Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí
Văn mẫu lớp 9: Phân tích cái hay của điệp ngữ
Buồn trông trong Kiều ở lầu Ngưng Bích
1. Đánh giá hiệu quả nghệ thuật của điệp ngữ Buồn trông
- Trong tám câu thơ cuối bài Kiều ở lầu Ngưng Bích, tác giả sử dụng bốn lần
điệp ngữ "buồn trơng" ở những hồn cảnh khác nhau nhằm biểu đạt cảm xúc, tâm
trạng của nhân vật Thuý Kiều.
+ Buồn trơng cửa bể chiều hơm/ Thuyền ai thấp thống cánh buồm xa xa?
+ Buồn trông ngọn nước mới sa / Hoa trôi man mác biết là về đâu?
+ Buồn trông nội cỏ rầu rầu/ Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
+ Buồn trơng gió cuốn mặt duềnh / Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
- "Buồn trơng" nghĩa là buồn nhìn xa, trơng ngóng một cái gì đó mơ hồ, vô
vọng.
- Điệp ngữ này được kết hợp với những hình ảnh đứng sau nó như: cửa bể,
con thuyền, cánh buồm, ngọn nước, hoa trôi, cỏ nội, chân mây mặt đất, gió,
sóng,… vừa gợi thân phận cơ đơn, lênh đênh, trơi dạt trên dịng đời vơ định, vừa
diễn tả nỗi buồn ngày càng tăng tiến, chồng chất ghê gớm, mãnh liệt hơn.
+ Các điệp ngữ còn kết hợp với các từ láy: thấp thoáng, xa xa, man mác, rầu
rầu, xanh xanh, ầm ầm tạo nên nhịp điệu ào ạt của cơn sóng lịng, khi trầm buồn,
khi dữ dội, xơ nỗi buồn đến tuyệt vọng.
=> Phép điệp tu từ lặp lại một yếu tố diễn đạt (vần, nhịp, từ, cụm từ, câu)
nhằm nhấn mạnh, biểu đạt cảm xúc và ý nghĩa, có khả năng gợi hình tượng nghệ
thuật và tạo nhịp điệu cho câu thơ, tác động mạnh mẽ tới cảm xúc người đọc.
2. Bài phân tích cái hay của điệp ngữ Buồn trơng trong Kiều ở lầu
Ngưng Bích - Bài làm 1
Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188
Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí
Trong "Truyện Kiều" của Nguyễn Du, đoạn nói về tâm trạng của Th Kiều
ở lầu Ngưng Bích vẫn được người đọc xưa nay coi là một trong những đoạn thơ
tuyệt vời về nghệ thuật tả cảnh và tả tình. Thế nhưng cái hay của cả đoạn thơ như
ngưng đọng lại trong những câu thơ cuối cùng, ở bốn bức tranh:
"Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thống cánh buồm xa xa?
Buồn trơng ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi."
Tám câu thơ trên là cảnh nhưng thực sự là tình, Nguyễn Du tả cảnh nhưng
thực sự là tả tình.
Bốn bức tranh đều được nhà thơ khởi đầu bằng hai tiếng "buồn trông" nghĩa
là nỗi buồn đã sẵn tự trong lịng trước khi nhìn vào cảnh và ngắm cảnh cùng với
nỗi buồn ấy, vừa ngấm vừa buồn, càng ngắm càng buồn, càng buồn càng ngắm.
Nói như thế thật là hợp lí, thật đúng với tâm trạng Thuý Kiều lúc này. Vì sao vậy?
Vì nỗi buồn của Kiều là nỗi buồn lớn, khơng phải là nỗi buồn thống qua vì một
dun cớ chốc lát, mà là nỗi buồn đeo đẳng suốt cả đời người. Quả thật, trong suốt
phần đầu của "Truyện Kìều" chưa bao giờ Kiều buồn như lúc này, bởi chưa bao
giờ Kiều kịp có lúc để nhìn vào chuyện buồn của mình, ngẫm cho kĩ, thấm cho sâu
về chuyện buồn ấy. Xa Kim Trọng, phải bán mình chuộc cha, Kiều chỉ kịp đau
đớn, nhưng gia biến nặng nề, nỗi đau của cha, nỗi đau của mẹ, nỗi buồn của các
em, những điều ấy đòi hỏi Kiều phải vững, tạm quên mình đi để giải quyết việc
nhà cho trọn đạo một người con, một người chị, phải rời gia đình, cùng Mã Giám
Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188
Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí
Sinh ra đi, trọng nỗi buồn vì khơng vẹn tình với Kim Trọng, Kiều có niềm an ủi đã
cứu được gia đình. Vừa đến Lâm Tri, bước vào nhà mụ Tú Bà, chưa kịp hồi sức
sau một chặng đường dài "Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh", Kiều đã hoảng
hốt vì quang cảnh nhà mụ, Kiều đã gặp ngay một trận "tam bành" của con mụ bn
thịt người ác độc ấy. Có lẽ Kiều đã đau, đã nhục, đã căm hờn, nhưng chưa kịp
buồn.
Bây giờ mới thực sự buồn. Ta hình dung Kiều ngồi một mình trên lầu
Ngưng Bích (thực chất là lầu rước khách của mụ Tú), bốn bề là mênh mông vắng
lặng. Cảnh ấy dội vào lòng Kiều, xui nàng nghĩ về thân phận của mình. Nỗi buồn
mỗi lúc một thấm thía.
Nàng buồn vì nhớ tới Kim Trọng, người mới cùng nàng thề bồi tha thiết mà
nay thì vĩnh viễn cách xa. Nàng buồn vì nỗi xa cha mẹ, từ nay mỗi ngày một già
yếu mà khơng có nàng để hơm sớm đỡ đần chăm sóc. Nỗi buồn thật là vời vợi
mênh mơng, giờ đã đọng thành khối trong lòng Kiều. Nếu ban đầu nỗi buồn cịn từ
cảnh một dội vào lịng thì lúc này nỗi buồn lại chính từ lịng buồn. Với hai tiếng
"buồn trơng" Nguyễn Du sao mà hiểu lịng người sâu sắc quá vậy!
Đây là bức tranh thứ nhất:
"Buồn trông cửa bể chiều hơm,
Thuyền ai thấp thống cánh buồm xa xa?"
Trơng về "cửa bể" mà lại "cửa bể chiều hôm". Lúc ấy mặt trời sắp tắt, chỉ
còn để lại những ánh sáng thoi thóp cuối cùng trên mặt nước. Nhìn về cửa bể tức là
cịn nhìn thấy cả một dải bể đang mất hút đi ở cuối chân trời. Phía ấy khơng có gì
cả ngồi một trống vắng mênh mơng, một bầu trời đang dần tối. Thế mà trên cái
nền trống vắng lại nổi lên hình ảnh "thuyền ai". "Thuyền ai" tức là chỉ có một chiếc
thuyền, chứ khơng phải cảnh đồn thuyền đơng đúc tấp nập từ biển trở về để gợi
lên một điều vui vẻ. Con thuyền gần như mất hút cuối chân trời, vì Kiều chỉ nhìn
Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188
Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí
thấy cánh buồm của nó, mà cánh buồm thì lại cũng chỉ "thấp thống". "Thấp
thống", hai âm "th" gợi một cảm giác lặp lại, với hai âm "áp" và "oáng" một âm
tắc, một âm vang – diễn tả hình ảnh cánh buồm mờ mờ tỏ tỏ, chợt hiện rồi chợt ẩn,
nhấp nhơ trên sóng biển, như mơ hồ, như ảo ảnh ở cuối biển xa xa. "Thuyền ai ..."
thuyền ai đó, thuyền ai thế nhỉ? Thuyền đang đi về nơi quê nhà thân yêu của ta
chăng? Hay thuyền đang đi về nơi vô định, cũng cô đơn, cũng lưu lạc giang hồ như
chính ta? Tâm sự này đã buồn, trơng vào cảnh ấy, sao có thể khơng thấm thía nỗi
buồn hơn.
Như để tìm một chút lãng qn, Kiều ngoảnh mặt nhìn sang hướng khác. Thì
đây:
"Buồn trơng ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?"
Trước mắt Kiều là một ngọn nước từ trên thác cao đang đổ xuống. Mới từ
lịng suối chảy trơi khỏi đầu ngọn thác, ôi thôi, thế là tan tác đời trong trẻo với êm
đềm của nước. Bây giờ là lúc bắt đầu của dập vùi, cuốn xốy, sơi trào, xơ đập,
ngầu đục cát bùn. Kinh hãi thay cái phút từ trên mỏm đá cao sa xuống thác! Cảnh
ngọn nước đã buồn, mà nhìn đến chân ngọn nước thì: hoa trơi man mác ... Giá nhà
thơ viết "tan tác" thì cũng đành đi một nhẽ, cho nó tan vỡ đi, chìm lấp đi, những
cánh hoa mỏng manh kia! Nhưng không, hoa rụng xuống dịng nước và bập bềnh
trơi đi, bị đưa qua đẩy lại, rồi lại trôi đi, lặng lẽ, buồn bã, để đến một nơi nào khơng
làm sao có thể biết được. Ngọn nước mới sa ấy, cánh hoa trôi ấy, có khác chi cuộc
đời Kiều! Chính Kiều cũng là một ngọn nước vừa mới đi qua lòng suối êm đềm và
vừa mới sa xuống giữa ngọn xốy dập vùi. Chính Kiều cũng là đố hoa đang man
mác trơi đi, đơn độc và mỏng manh trên một dòng nước vừa dài vừa rộng với bao
nhiêu đe doạ chưa thể nào hình dung ra hết.
Lịng đã buồn, cảnh lại buồn q. Thơi, hãy đưa mắt trông đi nơi khác.
Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188
Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí
"Buồn trơng nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh."
Lại một cảnh mênh mông hoang vắng: một đồng cỏ phẳng lặng kéo mãi đến
cuối tầm nhìn, khơng một bóng cây, khơng một dịng sơng, khơng một gị núi,
khơng một mái nhà để phá vỡ bớt cái đơn điệu chán nản ấy đi. Chỉ có cỏ, cỏ và cỏ.
Mà cỏ thì cũng có tươi tốt gì đâu! Từ "rầu rầu" khơng chỉ gợi lên ý rầu rầu, buồn
bã, mà cịn cho ta hình dung thấy những ngọn cỏ lưa thưa ủ ê như đang dần héo hắt
đi, đang mất dần sức sống. Đây không phải là đồng cỏ xuân đầy sức sống và niềm
vui khi Kiều đi dự hội thanh minh:
"Cỏ non xanh rợn chân trời ... "
Đây là đồng cỏ cuối mùa, cũng đang buồn bã như chính lịng người ngấm
cảnh. Thế mà cái đồng cỏ ấy, cái màu cỏ ủ ê ấy lại kéo dài ra vô tận, tiếp cả với
nền trời, thành một màu duy nhất: "xanh xanh". Nếu Nguyễn Du viết:
"Chân mây mặt đất một màu xanh xanh"
Thì hẳn nàng Kiều đã tìm được ở đó một niềm an ủi, đơi chút lãng quên.
Nhưng "xanh xanh" thì chưa hẳn là xanh, chỉ có vẻ xanh thơi, một màu xanh nhợt
nhạt, xa xơi, làm gợi lên một niềm ngao ngán. Và có lẽ cái màu "xanh xanh" ấy là
cái màu của tâm trạng được nhìn từ đơi mắt đẫm ướt khổ đau.
Thế là Thuý Kiều đã ngoảnh nhìn hết ba hướng. Nàng chỉ cịn một hướng
cuối cùng. May ra có chút đổi thay chăng?
"Buồn trơng gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi"
Hóa ra cái buồn của ba cảnh trước tuy buồn mà chưa thực là buồn. Ba cảnh
trên buồn đến thế còn là nhẹ quá. Cảnh này mới thực là buồn. Ba bức tranh trên chỉ
là những bước chuẩn bị cho cảnh buồn cuối cùng này. Một vũng biển ăn sâu vào
đất liền, ngoài kia là biển lớn. Gió biển hun hút chạy vào duềnh, gió cuốn ào ào
Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188
Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí
khiến mặt biển nổi đầy sóng lớn, trắng xố một màu. Sóng vỗ "ầm ầm" chứ khơng
phải "ầm" như những ngày ít gió; sóng gào thét cuồng nộ, đập vào bờ, xơ đập
nhau, lớp sóng này chưa tan đã ào lên lớp sóng khác, liên tục, bất tận. Tiếng sóng
lớn lắm, khơng chỉ vang ầm trên biển mà vang đi rất xa, vang khắp bốn bể. Kiều
tưởng như mình khơng cịn ngồi trên lầu Ngưng Bích nữa, mà ngồi đâu chính giữa
duềnh biển mênh mơng ấy, bốn bên nàng là sóng vỗ. Mấy từ "Ầm ầm tiếng sóng"
nghe đã dữ dội bên tai nàng, dâng lên gào thét trong tâm hồn nàng, vây bủa lấy
nàng.
Nếu trong ba bức tranh trên, giữa người và ngoại cảnh còn là hai đối tượng
phân biệt, đâu là chủ, đâu là khách, thì đến bức tranh này, con người đã nhập vào
ngoại cảnh; ngoại cảnh trùm phủ lấy con người, nỗi buồn thực đã đi đến mức cùng
tột của cao trào. Lúc này, con người sẵn sàng tan đi cùng với ngoại cảnh, sẵn sàng
làm bất cứ việc liều lĩnh nào để hoặc thốt khỏi nỗi buồn ghê gớm ấy, hoặc có thể
chết đi cũng khơng cần. Chính tâm trạng này đã dọn đường cho việc Kiều gặp Sở
Khanh, liều lĩnh theo y rồi bị lừa gạt.
Bốn bức tranh của Nguyễn Du thật ra thì khơng lạ lùng. Nhưng thật là lạ
lùng cách của Nguyễn Du diễn tả những bức tranh ấy trong sự hoa hợp với hoàn
cảnh và tâm trạng của Thuý Kiều. Bởi Nguyễn Du rất tinh tế khi nhìn cảnh, rất sâu
sắc về tình người, nhưng cịn bởi điều này nữa: Nguyễn Du rất tài tình trong ngơn
ngữ.
3. Bài phân tích cái hay của điệp ngữ Buồn trơng trong Kiều ở lầu
Ngưng Bích - Bài làm 2
Truyện Kiều là một trong những tác phẩm lớn và xuất sắc nhất của Nguyễn
Du. Để viết nên tuyệt tác này ông đã sử dụng rất thành công các phép tu từ, đặc
biệt là bút pháp tả cảnh ngụ tình.
Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188
Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí
Tám câu thơ cuối trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích có lẽ là tám câu
thơ tả cảnh ngụ tình hay nhất trong tác phẩm, qua đó đã diễn tả sinh động tâm
trạng Thuý Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, để lại ấn tượng không thể nào
quên cho người đọc:
Buồn trông cửa bể chiều hơm,
Thuyền ai thấp thống cánh buồm xa xa?
Buồn trơng ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chăn mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trơng gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
Khung cảnh thiên nhiên của cửa biển trước lầu Ngưng Bích như hiện lên
trước mắt ta: một nỗi buồn chiều hồng hơn đẹp nhưng buồn và quạnh hiu. Đó là
những con thuyền với những cánh buồm trắng nhấp nhơ, con sóng bạc dập dềnh
cuốn trơi từng cánh hoa, lác đác rơi trong ánh nắng cuối chiều, trảng cỏ xanh ươm
nối liền đường chân trời xanh vô tận. Cùng với âm thanh dữ dội của biển khơi như
một nét chấm phá cho cảnh vặt, bức tranh thiên nhiên chứa dựng trong nó biết bao
nỗi niềm chất chứa của con người...
Qua những ngơn từ và hình ảnh miêu tả cảnh vật, băng cách sử dụng khéo
léo và tinh tế bút pháp tả cành ngụ tình, Nguyễn Du đã cho ta hiểu và cảm thương
với tâm trạng nàng Kiều.
Điệp ngữ "buồn trơng" được sử dụng xun suốt đoạn trích tạo thành điệp
khúc cho đoạn thơ và cũng tạo nên điệp khúc tâm trạng Thuý Kiều. Nỗi buồn trong
Kiều như trào dâng như lớp sóng ồ ạt dồn về phía đại dương mênh mơng. Nỗi niềm
đó cứ triền miên, cứ dai dẳng, đeo bám, tạo thành cái vòng luẩn quẩn khỏng lối
Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188
Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí
thốt, con người ta có muốn vùng thốt ra mà cũng khơng thể nào được. Mỗi cảnh
vật như đều nói lên nỗi niềm tâm sự ấy.
Buồn trơng cửa bể chiều hơm,
Thuyền ai thấp thống cánh buồm xa xa?
Con thuyền không bến đậu, không nơi chốn quay về gợi nhớ nỗi nhớ, nỗi cô
đơn của người đi xa, muốn trở về bên gia đình êm ấm, bên bạn bè thân thương,
điều này vô cùng phù hợp với cảnh ngộ của Kiều.
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Cuộc đời Kiều bây giờ như cánh hoa mỏng manh trước sóng to gió lớn, chỉ
biết mặc cho bão bùng, mưa giông vùi dập. Câu thơ bộc lộ nỗi lo lắng, xót xa,
buồn tủi về cảnh ngộ lênh đênh chìm nổi trước sóng gió cuộc đời.
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Thảm cỏ, biển cả với màu xanh vô vọng thật buồn và ảm đạm. Liệu có phải
cánh cửa tương lai đang khép lại trước mắt Kiều, hố đen tuyệt vọng của số phận
như lấp hết cả ước mơ và khát khao.
Buồn trơng gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
Ngồi kia, biển xanh đang cuộn sóng. Những âm thanh gợi sự việc kinh
khủng, hãi hùng, như dự báo tai biến, nguy nan như chực đổ xuống thân phận bé
nhỏ của Kiều. Lần lượt từng câu hỏi tu từ vang lên như muốn xoáy sáu vào tâm
can người đọc. Ta như hiểu, cảm thơng, thương xót cho những lo lắng rối bời cùng
nỗi hoảng sợ tuyệt vọng của Kiều trước tương lai vơ định.
Có thể nói, đây là tám câu thơ tả cảnh ngụ tình hay nhất xuyên suốt tác
phẩm. Qua bức tranh thiên nhiên, ta xót xa, thương cảm cho số phận người con gái
Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188
Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí
tài hoa bạc mệnh, qua đó cũng bày tỏ niềm đồng cảm, trân trọng của Nguyễn Du
đối với số phận người phụ nữ dưới chế độ phong kiến xưa.
-----------------
Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188