biến đổi
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: chuyển biến đời sống văn hóa tinh thần của người Chơ
Ro
- Phạm vi nghiên cứu
+ Không gian: ở Đồng Nai
+ Thời gian: sự chuyển biến văn hóa trong giai đoạn từ năm 1986 đến 2016
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong bài viết này tôi sử dụng những phương pháp chính sau đây:
Phương pháp định lượng gồm 30 phiếu khảo sát cho 30 hộ gia đình. Có ý nghĩa
thống kê cho chính quyền, địa phương biết về dân số, bao nhiêu người già người
trẻ
Phương pháp nghiên cứu định tính: điền dã, phỏng vấn sâu, quan sát tham dự.
Cuộc phỏng vấn sâu với 10 người
3
6. Đóng góp của đề tài
Để hiểu rõ hơn về những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Chơ Ro,
Nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của người Chơ Ro đang dần dần biến
mất, khơng cịn mang tính đặc trưng của tộc người.
Nghiên cứu về những biến đổi về văn hóa của người Chơ Ro ở Đồng Nai trong
giai đoạn hiện nay là việc làm cấp thiết, để tìm ra giải pháp bảo tồn và phát huy
giá trị văn hóa của dân tộc.
7. Bố cục
Chương 1: Khái quát về dân tộc Chơ Ro
1.1. Dân số và phân bố dân cư
1.2. Tộc danh và lịch sử tộc người
1.3. Đời sống kinh tế
1.4. Đời sống văn hóa
1.5. Đời sống xã hội
Chương 2: Chuyển biến về tín ngưỡng, tơn giáo của người Chơ Ro ở Đồng Nai
(1986 – 2016)
2.1. Tín ngưỡng
2.2. Tơn giáo
2.3. Nghi lễ, lễ hội
2.3.1. Lễ hội cúng thần lúa
2.3.1. Lễ hội cúng thần rừng
2.4. Phong tục tập quán
2.4.1. Trang phục
2.4.2. Hôn nhân
2.4.3. Tang ma
4
Chương 3: Chuyển biến về ngôn ngữ và các loại hình văn học nghệ thuật của
người Chơ Ro ở Đồng Nai (1986 – 2016)
3.1. Ngơn ngữ, chữ viết
3.2. Loại hình kể chuyện
3.3. Nghệ thuật, dân ca, múa, nhạc khí cụ
3.3.1. Loại hình dân ca
3.3.2. Nghệ thuật múa
3.3.3. Loại hình nhạc khí cụ
3.4. Nghệ thuật tạo hình, trang trí
3.4.1. Trên kiến trúc nhà ở
3.4.2. Trên thổ cẩm, vật dụng
5
B. NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC CHƠ RO
1.1.
Dân số và phân bố dân cƣ
Theo số liệu thống kê năm 2019 đồng bào Chơ Ro có trên 47 nghìn người; cư
trú ở vùng Tây Nam và Đơng Nam tỉnh Đồng Nai 15.145 người; một bộ phận cư
trú ở Bà Rịa – Vũng Tàu 8.793 người; Bình Thuận 23.716 người, chiếm 50%
dân số Chơ Ro. Theo số liệu thống kê này, ba tỉnh có người Chơ Ro sinh sống
nhiều nhất là Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu và Bình Thuận
Ở Đồng Nai, người Chơ Ro cư trú có tính chất cộng đồng chủ yếu ở các huyện,
thị: Long Khánh (xã Xuân Vinh, xã Xuân Bình, xã Bàu Trâm, xã Hàng Gòn);
huyện Xuân Lộc (xã Xuân Trường, xã Xuân Phú, xã Xuân Thọ), huyện Định
Quán (xã Túc Trưng), huyện Vĩnh Cửu (xã Phú Lý), huyện Long Thành (xã
Phước Bình), huyện Thống Nhất (xã Bình Lộc, xã Xuân Thiện). Riêng ở thành
phố Biên Hịa, hiện nay có một số ít người Chơ Ro đến sinh sống, chủ yếu là
thanh thiếu niên trong độ tuổi đi học hoặc làm công nhân tại các khu công nghiệp
Trên địa bàn Bà Rịa – Vũng Tàu, người Chơ Ro sinh sống ở 7/8 đơn vị hành
chánh cấp huyện, thị, thành phố. Trong đó có người Chơ Ro cư trú đông đảo
nhất ở huyện Châu Đức (4.764 người); kế đến là huyện Xuyên Mộc (2.131
người), huyện Tân Thành (1.433 người), huyện Đất Đỏ (853 người), thị xã Bà
Rịa (596 người), huyện Long Điền (82 người) và thành phố Vũng Tàu (09
người)
Người Chơ Ro là lớp cư dân cư trú từ xa xưa ở miền núi Nam Đơng Dương,
nhóm ngơn ngữ Mơn - Khơ Me thuộc chi miền núi phía Nam. Trước khi có mặt
trên những địa bàn cư trú hiện nay, người Chơ Ro phân bố chủ yếu ở vùng đồi
núi thấp, nằm về phía Đông Nam của tỉnh Đồng Nai. Dựa trên một số kết quả
nghiên cứu khảo cổ học ở Đông Nam bộ đồng thời liên kết với những dấu vết
nhân chủng và ngôn ngữ, tộc người Chơ Ro (cùng với một số tộc người Mạ,
Xtiêng...) là hậu duệ của cư dân cổ Môn Khơ me và là dân bản địa sinh sống lâu
đời ở Đông Nam bộ ngày nay. Cuộc sống của các cư dân này đã có ít nhiều liên
kết chặt chẽ, nhằm quản lý khu vực sinh sống rộng lớn của mình.
6
Tại Đồng Nai, địa bàn sinh sống của người Chơ Ro chủ yếu ở 5 huyện, thị: Long
Khánh (chủ yếu ở các xã Xuân Vinh, Xuân Bình), Xuân Lộc (xã Xuân Trường,
xã Xuân Phú, xã Xuân Thọ), Định Quán (xã Túc Trưng), Vĩnh Cửu (xã Phú Lý),
Long Thành (xã Phước Thái). Người Chơ Ro ở Đồng Nai có 15.145 người, xếp
thứ ba sau người Kinh và người Hoa.
1.2. Tộc danh và lịch sử tộc ngƣời
1.2.1. Tộc danh
Việt Nam có 54 dân tộc. Các tiêu chí xác định thành phần dân tộc dựa trên: cộng
đồng về mặt ngôn ngữ, đặc điểm chung về sinh hoạt – văn hóa, ý thức tự giác
tộc người. Người Chơ Ro được định danh là một tộc người riêng biệt trong 54
cộng đồng dân tộc của Việt Nam. Xếp theo số lượng dân cư, người Chơ Ro
được xếp thứ 32/54 dân tộc
Về đặc điểm ngôn ngữ, người Chơ Ro thuộc hệ ngơn ngữ Nam Á, nhóm Mơn –
Khmer. Nhóm ngơn ngữ Mơn – Khmer có 21 dân tộc là: Ba – na, Brâu, Bru –
Vân kiều, Chơ ro, Co, Cơ – ho, Cơ – tu, Gié – triêng, Hrê, Kháng, Khmer, Khơ
mú, Mạ, Mảng, M’Nông, Ơ – đu, Rơ – măm, Tà – ôi, Xinh – mun, Xơ – đăng,
Xtiêng. Trong nhóm ngơn ngữ này được chia thành 5 tiểu nhóm gồm: Khmer,
Khơ mú, Cơ tu, Ba na, Mnông, người Chơ ro được xếp trong tiểu nhóm Mnơng
cùng với các thành phần dân tộc Mnơng, Cơ – ho, Xtiêng, Mạ.
Tên tự gọi của dân tộc là Chrau – Jro, trong đó Chrau có nghĩa là Người hay
Nhóm người, Tập đồn người, cịn Jro là một danh từ riêng chỉ cộng đồng của
họ. Theo đó, họ cịn được gọi bằng các danh từ có âm gần như vậy: Chơ ro,
Chrau, Jơ ro, Dơ ro… hay bằng một danh từ phiếm chỉ: người Thượng. Thời kỳ
thực dân Pháp đơ hộ, đồng bào cịn bị gọi la người Mọi. Trong các tài liệu, sách
báo từ sau năm 1975, tộc danh Chơ ro được sử dụng chính thức.
1.2.2. Lịch sử tộc ngƣời
Người Chơ ro là lớp cư dân cư trú từ xa xưa ở miền núi Nam Đơng Dương,
nhóm ngơn ngữ Mơn – Khmer thuộc chỉ miền núi phía Nam. Tiếng nói của họ
gần với tiếng nói của người Mạ, Cơ ho, Xtiêng, Co, song lượng từ Khơ me trong
tiếng Chơ Ro tương đối nhiều. Trước khi có mặt trên các địa bàn cư trú hiện
nay, người Chơ Ro phân bố chủ yếu ở vùng đồi núi thấp, nằm về phía Đơng
Nam của tỉnh Đồng Nai và một phần ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
7
Tộc người Chơ Ro (cùng với một số tộc người Mạ, Xtiêng là hậu duệ của cư dân
cổ Môn – Khmer và là dân bản địa sinh sống lâu đời ở Đông Nam Bộ ngày nay.
Cuộc sống của các cư dân này đã có ít nhiều liên kết chặt chẽ, nhằm quản lý khu
vực sinh sống rộng lớn của mình
Các thế hệ người Chơ Ro xưa kia đã trải qua nhiều biến động lớn, khu vực cư
trú thường là nơi tranh chấp triền miên của các tộc người láng giềng. Vì vậy,
người Chơ Ro buộc phải di cư liên tục, cuộc sống không ổn định. Qua thời gian
sống ở rừng núi, với môi trường ẩm ướt quanh năm, các phương tiện y tế thiếu
thốn, phương pháp chữa bênh lạc hậu… đã làm dân số của người Chơ ro giảm đi
đáng kể. Đặc biệt, từ khi thực dân Pháp xâm lược, lập các đồn điền cao su,
người Chơ ro phải di chuyển địa bàn cư trú vào những vùng núi sâu, cách biệt
mơi trường giao lưu văn hóa với các tộc người khác. Đời sống kinh tế lệ thuộc
nhiều vào các nguồn lợi tự nhiên. Điều kiện lao động vất vả, cộng với dịch bệnh
và thú dữ, sự tồn tại của cộng đồng luôn bị đe dọa
Trong thời gian từ năm 1954 đến 1975, người Chơ ro ở một số khu vực như
Định Quán, Xuân Lộc, Long Khánh… bị dồn vào ấp chiến lược, dưới sự kiểm
sốt chặt chẽ của chính quyền Sài Gòn. Thanh niên Chơ ro là nguồn lao động
chính tron gia đình bị bắt lính, tải đạn, tải lương thực; địa bàn cư trú ngày càng
bị thu hẹp khiến cho cuộc sống trở nên khó khăn hơn, dân số suy giảm nhiều
trong giai đoạn này. Một số làng của người Chơ ro không bị dồn dập dân lập ấp
chiến lược thì theo phong trào kháng chiến của cách mạng, rút vào rừng sâu
Từ sau năm 1975, người Chơ ro được quan tâm trong chính sách ổn định, phát
triển của chính quyền cách mạng, Đặc biệt những năm đầu thập niên 80 của thế
kỷ XX, một số làng cư trú của người Chơ ro được lập mới để thực hiện chính
sách định canh, định cư
So với phân bố truyền thống ở các làng của vùng núi rừng núi trước đây, nhiều
địa bàn cư trú của người Chơ ro đã có những thay đổi. Các làng Chơ ro đã dịch
chuyển khá nhiều với địa bàn cư trú gốc trải qua nhiều biến động xã hội. Hiện
nay, địa bàn cư trú của người Chơ ro khơng cịn biệt lập mà xen cư với nhiều
dân tộc khác, chủ yếu là người Việt
Dù trải qua những thăng trầm của lịch sử, người Chơ ro vẫn giữ vững được sức
sống tộc người, không ngừng sáng tạo các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể,
góp phần làm đa dạng sự phong phú sắc thái tộc người trên vùng miền Đông
Nam Bộ, của Việt Nam
8
1.3.
Đời sống kinh tế
Kinh tế truyền thống của người Chơ ro ở Đồng Nai là kinh tế nương rẫy. Nguồn
sống của người dân chủ yếu dựa vào kết quả mùa màng. Xưa kia, người dân
khai thác vùng đồi núi nơi cư trú của mình để trồng trotjtheo lối du canh du cư,
nên cuộc sống nghèo nàn và không ổn định. Sau này người dân đã biết biến rẫy
thành đất định canh và phát triển nương rẫy thành ruộng nước, vì vậy, cuộc sống
có phần khá hơn
Cùng với nơng nghiệp ruộng nước, nương rẫy, việc làm vườn, chăn nuôi, săn
bắt, đánh cá, hái lượm… là những ngành kinh tế phụ bổ trợ cho kinh tế nương
rẫy. Hai nghề thủ cơng chính của người Chơ ro là đan lát và dệt vải. Tuy nhiên
chỉ có nghề đan lát bằng tre mây nứa là phổ biến. Nghề dệt vải bị mai một dần
và hiện nay mất hẳn
1.4.
Đời sống văn hóa
Vốn văn nghệ dân tộc của người Chơ Ro phong phú. Nhạc cụ có bộ chiêng 7
chiếc, đây đó cịn thấy đàn ống tre, có ống tiêu và một số người cịn nhớ lối hát
đối đáp trong lễ hội.
Trên địa bàn Đồng Nai hiện nay, người Chơ Ro sống gần gũi với người Việt nên
trong ngơn ngữ của mình, lượng từ tiếng Việt tham gia ngày càng nhiều hơn,
đến nay đại đa số dân cư Chơ Ro đều biết chữ quốc ngữ. Xu hướng xích lại gần
với người Việt được biểu hiện trên nhiều lĩnh vực của đời sống hàng ngày, các
hoạt động sản xuất, các quan hệ xã hội, những biểu hiện văn hóa vật chất như
nhà cửa, y phục, đồ gia dụng,...
1.5.
Đời sống xã hội
Tổ chức xã hội truyền thống của người Chơ ro theo đơn vị xã hội truyền thống
là buôn làng mà người Chơ ro gọi là palay, blay, bon
Người Chơ ro sống thành từng làng. Mỗi làng (sóc, plây, đunlay) có vài dãy nhà
sàn dài, mỗi nhà dài là một gia đình lớn, chia làm nhiều gia đình nhỏ. Các bon,
plây thường được xây dựng ở gần nguồn nước. Giữa các bon, plây có đường
mịn đi lại giao lưu với nhau, có ranh giới khá rõ ràng và được truyền cho thế hệ
sau nhận biết
9
Palay (bn, làng), là tập hợp một số gia đình cùng dịng tộc. Sau này mỗi palay
có thể gồm nhiều dong tộc đan xen với nhau. Mỗi palay có một già làng uy tín
trong palay được nhân dân kính trọng, tin tưởng.
Mỗi nhà dài có một tộc trưởng gọi là Ông đầu Nhang (voh Yang va), đó là già
làng có uy tín, có kinh nghiệm sản xuất và chiến đấu. Xã hội chưa phân hóa giàu
nghèo, khơng có nơ lệ trong nhà, dân làng sống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau.
Người con trai từ lúc nhỏ đã được cha rèn luyện tính dũng cảm. Con gái được
mẹ dạy nấu ăn, hái lượm, cách dệt thổ cẩm, dạy hát dân ca, múa truyền thống.
Con trai con gái lớn lên tự do tìm hiểu lẫn nhau qua các buổi làm rẫy, các lễ
hội... nảy sinh tình u và tiến đến hơn nhân. Trong hôn nhân, tuy nhà trai hỏi
vợ cho con, nhưng lễ cưới tổ chức tại nhà gái, chàng trai phải ở rể vài năm rồi
vợ chồng làm nhà ở riêng.
Khi chôn người chết theo truyền thống Chơ Ro, người Chơ Ro dùng quan tài
độc mộc, đắp nắm mồ hình bán cầu. Sau 3 ngày kể từ hôm mai táng, gia đình có
tang làm lễ "mở cửa mả".
Người Chơ Ro vốn ở nhà sàn, lên xuống ở đầu hồi. Từ mấy chục năm nay,
người Chơ Ro đã hoàn toàn quen ở nhà trệt.
10
CHƢƠNG 2: CHUYỂN BIẾN VỀ TÍN NGƢỠNG TƠN GIÁO CỦA
NGƢỜI CHƠ RO Ở ĐỒNG NAI
2.1. Tín ngƣỡng
Tín ngưỡng nguyên thủy của dân tộc Châu Ro là thờ đa thần với quan niệm mọi
vật đều có linh hồn. Vì vậy, họ thần rất nhiều thần, các hiện tượng thiên nhiên
thường xảy ra mà chính cộng đồng, bản thân họ khơng lý giải được. Đây cũng
chính là quan niệm, tín ngưỡng chung của các cộng đồng cư dân bản địa ở Đồng
Nai.
Người Chơ Ro tin vào một thế giới siêu hình tồn tại song song với thế giới thực
tại mà họ đang sống. Thế giới siêu hình đó là nơi tồn tại, ngự trị của các thần
linh ( đại diện cho cái thiện ) và có cả ma quỷ ( đại diện cho cái ác), có khả năng
chi phối đến đời sống con người.
Hệ thống thần linh người Chơ Ro thờ rất đa dạng. Nhưng có một vị thần mà họ
xem là tối thượng trên tất cả các thần linh khác là Yang N'du (Thần N'du). Vị
thần vơ hình này có tài năng siêu phàm đóng vai trị quan trọng nhất trong tất cả
các thần linh. Vì vậy, bất kỳ lễ cúng nào, để tôn trọng và biết ơn, người Chơ Ro
đọc lời khấn Thần N'du trước và mời về dự chứng giám. Cư dân Châu Ro tin
rằng chính Thần N'du đã tạo nên cả thế giới rộng lớn. Tổ tiên người Châu Ro do
Thần N'du dựng nên, giúp đỡ và duy trì nịi giống cho đến ngày nay. Nhờ Thần
N'du mà tổ tiên người Chơ Ro biết làm rẫy, săn thú, dệt vải, đặt ra các lề thói mà
họ truyền giữ từ bao thế hệ đi qua đến nay.
Dưới Thần N'du là hàng loạt các vị thần khác như: Thần Lúa (Yang Kôi), thần
Rừng (Yang Bri), thần Nước (Yang Dah), thần Núi (Yang Bơnơm), thần Nhà
(Yang Hiu), thần Đá (Yang Luh)... Một số sử liệu khác cho thấy người Chơ
Ro còn thờ thần Lửa nhưng qua khảo sát tại Đồng Nai, cư dân Chơ Ro ở đây
không thờ từ xưa đến giờ. Họ quan niệm, lửa để dùng, không là đối tượng được
thờ. Bao trùm lên hệ thống thần linh được thờ trong tín ngưỡng người Mạ là các
vị thần có liên quan đến nông nghiệp. Các vị thần này được tổ chức lễ cúng mỗi
khi người Chơ Ro tiến hành công việc khai nương, phát rẫy, trồng trọt hay sau
vụ mùa thu hoạch trong chu kỳ sản xuất.
11
2.2. Tôn giáo
Ngày nay, nhiều người dân Chơ Ro đã theo các tôn giáo khác như: Thiên chúa
giáo, Tin lành. Hầu hết những người theo đạo này tập trung ở các huyện Định
Quán, Xuân Lộc, Long Khánh, họ đã bỏ các thủ tục nghi lễ truyền thống như lễ
cúng thần lúa, thần rừng… Thay vào đó, họ đi lễ nhà thờ đều đặn vào các ngày
cuối tuần. Họ sử dụng “Kinh thánh Tân ước” (Sirăq cô voq de) phiên âm theo
tiếng Chơ Ro được nhà xuất bản New York International Bible Society, Mỹ,
xuất bản năm 1982
2.3. Các nghi lễ, lễ hội
Lễ hội và các nghi lễ liên quan đến nông nghiệp là một hình thức sinh hoạt văn
hóa cộng đồng, rất lâu đời, phổ biến và có vai trị quan trọng trong đời sống xã
hội cổ truyền của người Chơ Ro. Từ lâu, lễ hội đã là một phần hồn của dân tộc,
là một nhu cầu không thể thiếu được của người dân Chơ Ro. Mặc khác, đây là
dạng sinh hoạt văn hóa ở cả hai phương diện văn hóa vật thể và phi vật thê. Với
sự tha gia của cả cộng đồng Chơ Ro, lễ hội và những nghi lễ liên quan đến nông
nghiệp là môi trường sản sinh, lưu truyền, bảo tồn những giá trị văn hóa truyền
thống. Nghiên cứu, tìm hiểu về lễ hội và các nghi lễ liên quan đến nông nghiệp
của người Chơ Ro là góp phần tìm hiểu mạch nguồn văn hóa dân tộc của người
Chơ Ro. Điều này càng đặc biệt có nghĩa khi trong giai đoạn hiện nay, trở về cội
nguồn dân tộc đang là xu thế chung, thu hút sự quan tâm của nhiều người, nhiều
ngành
2.3.1. Lễ hội cúng thần lúa
Lễ cúng thần Lúa là lễ cúng lớn nhất trong năm của người Chơ Ro. Tên gọi lễ
cúng này hiện này hiện nay có tên gọi Sa yang va hay Ơp yang va. Xét về ngơn
ngữ thì tên gọi Ơp yang va là chuẩn xác hơn.
Đây là lễ hội truyền thống được tổ chức hàng năm của người Chơ Ro. Người
Chơ Ro sống bằng nghề nông truyền thống, cây lúa rẫy là lương thực chính của
họ. Mục đích của lễ hội này là cảm ơn thần lúa và cầu mong thần lúa phù trợ cho
mùa tới được thuận lợi, dư ăn dư để. Sau khi mùa màng thu hoạch xong, lúa
được phơi kĩ cất vào kho. Họ tiến hành chặt cây phát cỏ, đốt rẫy để chuẩn bị cho
mùa sau. Công việc xong xi thì họ bắt đầu tiến hành làm lễ. Mục đích tổ chức
lễ cúng thần Lúa là tạ ơn thần linh, tổ tiên và mừng mùa vụ kết thúc, chuẩn bị
cho mùa vụ mới. Trong lễ cúng thần Lúa, người Chơ Ro có lễ cúng chữa bệnh
12
cho gia đình, dịng họ. Ý nghĩa sâu xa trong lễ cúng lúa thần lúa của người Chơ
Ro có thể quy đồng trong mục đích Cầu an cho cá nhân và cộng đồng
Tuy vậy, tùy thuộc vào từng địa điểm cư trú mà mỗi nhóm cộng đồng Chơ Ro
có cách tổ chức lễ cúng thần Lúa có những điểm khác biệt
Ngày nay, do cơ cấu sản xuất thay đổi, người Chơ Ro khơng cịn lối du canh du
cư nữa, họ cũng khơng cịn ở nhà dài cộng đồng. Các gia đình ra ở riêng và hịa
vào trong cơng cuộc cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Một số nơi của
người Chơ ro khơng cịn cúng thần lúa như trước, mà họ hòa nhập vào tập quán
sinh hoạt chung của người Việt, bắt đầu làm quen với tết Nguyên Đán. Lễ cúng
thần lúa của họ thường được tổ chức vào dịp tết Nguyên Đán của người Việt. Do
điều kiện kinh tế khó khăn nên chính quyền thường hỗ trợ cho cộng đồng Chơ
Ro về kinh phí và kế hoạch tổ chức. Trong lễ cúng này, nhiều yếu tố truyền
thống bị giản lược và bổ sung những hoạt động mang tính chất hội
2.3.2. Lễ hội cúng thần rừng
Người Chơ Ro có tục cúng thần rừng vào trước mùa mưa, có nơi thì 3 năm cúng
một lần, có nơi thì 7 năm cúng một lần, cũng có nơi tùy theo tình hình kinh tế
của cả dịng họ, bn làng mà họ tổ chức. Tục cúng thần rừng được tổ chức
trong phạm vi cộng đồng do già làng chủ trì và quyết định, tổ chức ngồi trời,
dưới khoảng đất rộng dưới bóng gốc cây cổ thụ mà đồng bào cho là linh thiêng,
thường là những cây Dầu, cây Da
Tục cúng thần rừng được thực hiện trong nhiều ngày, nhiều người tham dự, rất
tốn kém về thời gian, công sức cũng như tiền của nên địi hỏi sự tham gia, đóng
góp của cả cộng đồng. Để tổ chức lễ được chu đáo, thông thường người Chơ Ro
lập ra một ban tổ chức lễ hội do một già làng làm chủ trì, các thành viên là
những người cao tuổi có kinh nghiệm, uy tín, vai vế trong làng, dòng họ. Nhiệm
vụ của ban tổ chức lễ hội này vận động trong làng, trong dòng họ tiển bạc, thóc
gạo, súc vật,… và chịu trách nhiệm về tổ chức nghi lễ
Trước ngày cúng, thanh niên trong làng phải chuẩn bị một ngôi nhà lễ, trong nhà
dựng một bàn thờ chính. Theo tục lệ cúng thần rừng phải cúng thịt sống, dê, lợn
cúng phải để nguyên con bày biện lên bàn thờ để tế thần, các thức cúng khác
như rượu, bánh trái cũng được bày biện xung quanh bàn thờ
Những năm gần đây, do cơ cấu sản xuất thay đổi từ du canh du cư sang định
canh định cư, lối canh tác truyền thống dần chuyển sang phương thức sản xuất
13
hiện đại. Cuộc sống xen cư với các dân tộc lớn như Việt, Hoa,… phần nào làm
cho văn hóa Chơ Ro bị mờ nhạt đi. Bên cạnh đó nhiều người dân Chơ Ro đã
chuyển sang theo đạo thờ Chúa, mọi thủ tục nghi lễ được người dân tiến hành
theo hình thức tơn gióa này, nhiều nơi khơng cịn tập tục cúng thần lúa và thần
rừng. Các nghi lễ liên quan đến nơng nghiệp cũng bị qn lãng, chỉ có những
người lớn tuổi trong làng còn nhớ kể lại
2.4. Phong tục tập quán
Trong hoàn cảnh điều kiện sống hiện nay, một số tập qn của người Chơ Ro,
khơng cịn được duy trì. Thế nhưng, nó cũng cịn những ảnh hưởng khá rõ nét
trong đời sống của cộng đồng cư dân Chơ Ro
2.4.1. Trang phục
Trang phục cổ truyền qua một số hình ảnh chụp hồi đầu thế kỷ XX cho thấy
người đàn ông Chơ Ro đóng khố, người phụ nữ mặc váy, phần bụng trở lên để
trần. Để giữ thân vào mùa lạnh, người Chơ Ro thường khốc lên một tấm chăn
có lỗ chui đầu. Hiện nay, chỉ có cộng đồng dệt thổ cẩm có các loại váy, áo chui
đầu có tay, dây quấn đầu hay buộc ngang bụng với kiểu dáng hiện đại. Những
loại trang phục này có ảnh hưởng yếu tố bên ngoài, chỉ sử dụng trong các dịp lễ
hội hay trong các đợt biểu diễn văn nghệ. Một bộ phận người Chơ Ro trên địa
bàn Đồng Nai khơng có trang phục cổ truyền, họ sử dụng thổ cẩm người Châu
Mạ. Một số khác sử dụng những sản phẩm thổ cẩm được bán trên thị trường
không rõ xuất xứ hay có sự pha trộn nhiều yếu tố khơng thuần nhất. Hiện nay
đại đa số người Chơ Ro, sử dụng loại quần áo với các loại vải giống như người
Việt.
Đồ trang sức cổ truyền của người của người Chơ Ro, chủ yếu là dây đeo cổ
được kết nối bằng những hột chuỗi nhiều màu sắc; lục lạc, vòng đồng đeo chân,
đeo cổ và ngà voi đeo tai. Những loại trang sức này hiện vẫn còn lưu giữ trong
cộng đồng nhưng chỉ có các sợi dây và lục lạc là cịn phổ biến.
2.4.2. Hôn nhân
Thanh niên Chơ Ro lớn lên được tự do tìm hiểu, bày tỏ tình cảm qua những lần
gặp gỡ, tiếp xúc. Trước đây, khi chọn dâu, rễ, các bậc cha mẹ thường đánh giá
vào năng lực làm việc, sức khỏe, và đức hạnh. Muốn chọn rễ, họ xem công cụ
của người con trai như chà gạc, gùi, dao ... có bền, chặt bén hay khơng. Chọn
14
dâu họ xem nhà bếp có ngăn nắp hay cẩu thả, dơ dáy và chú ý xem cơ gái có bị
cộng đồng lên tiếng dèm pha hay không
Khi đôi trai gái ưng thuận nhau, chàng trai thưa chuyện với cha mẹ, nếu được
chấp thuận thì nhà trai nhờ một người trong họ hàng gần, đứng tuổi làm mai đi
dạm hỏi. Khi đến nhà gái, chàng trai mặc chiếc khố tua đỏ, tay đeo nhiều vịng
đồng, tóc cài lược sừng trâu, búi tóc cắm hai lơng chim trắng dài. Đến trước nhà
gái, chàng trai cắm mũi lao xuống đất, vai vẫn vác chà gạc, lưng đeo dao. Khi họ
hàng nhà gái ra đón, chàng trai trình bày mục đích nếu được thuận tình chàng
trai rút dao bước vào nhà, đến khấn trước các bàn thờ Yang và dắt dao lên mái
nhà để đó 7 ngày. Hai gia đình vui mừng tiệc tùng, uống rượu cần vui vẻ. Sau
đó, nhà trai đi về, chàng trai ở lại nhà gái tham gia làm lụng ở đây như một
thành viên trong gia đình. Tuy chàng trai ở lại nhà gái và được đồng ý nhưng họ
không được ngủ chung trong nhà mà phải làm một túp lều ở một khu vườn để
sống với nhau. Cô gái trang sức rất đẹp bằng cách đeo nhiều chuỗi vịng, chuỗi
hạt cườm hoặc vỏ ốc đẹp, tóc có lược gài và dao cán sừng. Váy mặc được trang
trí hoa văn tinh tế, có nhiều tua đỏ rất đẹp. Hầu hết, mỗi thiếu nữ Chơ Ro, chọn
hay tự dệt cho mình một chiếc váy thật đẹp chính tay mình thể hiện để mặc
trong những ngày trọng đại.
Đám cưới tiến hành bên nhà gái. Thầy cúng trong làng được mời tới tổ chức
cúng lễ cho tổ tiên, thần linh và cầu cho đôi vợ chồng trẻ. Người ta mổ trâu, làm
heo đãi làng, ca hát nhảy múa, vui chơi. Thường lễ cưới diễn ra vui vẻ, kéo dài
tùy theo kinh tế hai bên gia đình. Đơi vợ chồng trẻ trao vòng tay, cổ, chân cho
nhau và cùng ăn gan heo thể hiện lời thề sống với nhau hạnh phúc. Chàng trai
phải ở lại nhà vợ. Hình thức này phản ánh tục bắt chồng trước đây và tàn tích
của chế độ mẫu hệ. Ở nhà vợ một thời gian khoảng vài năm, nếu người đàn ông
muốn đưa vợ ở riêng hoặc về bên nhà mình thì nộp một số lễ vật cho gia đình vợ
theo yêu cầu.
Ngày nay, trai gái Chơ Ro cũng được tự do tìm hiểu, nhưng những nghi thức
trong lễ cưới cổ truyền khơng cịn được duy trì. Phần lớn, người Chơ Ro tổ chức
đám cưới theo những nếp đời sống hiện tại của người Việt và một số theo nghi
thức tơn giáo mà những gia đình đang theo. Nhưng một số hình thức cổ truyền
vẫn duy trì như mang cồng chiêng theo trong ngày cưới, trình bày cho dịng họ,
tổ tiên... Chế độ hơn nhân một vợ một chồng được xác lập bền vững trong cư
dân Chơ Ro
15
2.4.3. Tang ma
Người Chơ Ro quan niệm người chết là từ giã cuộc sống trần gian để qua một
thế giới mới khác vì vậy, để họ yên ổn sống ở nơi mới, người cịn sống khơng
qn sắm những đồ vật để gửi, chôn theo. Tang chủ thường chia cho người chết
một số tài sản trong nhà: công cụ lao động như chà gạc, rìu, gùi; đồ dùng như
nồi gốm, bát sành, vỏ trái bầu khơ, ché; vũ khí như dao, nỏ, cung, tên, ná... cùng
một số đồ trang sức, vật dụng khác. Số tài sản này, một số bỏ chung với thi hài
người chết và một số đặt xung quanh mộ hay bỏ rãi dọc đường gần khu nghĩa
địa. Phần lớn những thứ bỏ trên mặt đất thường bị phá hủy một phần để phân
định sự đối lập với tài sản của người đang sống, đồng thời ngăn ngừa kẻ xấu lấy
về sử dụng. Nếu nhà có của thì tế người chết bằng trâu rồi dựng một chuồng trâu
nhỏ để đựng xương con vật đã hiến sinh. Người Chơ Ro cịn có tục tẩy rửa nhà
sau khi đưa tang. Họ nấu nước sơi có hịa lẫn tiết gà lấy lá cây nhúng vào vẫy
lên những người thân, đưa đám để hồn ma người chết khơng ám ảnh.
Người Chơ Ro, cịn có quan niệm về chết lành và chết dữ. Chết lành như bị
bệnh tật, già yếu, chết dữ là bị tai nạn, bị thú dữ ăn thịt, chết bất ngờ... Theo đó
mà họ có những nghi thức kiêng kỵ, tổ chức tang ma cho phù hợp. Chết lành là
tổ chức tang ma trong nhà, chôn ở nghĩa địa của buôn làng. Chết dữ là điềm xấu,
mang lại rủi ro nên gia đình, bn làng tổ chức đơn giản và chơn ở nơi họ bị nạn
hoặc nơi khác ngoài nghĩa địa cộng đồng.
Người Chơ Ro, có tục mở cửa mã ngày thứ bảy với lễ vật cúng gồm có: bánh
giã của gia đình làm, gà vịt, chén cơm. Đó là lần cuối họ thăm lại nơi ở của
người chết. Trong thời gian chơn đến lúc mở cửa mã, gia đình có người chết
thường ở nhà và không đi đến bất cứ nhà nào, và công việc nương rẫy cũng tạm
ngưng lại.
16
CHƢƠNG 3: CHUYỂN BIẾN VỀ NGÔN NGỮ VÀ CÁC LOẠI HÌNH
VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƢỜI CHƠ RO Ở ĐỒNG NAI
3.1. Ngơn ngữ, chữ viết
Tiếng nói của người Chơ Ro thuộc nhóm ngơn ngữ Mơn – Khmer thuộc chi
miền núi phía Nam. Tiếng nói của họ gần với tiếng nói của người Mạ, Cơ Ho,
Xtiêng, lượng từ Khmer trong tiếng Chơ ro tương đối nhiều. Người Chơ ro
khơng có chữ viết. Một số nhà truyền giáo đã phiên âm tiếng Chơ ro qua hệ
tiếng Latin.
Hiện nay, người Chơ ro sống xen cư với người Việt. Họ luôn tiếp xúc, gắn bó
ngày càng chặt chẽ với người Việt trong cuộc sống hàng ngày nên trong ngơn
ngữ của mình, lượng từ tiếng Việt đã tham gia ngày một nhiều hơn, nhất la lớp
từ văn hóa. Phần lớn người Chơ ro biết chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt trong
mọi quan hệ với bên ngoài của cộng đồng.Những khu vực người Chơ Ro sinh
sống như huyện Xuân Lộc, Định Quán, Vĩnh Cửu, Long Thành, Long Khánh,
hầu hết người Chơ ro có độ tuổi từ 18 đến 50 tuổi đều biết nói tiếng Việt. Thậm
chí một số thanh niên Chơ ro ở Xã Túc Trưng, huyện Định Quán do sống và lao
động chung với người Việt và một số nguyên nhân khác đã không thể nói tiếng
Chơ ro thành thạo, ngơn ngữ giao tiếp hàng ngày của họ là tiếng Việt
3.2. Loại hình chuyện kể
Mỗi chuyện kể của tộc người khác nhau có những đặc điểm riêng. Thế nhưng
trong quá trình hình thành, phát triển và sự giao thoa của nhiều luồng văn hóa
qua các thời kỳ của các tộc người thì những tác động về kinh tế, xã hội là điều
không thể tránh khỏi. Vì vậy nguồn văn hóa dân gian của cộng đồng Chơ ro mà
trong đó loại hình chuyện kể cũng không tránh khỏi sự ảnh hưởng qua lại với
nhau bởi vì họ cùng chung mơi trường tự nhiên, xã hội như nhau. Bên cạnh đó,
cịn tác động nhiều mặt từ các cộng đồng tộc người khác như Chăm và các dân
tộc vùng Tây Nguyên và người Việt sau này. Điều này thể hiên qua các tình tiết
chuyện, theo mơ típ chung ở một số chuyện kể
Chuyện kể Chơ ro phong phú về nội dung và đa dạng trong cách thể hiện. Vì
khơng có chữ viết nên chuyện kể của người Chơ ro được lưu truyền qua bao thế
hệ bằng truyền miệng. Lịch sử của chuyện kể lâu đời nhưng qua các thế hệ với
nguyên do nêu trên chắc chắn có nhiều thay đổi trong nội dung, tình tiết. Trên
17
hướng phát triển chung của xã hội, những sự biến đổi hay thay đổi như thế là
không tránh khỏi, làm mất yếu tố định hình gốc của nhưng ở một bình diện khác
nó làm cho vốn văn hóa dân gian này đa dạng hơn, phong phú hơn và thể hiện
cách nhìn phù hợp trong điều kiện xã hội cụ thể mà cộng đồng dân cư trải qua và
hướng đến
Các công trình nghiên cứu cho thấy, cư dân Chơ ro cịn bảo lưu nhiều chuyện
cổ, thần thoại, truyền thuyết gắn liền với lịch sử của dân tộc mình; phản ánh sự
nhận thức của họ về vũ trụ, thế giới, thần linh, nguồn gốc, những cuộc đấu tranh
của cộng đồng qua bao thời kỳ lịch sử. Vì khơng có chữ viết nên văn chương
truyền miệng của người Chơ ro được lưu truyền chắc chắn có nhiều thay đổi,
biến đổi trong nội dung, tình tiết. Trên hướng phát triển chung của xã hội, những
sự biến đổi hay thay đổi như thế là không tránh khỏi, làm mất yếu tố định hình
gốc nhưng ở một bình diện khác nó làm vốn văn hóa dân gian này đa dạng hơn,
phong phú hơn và thể hiện cách nhìn phù hợp trong điều kiện xã hội cụ thể mà
cộng đồng dân cư trãi qua và hướng đến
Văn chương truyền miệng của người Chơ ro phong phú về nội dung và đa dạng
trong cách thể hiện. Người kể chuyện kể theo cách nhớ về chuyện xưa như lời tự
thuật, kể cho đối tượng khác nghe và lời kể có những chuyện mà người kể như
hóa thân vào nhân vật.
Văn chương truyền miệng của người Chơ ro phong phú về nội dung như giải
thích hiện tượng thiên nhiên, phong tục tập qn, tín ngưỡng, lễ hội, nguồn gốc
các lồi, đề cập những yếu tố xã hội, lịch sử, có khơng gian, thời gian được định
hình hay phiếm chỉ… Trong chuyện kể của cộng đồng người Chơ ro có nhưng
chuyện đề cập đến nhiều vấn đề và cũng có những chuyện kể chỉ một vấn đề. Vì
vậy, nội dung chuyện có chuyện khá dài, có chuyện rất ngắn. Chuyện kể khơng
tn theo quy ước chuẩn mà có cách thể hiện riêng. Có chuyện dẫn giải rất nhiều
chi tiết cũng có chuyện ít chi tiết, trực tiếp hay gián tiếp đi vào nội dung thể
hiện. Chính điều này tạo nên sự cuốn hút cho đối tượng nghe. Mỗi chuyện kể
của tôc người khác nhau có những đặc điểm riêng. Trong quá trình hình thành,
phát triển và sự giao thoa của nhiều luồng văn hóa qua các thời kỳ của các tộc
người thì những tác động về kinh tế, xã hội là điều không thể tránh khỏi
3.3. Nghệ thuật dân ca, múa, nhạc khí cụ
Loại hình nghệ thuật hát, múa, nhạc của người Chơ ro thường được kết hợp thể
hiện trong những lễ hội cộng đồng và được lưu truyền qua truyền miệng (hát),
18
thực tiễn hoạt động lễ hội (múa) và trong các sinh hoạt thường ngày. Thế nhưng
lễ hội ngày càng được ít tổ chức, những nhạc cụ thì khơng cịn lưu trữ. Vì thế,
chính cộng đồng Chơ ro cũng khơng có nhiều cơ hội để hưởng thụ, nhận biết.
Những người lớn tuổi thì càng ngày càng ít đi
3.3.1 Loại hình dân ca
Hầu hết những bài hát của dân tộc Chơ ro chỉ cịn một số ít người lớn tuổi cịn
nhớ. Người Chơ ro hát khi ru con, khi đi làm rẫy và thể hiện nhiều nhất là trong
các dịp lễ hội. Lời hát của cộng đồng Chơ ro rất mộc mạc, nó phản ánh nhịp
sống của cộng đồng trong các sinh hoạt thường nhật
Hiện nay, loại hình dân ca của người Chơ ro khơng cịn phổ biến trong cộng
đồng. Chỉ cịn một số người lớn tuổi còn biết đến, chủ yếu trong khi hát ru trẻ
em. Giới trẻ Chơ ro đang lãng qn những vốn q của cha ơng mình do nhiều
yếu tố tác động. Môi trường làm việc trên nương rẫy khơng cịn, mơi trường lễ
hội có tính cộng đồng với các sinh hoạt hát đối đáp, hát kể trong một thời gian
dài khơng cịn duy trì là những ngun nhân làm cho loại hình dân ca này mai
một dần. Thế hệ những người còn biết bài bản dân ca ngày càng lớn tuổi và mất
đi sẽ đem theo vốn q này mà khơng có cơ hội để truyền dạy cho con cháu.
Một số bài bản dân ca của người Chơ ro ở Đồng Nai được ngành văn hoa sưu
tầm, chuyển ngữ, ký âm và phổ biến theo hình thức băng đĩa Karaoke chỉ là một
trong các hoạt động truyền dạy cho chính cộng đồng Chơ ro nhưng chưa phổ
biến rộng rãi
3.3.2.Nghệ thuật múa
Nghệ thuật biểu biễn múa có thể nói hầu như kém phát triển hay đã phai lạt
nhiều trong đời sống cộng đồng. Trong lễ hội các phụ nữ lớn tuổi hay thanh nữ
thường hay múa tập thể. Những động tác múa theo nhịp còng chiêng, đi vòng
tròn quanh đống lửa hay cây nêu. Người Chơ ro sử dụng toàn thân cho động tác
múa nhưng những nhịp múa chủ yếu từ đôi tay và chân. Tất cả động tác lấy thân
làm trục chính và thể hiện nét tạo hình qua hai bên và theo hướng lên xuống. Sự
ảnh hưởng của nhiều yếu tố giao lưu văn hóa, tơn giáo đã tác động mạnh đến
những điệu múa truyền thống của người Chơ ro. Thực tế, những bài múa mà
chúng ta thường gặp trong các đội múa của người Chơ ro biểu diễn hầu như có
sự pha trộn các yếu tố ngoại lai qua một quy trình biên đạo
19
3.3.3.Loại hình nhạc khí cụ
Một số nhạc cụ của người Chơ ro hay sử dụng và hiện nay còn phổ biến là bộ
cồng (gồm 6 chiếc), chiêng (7 chiếc), đàn tre, kèn bầu, kèn môi, kèn lúa. Bộ
cồng, chiêng và các nhạc khí cụ đều được sử dụng trong các dịp lễ hội. Bộ
chiêng được treo lên và người đánh có thể trong tư thế đứng hay ngồi thực hiện.
Bộ đồng l thì được sử dụng làm dây đeo vào vai, đánh trong tư thế đứng khom
người và bước đi, một tay đánh và một tay giữ âm nhịp. Tùy theo nội dung của
lễ cúng ma người Chơ ro thực hiện những bài phối đánh phù hợp với hoàn cảnh.
Những loại nhạc cụ như kèn lúa, kèn môi, kèn bầu, đàn tre hiện nay rất ít người
sử dụng được. Kèn lúa dùng thể hiện tình u nam nữ, kèn mơi chúc an chúc
phúc; đàn tre, kèn bầu cho sinh hoạt hát múa cộng đồng
3.5. Nghệ thuật tạo hình, trang trí
3.5.1. Trên kiên trúc nhà ở
Nghệ thuật tạo hình của người Chơ ro thể hiện trên những kiến trúc nhà sàn
ngày nay có nhiều thay đổi. Theo một số tài liệu nghiên cứu trước đây cho thấy
nhà sàn là kiến trúc chung của cộng đồng, dòng tộc. Kiến trúc nhà sàn thể hiện
kiểu thức hình chữ nhật, mái gập theo tạo nóc bỏi địn dơng chính, hai vách nhà
sàn nghiêng chỏi ra. Thế nhưng theo lối kiến trúc nhà sàn hiện tại có những yếu
tố mới. Do điều kiện lịch sử và những biến động xã hội, nhà ở hiện nay của
người Chơ ro ảnh hưởng lối kiến trúc của người Kinh trong q trình chung
sống
Hiện nay, ngơi nhà của già làng người Chơ ro ở ấp Lý Lịch, xã Phú Lý huyện Vĩnh
Cửu tỉnh Đồng Nai được dựng sau năm 1975 được xem là “mẫu hình” nhà sàn
truyền thống của làng Chơ ro. Mặc dầu nhàn sàn này có sử dụng một số nguyên vật
liệu hiện đại như ngói lớp. Nhìn chung, cấu kết kiến trúc nhà sàn này làm bằng gỗ.
Bình diện của ngơi nhà này theo lối hình chữ nhật.
3.5.2 Trên thổ cẩm, vật dụng
Trên sản phẩm thổ cẩm (váy, mền, khố, túi…) chủ yếu của người Chơ ro những
mơ típ hoa văn được tạo hình thường gặp là con người, chày cối, con bướm, con
khỉ, cây đèn, cơng nghiệp mắt, chim chóc… được thể hiện cách điệu với những
20