Tải bản đầy đủ (.pdf) (16 trang)

phan tich nghe thuat mieu ta noi tam nhan vat trong kieu o lau ngung bich

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (440.25 KB, 16 trang )

Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí

Văn mẫu lớp 9:
Phân tích nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật
trong Kiều ở lầu Ngưng Bích
Đề bài: Phân tích nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật trong đoạn trích
"Kiều ở lầu Ngưng Bích" (trích Truyện Kiều) của Nguyễn Du.
1. Bài mẫu 1: Phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong Kiều ở lầu
Ngưng Bích
Truyện Kiều là một kiệt tác văn học. Có thể ví tác phẩm như một trái bom
nổ giữa làng văn và có thể làm vinh dự cho bất cứ một nền văn học nào có nó. Bởi
truyện đã đạt tới trình độ mẫu mực về mặt nội dung và nghệ thuật độc đáo. Một
trong các nghệ thuật làm nên sức hấp dẫn và thành cơng của "Truyện Kiều" đó là
nghệ thuật khắc họa hình tượng và diễn biến tâm trạng nhân vật. Đoạn trích "Kiều
ở lầu Ngưng Bích" là đoạn trích hay, là minh chứng tiêu biểu cho nghệ thuật này.
Qua đoạn trích chúng ta thấy được tâm trạng phức hợp trong lịng Kiều khi một
mình phải bơ vơ nơi đất khách q người, khơng biết phải bấu víu và nương tựa
vào đâu.
Trích đoạn nằm ở phần thứ hai "Gia biến và lưu lạc" của "Truyện Kiều". Sau
khi bán mình cho Mã Giám Sinh để có tiên chuộc cha và em, Kiều đã "thất thân"
với hắn "đuốc hoa để đó mặc nàng nằm trơ", rồi nàng bị hắn bán vào lầu xanh, làm
gái làng chơi. Biết mình bị lừa và phải làm nghề dơ bẩn, Kiều uất ức, rút dao định
tự vẫn. Tú Bà sợ hãi "Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma", nhanh trí, mụ liền vờ hứa
hẹn đợi Kiều bình phục sẽ gả chồng cho nàng vào nơi tử tế. Nhưng thực chất, Kiều
bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích và mụ ta đang đợi cơ hội thực hiện âm mưu mới,
ép nàng phải ra làm việc đó. Vì thế "Kiều ở lầu Ngưng Bích" là đoạn đầu tiên,
Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188


Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí


đánh dấu bước ngoặt cuộc đời của Kiều trong mười lăm năm lưu lạc. Đoạn trích
dựng lên tâm trạng cơ đơn, buồn tủi và tấm lịng thủy chung son sắt với người yêu,
hiếu thảo với cha mẹ của Thúy Kiều khi đang phải một mình bơ vơ, lạc lõng nơi
xứ lạ người xa. Đồng thời qua đoạn trích, người đọc thấy được bút pháp "tả cảnh
ngụ tình" độc đáo, đạt tới trình độ điêu luyện bậc thầy của thiên tài văn học
Nguyễn Du.
Trước hết là sáu câu thơ đầu là tâm trạng cô đơn, bất hạnh, đáng thương và
tội nghiệp của Kiều trước thiên nhiên ở lầu Ngưng Bích. Ngay câu thơ mở đầu:
"Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân", Nguyễn Du đã nêu bật lên cảnh ngộ đáng
thương của Kiều. "Khóa xn" tức khóa kín tuổi xn và ở đây ý nói về việc Kiều
đang bị giam lỏng. Vậy là tuổi thanh xuân của nàng Kiều bị giam hãm, khóa kín
trong cấm cung và khơng được giao tiếp với bên ngồi. Vì thế, lầu Ngưng Bích
như là nhà tù giam lỏng cuộc đời Kiều, nó cho thấy tình cảnh đáng thương, xót xa
mà nàng Kiều phải chịu đựng.
Những câu thơ tiếp theo, tái hiện quang cảnh xung quanh lầu Ngưng Bích
rộng lớn, mênh mơng được nhìn dưới con mắt đầy tâm trạng của Kiều:
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lịng.
Nguyễn Du đã đặt Kiều trong một cảnh ngộ rất đặc biệt: một mình, cơ đơn,
trơ trọi giữa một khơng gian rộng lớn, mênh mông: "bốn bề bát ngát". Đứng trên
lầu mà ngước mắt lên trời cao, Kiều chỉ thấy "non xa" và "tấm trăng gần". Nhìn
xuống mặt đất chỉ thấy khoảng khơng trống vắng, xa xa là những con sóng lượn,
những bãi cát dài phẳng lặng nối tiếp nhau, dưới ánh nắng của buổi chiều tà, bãi
Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188


Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí


cát như trở nên lấp lánh giống như những bụi hồng. Cảnh thật đẹp, thơ mộng, lãng
mạn nhưng đượm buồn. Bởi xung quanh Kiều, khơng hề có một chút bóng dáng sự
sống của con người. Vì thế, từ “xa trơng” như miêu tả cái nhìn xa xăm của Kiều,
nàng đang cố gắng kiếm tìm một chút bóng dáng, sự sống xung quanh. Nhưng
tuyệt nhiên chỉ là một khơng gian vắng lặng, tĩnh tại, khơng có chút động nhỏ bé
nào đó xung quanh mình. Sau này trong bài thơ "Tràng Giang", Huy Cận cũng
từng có câu thơ:
Mênh mơng khơng một chuyến đị ngang
Khơng cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
Vì thế, ẩn sau ánh mắt nhìn "xa trơng" như đang trơng mong, ngóng chờ ấy
là niềm mong mỏi, khát khao, đợi chờ một tương lai hạnh phúc phía trước nhưng
trước khơng gian trống trải, hoang vắng ấy thì chắc chắn chỉ làm cho Kiều trở nên
thất vọng, cô đơn hơn mà thôi.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lịng.
Tính từ “bẽ bàng” gợi lên sự xấu hổ và tủi thẹn của Kiều khi nghĩ đến thân
phận và duyên phận của mình. Có lẽ, nàng cảm thấy xấu hổ là vì bị Mã Giám Sinh
lừa vào lầu xanh, cịn nàng cảm thấy tủi thẹn là vì cảm thấy khơng cịn xứng đáng
với tình cảm mà Kim Trọng mong chờ. Cụm từ “mây sớm đèn khuya” gợi nên
vịng tuần hồn thời gian khép kín và ẩn sau đó là sự cơ đơn, đơn điệu, nhàm chán
khi mà ở đó Kiều chỉ có một thân một mình đối diện với chính mình, sớm thì làm
bạn với mây, tối thì lại chỉ biết trị chuyện với bóng đèn. Vì thế tâm trạng của Kiều
mới chia đơi thành hai ngả: “nửa tình – nửa cảnh như chia tấm lịng”. Cảnh có đẹp
đến bao nhiêu đi chăng nữa cũng không thể nào khỏa lấp đi tâm trạng “bẽ bàng”
của nàng.
Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188



Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí

Tóm lại: Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, kết hợp với những từ ngữ giàu tính
tạo hình và biểu cảm, Nguyễn Du đã phác họa được khung cảnh lầu Ngưng Bích
rất rộng lớn, mênh mơng và tuyệt nhiêu khơng có sự sống của con người. Đồng
thời qua đó, tác giả cịn cho thấy được tâm trạng cô đơn, tủi hổ, bẽ bàng của Kiều
khi bị giam lỏng trong lầu Ngưng Bích.
Trong nỗi cơ đơn cố hữu đang bủa vây quanh mình, khi một mình Kiều phải
bơ vơ dưới góc bể chân trời ở lầu Ngưng Bích thì nối nhớ gia đình, nỗi nhớ người
yêu đến như một lẽ tất yếu, rất phù hợp với qui luật tâm lí của con người xa quê.
Tám câu thơ tiếp là nỗi niềm thương nhớ Kim Trọng và cha mẹ của Kiều. Đến đây,
chúng ta thấy được cách dùng từ rất đắc địa, khéo léo của nhà thơ. Để diễn tả nỗi
nhớ của Kiều dành cho chàng Kim, tác giả đã dùng động từ “Tưởng”. Tưởng là
nhớ tới mức hình dung ra Kim Trọng đang ở trước mắt trò chuyện với Kiều. Kiều
nhớ đến đêm chăng thề nguyện, hai người cùng uống chén rượu thủy chung, hứa sẽ
bên nhau trọn đời. Nhưng bây giờ nàng đang phải lạc lõng nơi đất khách, nên nàng
tưởng Kim Trọng đang đợi tin tức của mình, cịn mình thì bặt vơ âm tín:
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sướng luống những rày trông mai chờ
Rồi nàng băn khoăn tự hỏi:
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Câu thơ như một lời khẳng định về tấm lòng son sắt, thủy chung của Kiều
đối với Kim Trọng dù trên bước đường đời có phải trải qua bao sóng gió thì tấm
lịng son ấy mãi vẹn ngun. Đồng thời, đây cũng là lời tự vấn lương tâm của
Kiều, Kiều cho rằng tấm lịng son sắt của mình với Kim Trọng đã bị hoen ố, đã bị
dập vùi khi Kiều đã thất thân với Mã Giám Sinh nên không biết bao giờ mới gột
rửa cho sạch được vết nhơ nhuốc ấy. Như vậy, trong nỗi nhớ chằng Kim, Thúy
Kiều khơng chỉ bộc lộ nỗi niềm mong ngóng khắc khoải mà còn bộc lộ cả nỗi đau
Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188



Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí

đớn, cùng cực, tủi hổ đến xe tâm can. Qua đó cho thấy được tấm lịng thủy chung,
son sắt của Kiều dành cho Kim Trọng.
Sau nỗi nhớ người yêu, Kiều tiếp tục nhớ tới cha mẹ - người thân u ruột
thịt của mình:
Xót người tựa cửa hơm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ơm.
Nếu như khi diễn tả nỗi nhớ chàng Kim của Kiều, Nguyễn Du dùng động từ
"tưởng" thì khi diễn tả tấm lòng hiếu lễ với cha mẹ của Kiều, tác giả lại sử dụng
tính từ “xót”. Xót nghĩa là thương, thương đến mức xót xa trong lịng. Khơng xót
xa sao được khi một đứa con hiếu thảo như Kiều lại cứ nghĩ đến hình ảnh cha mẹ
đang tựa cửa ngóng chờ con trở về, cịn con thì vẫn bóng chim tăm cá, khơng thấy
đâu. Nàng cịn lo lắng cho cha mẹ khi mà đã tuổi cao sức yếu khơng biết có ai
chăm sóc cho khơng, hai em có làm tốt nghĩa vụ và trách nhiệm của phận làm con
hay không. Cụm từ “cách mấy nắng mưa” có tính chất gợi tả thời gian, cho thấy sự
xa cách của biết bao ngày mưa nắng nhưng cũng đồng thời gợi đến khoảng cách về
khơng gian địa lí, sự xa xơi cách trở giữa nàng với cha mẹ biết bao giờ được gặp
lại để làm trịn bổn phận làm con. Qua tâm trạng xót xa, buồn tủi và lo lắng khi
nhớ về cha mẹ, gia đình của Kiều, chúng ta thấy được tấm lịng thảo thơm, hiếu
nghĩa của Kiều dành cho cha mẹ rất là lớn lao, cao cả và thiêng liêng.
Đoạn thơ khép lại với tám câu thơ cuối thể hiện tâm trạng đau buồn, lo âu
của Kiều qua cách nhìn cảnh vật.
Buồn trơng cửa bể chiều hơm
Thuyền ai thấp thống cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa
Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188



Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí

Hoa trơi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Buồn trơng gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
Điệp ngữ “buồn trơng” được lặp đi lặp lại bốn lần. Đây là điệp ngữ liên hoàn
và đồng thời cũng là điệp khúc của tâm trạng. Kiều buồn nên Kiều mới trông cảnh
vật, khác với đoạn trước, Kiều trơng mới thấy buồn. Ở đây, vì buồn nên trơng, mà
càng trơng thì Kiều lại càng buồn. Nỗi buồn cứ thế điệp đi điệp lại dâng lên thành
lớp lớp sóng trào, cứ cuộn xốy trong tâm khảm của Kiều mà trở thành gánh nặng
tâm tư.
Buồn trông cửa bể chiều hơm
Thuyền ai thấp thống cánh buồm xa xa?
Buồn trơng ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Chiều hơm là khoảng thời gian của buổi chiều hồng hôn, khi mà mặt trời đã
dần dần ngả về tây, bóng tối bắt đầu xâm lấn. Xa xa là hình ảnh của một chiếc
thuyền nhỏ bé, cơ đơn thốt ẩn, thoát hiện thấp thoáng trên cửa biển; một cánh hoa
đang trơi bất định trên dịng nước mà khơng biết đi về đâu. Hình ảnh chiếc thuyền,
cánh hoa được đặt trong thế tương phản đối lập với vũ trụ không cùng của trời đất
mênh mang càng tô đậm hơn sự nhỏ bé, đơn độc, đáng thương và tội nghiệp. Đây
là hình ảnh ẩn dụ cho thân phận của Kiều lênh đênh, chìm nổi giữa dịng đời mà
khơng biết trơi dạt về đâu. Và đứng trước một không gian bao la của trời đất, của
buổi chiều hồng hơn sắp tắt, nỗi nhớ nhà, nhớ người thân đến như một lẽ tất yếu
trong lịng Kiều. Nhưng trong tình cảnh “bên trời góc bể bơ vơ” thì Kiều biết bao
giờ mới được sum họp, đồn viên cùng với gia đình, người u. Vì thế câu hỏi tu

Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188


Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí

từ cứ réo rắt, khắc khoải trong lòng của Kiều, dấy lên niềm khao khát được trở về
nhà, trở về quê hương nơi chôn rau cắt rốn của mình.
Buồn trơng nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Ngước mắt trơng về phía xa của cửa biển Kiều chỉ càng cảm thấy rộng
trống, cơ đơn, buồn tủi. Kiều quay trở về nhìn xuống mặt đất quanh mình để tìm
kiếm sự sống của cảnh vật xung quanh thì lại chỉ thấy những đám cỏ xanh héo úa,
lụi tàn. Hình ảnh “nội cỏ rầu rầu” là một hình ảnh nhân hóa, biểu hiện tâm trạng
của con người. Lịng người buồn nên nhìn đâu cũng thấy buồn; nỗi buồn của Kiều
như thấm vào cảnh vật khiến cho cảnh vật cũng nhuốm màu tâm trạng. Trong văn
học từ xưa tới nay, màu sắc xanh thường khiến chúng ta nghĩ tới màu của sự sống,
của sự sinh sôi bất diệt. Nhưng cũng có trường hợp, màu xanh có khi trở thành
màu sắc của bi kịch con người. Bài thơ “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn đã
diễn tả nỗi nhớ của người chinh phụ đối với người chồng của mình nơi biên ải qua
màu xanh ngắt của cỏ lá:
“Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”
Như vậy, màu xanh ngắt, xanh xanh của cỏ lá đã trở thành màu của sự xa
cách, sự li biệt và nhạt nhòa. Nay từ “xanh xanh” lại xuất hiện trong câu thơ của
Nguyễn Du nên màu sắc ấy biểu trưng cho sự nhạt nhòa, sự chán nản, vô vọng của
Kiều trước một khung cảnh thiếu vắng sự sống, cơ đơn, và tẻ nhạt.
Buồn trơng gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.


Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188


Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí

Nếu như những bức tranh thiên nhiên bên trên đều được tái hiện trong trạng
thái tĩnh thì khép lại bài thơ, bức tranh thiên nhiên được miêu tả trong trạng thái
động. Đó là âm thanh dữ dội của gió, của sóng; gió làm cho mặt biển tung lên
những con sóng ồ ạt đập vào bờ mà phát ra tiếng kêu. Nhưng quan trọng, tiếng
sóng ấy khơng đơn thuần là những con sóng thực ở ngồi biển khơi mà đó cịn là
con sóng lịng của tâm trạng. Điệp khúc “buồn trơng” ở những câu thơ trên kết
đọng, tích tụ rồi dồn đẩy xuống câu thơ cuối khiến cho nỗi buồn ngày càng trở nên
chồng chất như lớp lớp sóng trào. Đồng thời, tiếng sóng “ầm ầm” dữ dội ấy cũng
chính hình ảnh ẩn dụ cho cuộc đời phong ba bão táp đã và đang đổ ập xuống đời
Kiều, đổ ập xuống đôi vai gầy yếu của một cô gái trẻ đáng thương và tội nghiệp.
Vì thế lúc này Kiều khơng chỉ buồn mà cịn lo lắng, sợ hãi như đang rơi vào vực
thẳm một cách bất lực.
Tóm lại: Tám câu thơ cuối, Nguyễn Du đã sử dụng thật tài tình bút pháp “tả
cảnh ngụ tình” của văn học cổ điển để diễn tả tâm trạng “tình trong cảnh ấy, cảnh
trong tình này” của Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích. Mỗi câu thơ là một
bức tranh thực cảnh cũng chính là thực tình của một con người mang trong mình
nỗi buồn đau chồng chất. Đó là nỗi đau đớn, xót xa, lo lắng và khắc khoải của một
kiếp má đào, trôi nổi, vô định, mong manh và bế tắc khơng biết đi về nơi đâu. Vì
thế, dù nàng “Thơng minh vốn sẵn tính trời” nhưng đang đứng trước sự tuyệt vọng,
yếu đuối của bản thân, Kiều đã bị Sở Khanh lừa gạt để rồi dấn thân vào một cuộc
đời đầy sóng gió, truân chuyên “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”.
Qua việc phân tích ở trên, chúng ta thấy đoạn trích "Kiều ở lầu Ngưng Bích"
là một trong những đoạn thơ hay, đặc sắc và thành công nhất trong Truyện Kiều về
nghệ thuật miêu tả, khắc họa thế giới nội tâm nhân vật và nghệ thuật "tả cảnh ngụ

tình". Qua đoạn thơ chúng ta thấy được tâm trạng, cảnh ngộ cô đơn, đáng thương,

Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188


Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí

tội nghiệp và tấm lịng thủy chung son sắt với người yêu, hiếu thảo với cha mẹ của
nàng Kiều, một con người tài hoa mà bạc mệnh!.
2. Bài mẫu 2: Phân tích nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật trong Kiều
ở lầu Ngưng Bích
Tuyệt tác “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du thành công trước hết ở
những đoạn thơ tả cảnh tả tình tuyệt bút, đó là những đoạn thơ “tả cảnh ngụ tình”.
Trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, Nguyễn Du đã có tám câu thơ cuối rất tài
hoa trong nghệ thuật tả cảnh ngụ tình. Mỗi cảnh vật như nói với ta một nỗi buồn
khác nhau và nỗi buồn đó ngày càng mãnh liệt hơn, ghê gớm hơn:
“Buồn trông của bể chiều hơm
Thuyền ai thấp thống cánh buồm xa xa?
Buồn trơng ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Buồn trơng gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”
Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình là mượn cảnh vật để gửi gắm (ngụ) tâm trạng.
Cảnh được miêu tả không đơn thuần là bức tranh thiên nhiên mà còn là bức tranh
tâm trạng. Cảnh là phương tiện miêu tả cịn tình là đích của sự miêu tả. Đoạn trích
Kiều ở lầu Ngưng Bích là một trong những đoạn trích tiêu biểu cho nghệ thuật ấy,
nhất là sự vận dụng thành công trong tám câu thơ cuối đoạn Trong sáu câu thơ đầu,
khung cảnh thiên nhiên trước lầu Ngưng Bích với khơng gian, thời gian được nhìn

qua con mắt của nhân vật, bộc lộ hoàn cảnh tâm trạng cơ đơn, tội nghiệp của Th
Kiều:
“Trước lầu Ngưng Bích khố xuân
Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188


Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí

Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lịng”…
Lầu Ngưng Bích nơi Kiều bị giam lỏng được gọi là nơi khố xn. Đó có
nghĩa là nơi khố giữ tuổi trẻ, ước mơ và hồi bão của đời thiếu nữ. Không gian
nơi ấy mênh mông, chống chếnh làm sao: non xa, trăng gần, bốn bề bát ngát xa
trông, ... vẻ xa xôi, mênh mông của thiên nhiên càng tơ đậm tình cảnh cơ đơn, trơ
trọi của Kiều. “Mây sớm đèn khuya” chỉ một mình nàng “bẽ bàng” vào ra hơm
sớm. Hình ảnh trăng, mảỳ sớm đèn khuya biểu đạt sự quay vòng của thời gian.
Cùng với những hình ảnh gợi tả khơng gian, sự tuần hồn đều đặn của thời gian
càng nhấn đậm thêm tình cảnh cô đơn, buồn bã của Kiều. Đúng là nửa tình nửa
cảnh như chia tấm lịng.
Bơ vơ nơi chân trời góc bể ấy, tấm lịng Kiều hướng cả về q hương xứ sở
cùng những người thân yêu nhất của mình.
“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luống những rày trông mai chờ
Chân trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai
Xót người tựa cửa hơm mai
Quạt nồng ấp lạnh biết ai đó giờ

Sân Lai cách mấy nắng mưa
Có khi gốc tử đã vừa người ơm”…

Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188


Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí

Trước hết, nàng nhớ tới Kim Trọng - mối tình đầu trong trẻo, say đắm của
mình. Kiều tưởng tượng ra cảnh chàng Kim cũng đang nhớ về mình, mong ngóng
mà vẫn bặt tin:
“Tưởng người dưới nguyệt chén đổng
Tin sương luống những rày trơng mai chờ”…
Nghĩ đến đó, tâm trạng Kiều đau đớn, xót xa, tủi phận:
“Bên trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”…
Nàng nhớ đến cha mẹ, thương cha mẹ ngày ngày tựa cửa ngóng tin con “xót
người tựa cửa hơm mai”, ngậm ngùi vì tuổi già trước sự khắc nghiệt của thời gian
"Sân Lai cách mấy nắng mưa - Có khi gốc tử đã vừa người ơm”, day dứt vì mình
khơng được ở bên để báo đáp công ơn sinh thành “quạt nồng ấp lạnh biết ai đó
giờ".
Nguyễn Du để Kiều nhớ tới Kim Trọng trước là hoàn toàn phù hợp với diễn
biến tâm lí của nhân vật trong cảnh ngộ cụ thể, đảm bảo tính chân thực cho hình
tượng. Trong tình cảnh bị Mã Giám Sinh làm nhục, lại ép tiếp khách làng chơi nên
hiện trạng tâm lí Kiều là nỗi đau đớn về “tấm son gột rửa bao giờ cho phai”, là nỗi
buồn nhớ người yêu, nuối tiếc mối tình đầu đẹp đẽ. Kiều đã hi sinh thân mình vì
đạo hiếu, khi lâm vào tình cảnh đáng thương, nàng lại một lòng nhớ đến Kim
Trọng, nhớ thương cha mẹ, qn cả cảnh ngộ của mình. Trong đoạn trích này,
Kiều hiện ra với đức vị tha cao đẹp.
Càng nhớ người yêu, càng nhớ cha mẹ, Kiều càng đau xót cho số phận và

hồn cảnh buồn khổ của mình. Tâm trạng ấy của nàng tập trung vào tám câu thơ
cuối đoạn trích. Tại dó, Nguyễn Du đã cho thấy một bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc
sắc. Cảnh vật được miêu tả qua tâm trạng, tâm trạng nhuốm lên cảnh vật, cảnh vật

Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188


Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí

thể hiện tâm trạng, sắc thái của bức tranh thiên nhiên thể hiện từng trạng thái tình
cảm của Thuý Kiều.
“Buồn trông cửa bể chiểu hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa”…
Buổi chiều tà thường gợi nỗi nhớ về quê hương xứ sở. Ca dao từng có câu:
“Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”.
Huống gì cảnh chiều hơm lại đứng trước biển trời bao la. Khung cảnh rợn
ngợp ấy gọi nỗi cơ đơn khơng gì khoả lấp. Kiều thấy cả những cánh buồm "thấp
thoáng", những cánh buồm chợt ẩn, chợt hiện khơng rõ ràng phía chân trời chứng
tỏ nàng đã ngóng trông đau đáu đến nhường nào. Trong những cánh buồm đi về
nơi tổ ấm nơi xa kia, liệu có cánh buồm nào đưa Kiều về với quê mẹ của nàng?
Lại đây nữa, thêm cảnh là lại thêm buồn:
“Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trơi man mác biết là về đâu”
Nhìn cánh hoa rơi bị cuốn theo dòng nước, nàng nghĩ đến thân phận trơi dạt,
vơ định của mình, chẳng biết rồi mình sẽ đi đâu về đâu. Những động từ, tính từ
trong câu thơ tất thảy đều gợi sự dạt trơi, vơ định đến vơ tình của tạo hố: “sa”,
“man mác”. Điều đó khiến cho khơng phải bản thân cánh hoa mà trong sự "trôi"
của cánh hoa đã phảng phất nỗi buồn "man mác" tủi hờn. Nó cũng giống như
những chuỗi ngày nhạt nhẽo vơ vị Kiều phải giam mình nơi lầu xanh ô nhục và

đơn độc này:
“Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh”
"Rầu rầu" gợi dáng vẻ rũ xuống, lả đi. Nếu như "nội cỏ rầu rầu" thì cái sắc
"xanh xanh" liền chân mây mặt đất kia hẳn không phải sắc xanh của tuổi trẻ, hi
Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188


Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí

vọng và tình u. Nó là màu xanh cỏ úa héo hon rầu rĩ. Nó chẳng khác nào nỗi
lịng đang tan ra vì buồn tủi của Th Kiều.
Đáng sợ hơn, nơi lầu Ngưng Bích bơ vơ tứ bề biển cả, Kiều còn mang một
dự cảm hãi hùng về tương lai đầy sóng gió:
“Buồn trơng gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”
“Gió cuốn mặt duềnh” để báo trước một đợt giông bão của biển cả và cũng
là báo trước những giông bão của cuộc đời. Vậy là bi kịch của đời Kiều chưa dừng
lại. Con Tạo còn muốn đánh ghen đến “dập liễu vùi hoa tơi bời” mới thoả. Nghe
trong tiếng “ầm ầm” của sóng bể có tiếng bước chân của những bầy Khuyến Ưng
hung hãn và vơ nhân tính.
Từng chi tiết, hình ảnh khung cảnh thiên nhiên đều mang đậm trạng thái tình
cảm của Thuý Kiều. Mỗi cảnh là mỗi tình, song tất cả đều buồn thương, đúng là:
“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Đặc biệt, cụm từ buồn trông lặp lại bốn lần
trong tám câu thơ như những đợt sóng lịng trùng điệp, càng khiến nỗi buồn dằng
dặc, mênh mơng, kết hợp với cái nhìn từ xa đến gần, thu hẹp dần vào nội cảm con
người để đến cuối đoạn thì tâm trạng cơ đơn, sầu nhớ, cảm giác đau đớn trào lên.
Sóng gió nổi lên như sự báo về những đau khổ ê chề rồi đây sẽ xảy ra đối với Kiều,
là dự cảm cho một đoạn đời “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần.”.
Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” đã thể hiện tâm trạng cơ đơn, buồn nhớ

và đặc biệt là những biến động dữ dội trong tâm trạng Thuý Kiều khi ở nơi “góc bể
chân trời” bơ vơ, buồn tủi. Đoạn trích đã khẳng sự kì tài của Nguyễn Du trong việc
miêu tả nội tâm nhân vật bằng bút pháp “tả cảnh ngụ tình” đặc sắc.
3. Bài mẫu 3: Phân tích nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật trong Kiều
ở lầu Ngưng Bích

Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188


Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí

Tâm trạng buồn tủi của Kiều đã thể hiện rõ nét qua cảnh vật bên ngoài. Mỗi
cảnh vật là một nét riêng nhưng đều diễn tả một khía cạnh trong tâm trạng của
Kiều. Cánh buồm trên biển giữa mênh mơng trời chiều hồng hơn thật cơ độc, lẻ
loi:
Buồn trơng cửa bể chiều hơm,
Thuyền ai thấp thống cánh buồm xa xa?
Khung mở ra vào thời điểm chiều hôm, thời điểm của những lưu luyến khó
tả. “Cửa bể chiều hơm” gợi trước mắt ta hình ảnh những tia nắng leo lắt cuối ngày
phản chiếu lên mặt biển xanh thẳm rồi lan ngay ra không gian xung quanh, khiến
mọi thứ nhuốm màu sẫm tối, có cái gì da diết như đêm luyến ngày, như niềm lưu
luyến tha thiết của Kiều về ngày tháng êm đềm xưa kia.Các từ ngữ “thấp thống”,
“xa xa” gợi sự lẻ loi, đơn độc như chính niềm hi vọng mỏng manh, leo lét của
Kiều. Một mình bơ vơ ở nơi đó, Kiều chỉ mịn mỏi nhớ về quê hương, nhớ về cha
mẹ, chờ mong một con thuyền đến cứu, thế nhưng những chiếc thuyền ấy chỉ thấp
thống ở xa rồi mất hút về phía chân trời. “Thuyền ai” lênh đênh rồi mất hút về
phía chân trời xa như cuộc đời Kiều, chẳng biết đến bao giờ có thể về được quê
nhà, báo hiếu cho cha mẹ.Ánh nhìn của Kiều vẫn ở mặt nước nhưng đã gần hơn:
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Cánh hoa mỏng manh, dập dìu trong dịng nước, bé nhỏ, chẳng thể nào
chống chọi được sức của “ngọn nước mới sa” như chính thân phận nàng Kiều nhỏ
bé trong dòng đời đẩy đưa. Thân phận Kiều giờ đây lạc lõng, lẻ loi, tả tơi trơi theo
dịng đời vơ định “biết là về đâu” như chính bơng hoa kia. Nhìn cánh hoa bị vùi
dập tả tơi ấy, nàng Kiều lại càng nhớ thương Kim Trọng, càng buồn tủi, xót xa vì
số phận bèo dạt mây trơi, chẳng biết sẽ đi về nơi nao của mình. Khơng chỉ có mặt
nước mênh mang chất chứa bao nỗi buồn mà cả cỏ cây cũng sầu thảm:
Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188


Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí

Buồn trơng nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Ngược với cái tên xanh biếc hi vọng của “Ngưng Bích” sắc xanh nối tiếp
của trời đất qua đôi mắt buồn tủi của Kiều trở nên thật sầu thảm. Từ láy “rầu rầu”
gợi nên hình ảnh của một bãi cỏ tàn úa, xơ xác đến thảm thương. Xanh trời nối tiếp
xanh đất tàn úa, héo hon, vơ vị, tẻ nhạt như chính số phận bị giam lỏng trên lầu cao
của Kiều. Tuổi thanh xuân tươi đẹp của Kiều, tài sắc vẹn toàn của nàng rồi sẽ phai
tàn, vô vị như màu xanh héo úa kia. Màu xanh vốn là màu của hi vọng nay đã tàn
úa như chính niềm hi vọng đang cạn dần và nỗi xót xa, dằn vặt ngày càng dâng cao
trong lịng Kiều. Quang cảnh đang im lặng, bỗng dậy sóng:
Buồn trơng gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
Âm thanh của tiếng sóng “ầm ầm” trong cảnh “gió cuốn mặt duềnh” như
chính là những bão tố phong ba đang chờ Kiều ở phía trước. Nàng lo lắng khơng
biết khi nào tai họa sẽ ập đến như tiếng sóng dồn dập ngồi xa. Tiếng sóng ầm ì
như chính tiếng của tai họa sắp ập tới, những cạm bẫy của cuộc đời ập đến “kêu
quanh ghế ngồi” khiến cho nàng Kiều sợ hãi.
Điệp ngữ “buồn trông” đặt ở bốn đầu câu lục bát trong đoạn thơ như tiếng

thở dài cùng với nhịp thơ chầm chậm và những thanh bằng đã nhấn mạnh nỗi buồn
cứ càng lú càng dâg lên mãi trong lòng Kiều cùng hòa với cảnh vật càng lúc càng
mênh mang, vắng vẻ hơn. Những từ láy “xa xa”, “thấp thoáng”, “man mác”, “rầu
rầu”, “xanh xanh”, “ầm ầm” như những con sóng dằn vặt, buồn tủi dâng tràn trong
lịng Kiều.
Đoạn thơ “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là đoạn thơ tả cảnh ngụ tình hay nhất
trong Truyện Kiều cũng như văn học trung đại Việt Nam. Đoạn thơ giúp ta hiểu
thêm về Kiều, mơt người tình chung thủy, một đứa con hiếu thảo và lòng một con
Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188


Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí

người giàu lịng vị tha, khiến ta căm hận xã hội phong kiến bất công tàn bạo đưa
đẩy con người tài hoa vào kiếp lầu xanh tủi hổ.
---------------------------

Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188



×