Tải bản đầy đủ (.pdf) (11 trang)

phan tich 8 cau tho cuoi cua bai kieu o lau ngung bich cua tac gia nguyen du

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (371.66 KB, 11 trang )

Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí

Viết đoạn văn phân tích 8 câu thơ cuối của bài "Kiều ở lầu Ngưng Bích" của
tác giả Nguyễn Du - Ngữ văn 9
Đề bài: Viết đoạn văn phân tích 8 câu thơ cuối của bài "Kiều ở lầu Ngưng
Bích" của tác giả Nguyễn Du
Dàn ý phân tích tám câu thơ cuối đoạn trích
I. Mở bài
- Giới thiệu tác giả và đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”.
- Giới thiệu đoạn thơ cuối (8 câu cuối).
II. Thân bài
- Cặp lục bát 1: Phân tích hình ảnh “cửa bể chiều hôm”, “cánh buồm xa xa” gợi tả
nỗi buồn của Kiều khi nghĩ về cha mẹ - những người sinh thành ra mình, nàng cảm
thấy xót xa.
- Cặp lục bát 2: Phân tính hình ảnh “ngọn nước mới sa”, “hoa trôi man mác” gợi tả
nỗi mông lung lo lắng của Kiều không biết cuộc đời sẽ trôi đi đâu về đâu. Tâm trạng
của Thúy kiều lại trở về với thực tại của đời mình, trở về với nỗi đau hiện thực.
- Cặp lục bát : Phân tích hình ảnh “nội c rầu rầu”, “chân mây mặt đất” gợi tả sự
vô đ nh của Kiều. T láy “rầu rầu” gợi cho ta sự tàn úa đến thảm thương, màu xanh
tàn úa, h o hắt.
- Cặp lục bát 4: Phân tích hình ảnh “gió cuốn mặt duềnh”, “tiếng sóng kêu quanh
ghế ngồi” gợi sự sợ hãi, hoảng hốt của Kiều. Sự lênh đênh trên chặng đường đời
nhiều sóng gió trước mặt Kiều, cũng là những phong ba, gập ghềnh mà Kiều sẽ phải
đi qua.
=> Điệp t “buồn trông” được nhắc đi nhắc lại trong khổ thơ. Nó như tâm trạng của
Kiều lúc này, đúng là “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.
* Tổng kết nghệ thuật:
- Điệp cấu trúc với điệp ngữ “buồn trơng”.
- Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình.
- Hình ảnh có sự tăng tiến gợi tả sự tăng tiến của cảm xúc.
Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188




Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí

III. Kết bài
- Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một bức tranh được vẽ lên với những màu
sắc xám lạnh, gợi tả tâm trạng vô cùng sống động, nhưng nó cũng nhiều thê lương
ai ốn.
- Phân tích bút pháp nghệ thuật “tả cảnh ngụ tình” của Nguyễn Du. Cảnh và người
trong đoạn trích như hịa vào làm một.
Phân tích 8 câu thơ cuối Kiều ở lầu Ngưng Bích mẫu 1
Nhắc tới truyện thơ Nơm bác học, ngoài những tác phẩm nổi tiếng của một thời
vang bóng ở thế kỉ XVIII - XIX như: Nh độ mai, Sơ kính tân trang, Lục Vân Tiên...
thì chúng ta không thể không nhắc tới "Truyện Kiều" của Nguyễn Du. Có thể nói,
với tác phẩm "Truyện Kiều", Nguyễn Du đã đưa thể loại truyện thơ Nôm bác học
lên một tầm cao mới, đạt tới trình độ mẫu mực, bậc thầy về nghệ thuật, góp phần
hồn thiện và làm giàu đẹp, phong phú hơn ngôn ngữ của dân tộc. Và đoạn trích
"Kiều ở lầu Ngưng Bích" chính là một mình chứng tiêu biểu cho bút pháp "tả cảnh
ngụ tình" độc đáo của nhà thơ. Đây cũng là đoạn mở đầu chuỗi cuộc đời mười lăm
năm lưu lạc truân chuyên của Kiều. Mộng Liên Đường chủ nhân trong lời đề tựa
"Truyện Kiều" đã nhận x t: "Những lời văn tả ra hình như có máu chảy ở đầu ngọn
bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi,
đau đớn như đứt ruột". Và đọc tám câu thơ cuối của đoạn trích với tâm trạng đau
buồn, lo âu của Kiều qua cách nhìn cảnh vật, những câu thơ như thấm vào hồn
người đọc, khiến trong lịng người đọc dâng lên niềm xót xa, ngậm ngùi:
Buồn trơng cửa bể chiều hơm
Thuyền ai thấp thống cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Buồn trơng gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188


Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí

Điệp ngữ “buồn trơng” được lặp đi lặp lại bốn lần. Đây là điệp ngữ liên hoàn và
đồng thời cũng là điệp khúc của tâm trạng. Kiều buồn nên mới trông cảnh vật, khác
với đoạn trước, Kiều trơng mới thấy buồn. Ở đây, vì buồn nên trơng, mà càng trơng
thì lại càng buồn. Nỗi buồn cứ thế điệp đi điệp lại dâng lên thành lớp lớp sóng trào,
cứ cuộn xoáy trong tâm khảm của Kiều mà trở thành gánh nặng tâm tư:
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thống cánh buồm xa xa?
Buồn trơng ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
“Chiều hôm” là khoảng thời gian của buổi chiều hồng hơn, khi mà mặt trời đã dần
dần ngả về tây, bóng tối bắt đầu xâm lấn. “Xa xa” là hình ảnh của một chiếc thuyền
nh b , cơ đơn thốt ẩn, thốt hiện thấp thống trên cửa biển; một cánh hoa đang
trơi bất đ nh trên dịng nước mà khơng biết đi về đâu. Hình ảnh chiếc thuyền, cánh
hoa được đặt trong thế tương phản đối lập với vũ trụ không cùng của trời đất mênh
mang càng tô đậm hơn sự nh b , đơn độc, đáng thương và tội nghiệp. Đây là hình
ảnh ẩn dụ cho thân phận của Kiều lênh đênh, chìm nổi giữa dịng đời mà khơng biết
trơi dạt về đâu. Và đứng trước một không gian bao la của trời đất, của buổi chiều
hồng hơn sắp tắt, nỗi nhớ nhà, nhớ người thân đến như một lẽ tất yếu trong lịng
Kiều. Nhưng trong tình cảnh “bốn bề góc bể bơ vơ” thì Kiều biết bao giờ mới được
sum họp, đồn viên cùng với gia đình, người u. Vì thế câu h i tu t cứ r o rắt,
khắc khoải trong lòng của Kiều, dấy lên niềm khao khát được trở về nhà, trở về quê

hương nơi chôn rau cắt rốn của mình:
Buồn trơng nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Ngước mắt trơng về phía xa của cửa biển Kiều chỉ càng cảm thấy rộng trống, cơ
đơn và buồn tủi. Kiều quay trở về nhìn xuống mặt đất quanh mình để tìm kiếm sự
sống của cảnh vật xung quanh thì lại chỉ thấy những đám c xanh h o úa, lụi tàn.
Hình ảnh “nội c rầu rầu” là một hình ảnh nhân hóa, biểu hiện tâm trạng của con
người. Lịng người buồn nên nhìn đâu cũng thấy buồn; nỗi buồn của Kiều như thấm
vào cảnh vật khiến cho cảnh vật cũng nhuốm màu tâm trạng. Trong văn học t xưa
tới nay, màu sắc xanh thường khiến chúng ta nghĩ tới màu của sự sống, của sự sinh
sơi bất diệt. Nhưng cũng có trường hợp, màu xanh có khi trở thành màu sắc của bi
Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188


Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí

k ch con người. Bài thơ “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn đã diễn tả nỗi nhớ
của người chinh phụ đối với người chồng của mình nơi biên ải qua màu xanh ngắt
của c lá:
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiết ai sầu hơn ai?
Như vậy, màu “xanh ngắt, xanh xanh” của c lá đã trở thành màu của sự xa cách, sự
ly biệt và nhạt nhòa. Nay t “xanh xanh” lại xuất hiện trong câu thơ của Nguyễn Du
nên màu sắc ấy biểu trưng cho sự nhạt nhòa, sự chán nản, vô vọng của Kiều trước
một khung cảnh thiếu vắng sự sống, cơ đơn, và tẻ nhạt:
Buồn trơng gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
Nếu như những bức tranh thiên nhiên bên trên đều được tái hiện trong trạng thái

tĩnh thì kh p lại bài thơ, bức tranh thiên nhiên được miêu tả trong trạng thái động.
Đó là âm thanh dữ dội của gió, của sóng; gió làm cho mặt biển tung lên những con
sóng ồ ạt đập vào bờ mà phát ra tiếng kêu. Nhưng quan trọng, tiếng sóng ấy khơng
đơn thuần là những con sóng thực ở ngồi biển khơi mà đó cịn là con sóng lịng của
tâm trạng. Điệp khúc “buồn trơng” ở những câu thơ trên kết đọng, tích tụ rồi dồn
đẩy xuống câu thơ cuối khiến cho nỗi buồn ngày càng trở nên chồng chất như lớp
lớp sóng trào. Đồng thời, tiếng sóng “ầm ầm” dữ dội ấy cũng chính hình ảnh ẩn dụ
cho cuộc đời phong ba bão táp đã và đang đổ ập xuống đời Kiều, đổ ập xuống đôi
vai gầy yếu của một cô gái trẻ đáng thương và tội nghiệp. Vì thế lúc này Kiều
khơng chỉ buồn mà còn lo lắng, sợ hãi như đang rơi vào vực thẳm một cách bất lực.
Tóm lại, tám câu thơ cuối, Nguyễn Du đã sử dụng thật tài tình bút pháp “tả cảnh
ngụ tình” của văn học cổ điển để diễn tả tâm trạng “tình trong cảnh ấy, cảnh trong
tình này” của Kiều khi b giam l ng ở lầu Ngưng Bích. Mỗi câu thơ là một bức
tranh thực cảnh cũng chính là thực tình của một con người mang trong mình nỗi
buồn đau chồng chất. Đó là nỗi đau đớn, xót xa, lo lắng và khắc khoải của một kiếp
má đào, trôi nổi, vô đ nh, mong manh và bế tắc khơng biết đi về nơi đâu. Vì thế, dù
nàng “Thơng minh vốn sẵn tính trời” nhưng đang đứng trước sự tuyệt vọng, yếu
Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188


Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí

đuối của bản thân, Kiều đã b Sở Khanh l a gạt để rồi dấn thân vào một cuộc đời
đầy sóng gió, truân chuyên “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”.
Phân tích 8 câu thơ cuối Kiều ở lầu Ngưng Bích mẫu 2
Nguyễn Du khơng chỉ xuất sắc trong nghệ thuật miêu tả chân dung nhân vật mà cịn
là người có biệt tài miêu tả thiên nhiên, ngụ tâm tình, tình cảm của con người. Mỗi
bức tranh dưới đôi bàn tay Nguyễn Du luôn luôn thực hiện hai chức năng chính: thể
hiện ngoại cảnh và thể hiện tâm trạng. Tám câu thơ cuối trong bài “Kiều ở lầu
Ngưng Bích” đã cho thấy rõ biệt tài này của ông.

Sau khi b l a bán vào lầu xanh, Kiều sống trong đau đớn, ê chề, với bản tính là con
người trọng nhân phẩm, Kiều đã tìm đến cái chết để giải thốt nhưng khơng thành
cơng. Thúy Kiều b Tú Bà giam l ng ở lầu Ngưng Bích, chờ đến ngày thực hiện âm
mưu mới. Những ngày ở lầu Ngưng Bích nàng sống trong đau đớn, tủi hổ, cơ đơn,
tuyệt vọng đến cùng cực.
Trong nỗi cô đơn, dường như ai cũng một lịng hướng về gia đình. Người con gái
trong ca dao, dù lấy chồng, nhưng trong những khoảnh khắc ngày tàn vẫn tha thiết
nhớ về quê mẹ:
Chiều về ra đứng ngõ sau
Trơng về q mẹ ruột đau chín chiều
Huống chi là nàng Kiều, thân phận nổi trôi, bán mình cứu gia đình, thì nỗi nhớ gia
đình lại càng da diết hơn bao giờ hết:
Buồn trông cửa bể chiều hơm
Thuyền ai thấp thống cánh buồm xa xa.
Khơng gian mênh mơng của cửa bể kết hợp với hình ảnh thuyền thấp thống phía xa
gợi lên khơng gian rợn ngợp, hoang vắng. Cánh buồm dường như trở nên nh b
hơn trong không gian rộng lớn ấy. Thân phận nàng cũng chẳng khác gì cánh buồm
kia, lênh đênh, nh nhoi giữa cuộc đời bất đ nh. Đồng thời ông cũng rất kh o l o
lựa chọn thời gian cho nỗi nhớ, ấy là “chiều hôm”. Trong văn học không gian buổi
chiều thường gợi ra nỗi buồn man mác, ở đây trong hoàn cảnh của Kiều nỗi buồn ấy
gắn với khát khao được sum họp, đoàn tụ, được trở về bên quê hương, gia đình.
Sau nỗi buồn tha hương, xa xứ, nàng nghĩ về thân phận mình mà lại càng đau lịng
hơn: “Buồn trông ngọn nước mới sa/ Hoa trôi man mác biết là về đâu?”. Hình ảnh
Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188


Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí

ẩn dụ “hoa trơi” là biểu trưng cho thân phận của nàng Kiều. Ngọn nước mới sa kia
có sức mạnh ghê gớm, là những giơng bão, sóng gió trong cuộc đời đã vùi dập cuộc

đời nàng. Những cánh hoa trôi man mác cũng như thân phận b b ng, mong manh
của nàng. Cuộc đời nàng lênh đênh theo dịng đời, khơng biết tương lai sẽ đi đâu về
đâu. Câu h i tu t “biết là về đâu” như một lời than, một lời ai oán cho số phận bất
hạnh. Qua đó càng nhấn mạnh hơn nữa thân phận chìm nổi, bèo bọt của nàng.
Trong tác phẩm của Nguyễn Du, sắc xanh đã xuất hiện nhiều lần, mỗi lần xuất hiện
đều mang ý nghĩa khác nhau. Nếu như trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”, sắc xanh
tượng trưng cho sự sống, tươi tốt mơn mởn, thì trong đoạn trích này màu xanh lại
mang một ý nghĩa khác: “Buồn trông nội c rầu rầu/ Chân mây mặt đất một màu
xanh xanh”. Nội c chỉ mang một màu tàn lụi h o úa. Sắc xanh cũng nối chân trời
mặt đất với nhau nhưng lại nhạt nhòa, đơn sắc. Tất cả những màu sắc đó hịa điệu
với nhau càng khiến cho tâm trạng Kiều trở nên ngao ngán, chán nản hơn. Kiều
nhìn ra bốn phía để tìm được sự đồng điệu, tìm sự sẻ chia. Vậy mà, khung cảnh chỉ
càng làm nàng thêm u sầu, ảo não. Quả thực “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.
Dưới con mắt tuyệt vọng của nàng, khung cảnh nào cũng chỉ thấm đầy nỗi buồn
chán, bế tắc và vơ vọng. Điều đó càng đẩy Kiều rơi vào sâu hơn hố sâu của sự sầu
muộn, tuyệt vọng.
Hai câu thơ cuối cùng có thể coi là đỉnh cao của nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, sự
hoang mang, rợn ngợp của Kiều đã được tác giả tập trung bút lực thể hiện rõ nhất
trong hai câu thơ này:
Buồn trơng gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
Cảnh cuối thiên nhiên hiện ra thật dữ dội, đó khơng chỉ cịn là ngoại cảnh mà cịn là
tâm cảnh, Kiều tưởng mình khơng cịn ngồi ở lầu Ngưng Bích mà đang ngồi giữa
biển khơi mênh mơng, xung quanh là sóng biển gào th t như muốn nhấn chìm nàng
xuống biển. Đặc biệt t láy “ầm ầm” v a diễn tả một khung cảnh khủng khiếp v a
diễn tả tâm trạng buồn lo, hoảng loạn của Thúy Kiều. Nàng đang dự cảm những
giông bão của số phận, rồi đây sẽ nổi lên và nhấn chìm cuộc đời mình.
Đoạn thơ đã vận dụng tài tình nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, mỗi cảnh là một tâm
trạng, là một nỗi đau mà Kiều phải gánh ch u. Không chỉ vậy Nguyễn Du cịn có sự
miêu tả theo trình tự hợp lý: T xa đến gần, màu sắc t nhạt nhòa đến đậm n t, khắc

Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188


Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí

họa nỗi buồn da diết của Kiều. Sử dụng hình ảnh ẩn dụ đặc sắc, lớp t láy giàu giá
tr tạo hình và biểu cảm. Tất cả những yếu tố đó góp phần tạo nên thành cơng cho
đoạn trích.
Tám câu thơ cuối là một tuyệt tác của nghệ thuật tả cảnh ngụ tình. Bằng những bức
tranh đặc sắc, Nguyễn Du đã khắc họa được những trạng thái xúc cảm, nỗi cô đơn,
lo âu, sợ hãi về tương lai đầy sóng gió của nàng Kiều. Khơng chỉ vậy, qua bức tranh
ấy, Nguyễn Du cho thể hiện niềm cảm thương sâu sắc cho số phận nàng nói riêng và
số phận người phụ nữ nói chung dưới chế độ phong kiến.
Phân tích 8 câu thơ cuối Kiều ở lầu Ngưng Bích mẫu 3
Truyện Kiều đã t mấy trăm năm qua trở thành một phần giá tr tinh thần không thể
thiếu được của dân tộc ta. Ở bất kì góc độ nào, đây luôn là một viên ngọc quý trong
kho tàng văn học dân tộc.
Để to ra được một kiệt tác như vậy, điều quan trọng nhất mà Nguyễn Du đã thể hiện
được là tấm lòng nhân đạo cao cả về tài năng bậc thầy về nghệ thuật. Một trong
những phương diện nghệ thuật thể hiện rất rõ tài năng của Nguyễn Du đó là nghệ
thuật tả cảnh ngụ tình, trong đạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” tài năng này được
thấy rõ hơn cả, nhất là ở 8 câu thơ cuối được mở ra bằng “buồn trông”.


Mở bài Kiều ở lầu Ngưng Bích



Kết bài Kiều ở lầu Ngưng Bích


Khơng ch u nghe lời Tú Bà vào chốn thanh lâu, Kiều b bắt giam l ng ở lầu Ngưng
Bích cao, xa xôi, bốn bề đẹp nhưng hoang vắng. Ngày nào nàng cũng đâu khổ nhớ
về gia đình và người yêu. Trong nỗi niềm đằng đẵng bao ngày, nàng nhìn ra phía xa
nơi cửa bể vào lúc chiều hôm và thấy thấp thống cánh buồm nơi xa. Trong khói
sóng hồng hơn gợi buồn gợi mê, ai biết con thuyền kia là thực hay là ảo, mọi thứ
mờ ảo và xa xôi đến mức chỉ có cánh buồm hiện lên. Ở đó có thể là một con thuyền
thực nhưng cũng có thể chỉ là con thuyền trong nỗi mong m i giải thoát của Kiều.
Nàng đãng ước ao, mong chờ một con thuyền t phương xa có thể tới đây, chở nàng
về với gia đình thân yêu. Nhưng rồi càng mong lại càng tủi thân, con thuyền kia chỉ
là ảo mộng, mà dù có là thực đi nữa lại khiến cho ai kia càng xót xa khi con thuyền
cập bến cịn mình vẫn cịn chơi với. Nàng nhớ nhà, rồi nàng buồn.T hình ảnh nơi
biển cả mông mênh rộng lớn gợi nỗi cô đơn, nàng trông ra đến ngọn nước mới sa,
ngọn nước đã đục ngầu vì t ng trận thác đổ xuống tung bọt lên trắng xóa.
Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188


Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí

Và ngay trên dịng nước ấy, có những cánh hoa m ng manh đang trôi trong vô đ nh,
cứ dập dềnh chực chìm chực nổi. Phải chăng, Kiều đang thấy thân phận mình giống
với đóa hoa tội nghiệp kia, cứ trên dịng đời trơi mãi trong sự vùi dập dày vị của
bao nhiêu con sóng cuộc đời. Cánh hoa ở giữa dịng ấy rỗi sẽ trơi về đâu giống như
số phận nàng hiện tại rồi sẽ đi về đâu. Câu h i tư t đã bật lên một sự lo lắng cho
một tương lai của một số phần m ng manh vơ đ nh hình. T sự lo lắng này, tâm
trạng củ Kiều lại càng tiếp tục rơi vào sự vô đ nh mông lung không biết đi đâu về
đâu.Dường như đến đây, mọi cảnh vật trước mắt Kiều đã b nhòe đi bởi một màn
nước mắt, đến nội c vô tri cũng trở nên rầu rĩ bởi tâm trạng con người khơng thể
nhìn nó bằng con mắt khác.
Khung cảnh mênh mông đến rợn ngợp giờ đây trở nên càng mênh mông hơn khi mà
t chân mây đến mặt đất như khơng cịn ranh giới, màu xanh ở đây khơng cịn là

màu xanh tươi của sự sống như ngày xuân xưa kia mà là một màu xanh đơn điệu,
một bức tranh một màu khơng có chút sức sống giống y như cuộc sống lúc này của
Kiều. Nhưng mọi thứ vẫn còn ở một mức tâm trạng buồn lo nhưng đến câu cặp lục
bát cuối cùng.T những cảm xúc buồn, lo lắng, đến đây, ta thấy Kiều như rung
mình sợ hãi. Những cơn gió cuốn những cơn sóng ngoài biển tạo những âm thanh to
như cơn bão khiến cho con người phải hãi hùng. T tượng thanh “ầm ầm” đặt ở đầu
câu như nhấn mạnh sự bất ngờ hoảng hốt của Kiều nơi lầu cao khi con sóng lạnh
lùng dữ dội xô vào chân lầu khiến người trên phải sợ hãi.
Đây có lẽ là sự dự đốn về một tương lai không mấy êm đềm sẽ đến với Kiều, và
ngay sau đấy, sóng to gió lớn sẽ đổ lên cuộc đời Kiều làm cho nàng phải đau đớn,
sợ hãi mà chao đảo.Bốn cặp lục bát mở đầu bằng “buồn trơng” tạo nên một đoạn
điệp khúc có nhạc tính tăng dần mức độ. Cảnh được miêu tả t xa đến gần, hình ảnh
được chọn t mờ ảo, mơng lung đến rõ ràng cụ thể, tâm trạng nhân vật trữ tình t
buồn, lo đến sợ hãi hoảng hốt. Nguyễn Du đã thật tài tình trong việc miêu tả rõ n t
tâm trạng Thúy Kiều trong những ngày tháng dài b giam nơi lầu Ngưng Bích,
những ngày tháng mở đầu cho quãng thời gian mười lăm năm lưa lạc của Kiều.
Kiều lúc này, càng buồn thì càng trơng, càng trơng thì càng buồn, chính Nguyễn Du
đã hiểu được điều này và bộc lộ sự cảm thơng t ngịi bút.
Bốn cặp lục bát ngắn gọn mà chứa đựng được tài năng và tấm lòng nhân đạo bao la
của đại thi hào Nguyễn Du. Đọc đến những dịng thơ ấy, người đọc khơng kh i xót

Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188


Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí

thương trước số phận Thúy Kiều đồng thời trân trọng biết bao tài năng cùng tấm
lòng của thi sĩ họ Nguyễn.
Phân tích 8 câu thơ cuối Kiều ở lầu Ngưng Bích mẫu 4
Nhìn vào 8 câu thơ cuối của đoạn thơ này, có lẽ mỗi chúng ta ai cũng nhận ra cấu

trúc điệp ngữ liên hoàn được đặt ở đầu những câu thơ lục. Đây ko phải là sáng tạo
mới mẻ của Nguyễn Du mà t lâu, trong ca dao của người Việt Nam đã có mơ-típ
“buồn trông”: Buồn trông chênh chếch sao mai, Buồn trông con nhện giăng tơ, Ngồi
buồn nhớ mẹ ta xưa ND chỉ đọc qua câu ca dao nhưng ông đã biến tấu lại vào bài
thơ của mình và đã tạo nên một đoạn thơ miêu tả tâm trạng nhân vật trữ tình rất sâu
sắc và tinh tế.
Điệp ngữ, điệp cấu truc tô đậm, nhấn mạnh nỗi buồn càng lúc càng dâng dâng lên
trong lòng nàng Kiều cùng với cảnh vật càng lúc càng mênh mang, vắng vẻ và dữ
dội hơn. Nhưng chủ yếu là sau mỗi ngữ “buồn trơng” thì như lại nối tiếp một đợt
sóng, chia suy tưởng, tâm trạng của nàng Kiều về một hướng khác, một đối tượng
khác, một vấn đề khác, khơng giống nhau, ko lặp lại. Có thể chia bức tranh “buồn
trông” tuyệt vời này thành 4 mảng gắn liền với 4 lần buồn trông và 4 nỗi buồn k
hoàn toàn giống nhau. Như một bộ tranh tứ bình vậy!
Nỗi buồn thứ nhất: Buồn trơng cửa bể chiều hơm Thuyền ai thấp thống cánh buồm
xa xa Tâm trạng buồn nhớ của Kiều giờ đi cả vào ánh mắt. Người buồn thì cảnh
cũng buồn. Vẫn là cảnh đó, khơng gian đó, nhưng đã chất chứa phần nào nỗi lòng
Kiều. Khung tranh buồn thứ nhất mở ra ngay thời điểm chiều hôm - là thời điểm
quen thuộc của nghệ thuật, của những lưu luyến khó tả. Cửa bể chiều hơm gợi trước
mắt ta hình ảnh những tia nắng leo lắt cuối ngày phản chiếu lên mặt biển xanh thẳm
rồi lan ngay ra không gian xung quanh, khiến mọi thứ nhuốm màu sẫm tối, có cái gì
da diết như đêm luyến ngày, như niềm lưu luyến tha thiết của Kiều về ngày tháng
êm đềm xưa kia. Cửa biển trong ánh chiều tà yếu ớt bao trùm luôn cả những con
thuyền căng buồm lộng gió ngồi xa - những con thuyền chở hy vọng của nàng
Kiều được một lần tự do ngoài bầu trời rộng mở, vượt kh i cái tù túng tẻ nhạt nơi
lầu son gác tía.
Những cánh buồm đều ở rất xa, thoắt ẩn thoắt hiện trong ánh hoàng hôn trĩu buồn,
như niềm hy vọng của nàng chỉ là những chấm nh ngoài khơi xa m t mờ, những t
thấp thống, xa xa càng khiến hy vọng nhạt nhịa. Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu? Qua khung tranh thứ hai, vẫn là ánh nhìn vào
Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188



Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí

nước, nhưng đã gần hơn. Có lẽ nào nàng Kiều đã bắt đầu nhượng bộ trước những xa
xăm của cuộc đời, nhìn gần để có thêm ít hy vọng, dù nh . Ngờ đâu, cái mà nàng
trông thấy còn dữ tợn hơn bội phần. Cánh hoa m ng manh dập dìu trước ngọn nước
t trên cao đổ xuống. Thử h i, cánh hoa m ng manh ấy làm sao ch u nổi sức nước
tràn? Thân phận Kiều cũng vậy, quá b nh trước dòng đời. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng
cho thấy sự nhạy cảm của Kiều.
Cái man mác trôi của hoa thể hiện cái băn khoăn, lo lắng cho thân phận lạc lồi, vơ
đ nh của nàng. Kiều bây giờ cũng như bơng hoa kia, khơng cịn người thân bên
cạnh, tự nàng phải bước lên những chông gai của cuộc đời. Buồn trông nội c rầu
rầu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh. ồi Kiều bắt đầu đảo mắt đến cái sắc
xanh nối tiếp của trời và đất. Tuy nhiên, bãi c không mang màu xanh tươi như tiết
thanh minh tháng ba, t láy rầu rầu gợi cho ta sự tàn úa đến thảm thương. Xanh trời
nối tiếp xanh đất nhưng xanh nào cũng là màu xanh tàn úa, h o hắt. Màu xanh tàn
h o ấy khiến xanh xanh cả đất trời. Kiều nhìn vào màu xanh mong tìm kiếm chút hy
vọng nh nhoi lần nữa, nhưng cũng như những lần trước, Kiều quay đi với nỗi thất
vọng ngập tràn. Cảnh buồn hay vì người buồn nên cảnh mới buồn thì khơng biết,
chỉ biết lần này, nàng Kiều đã thật sự tuyệt vọng, chẳng còn đối cảnh nào khiến
nàng thấy ý muốn níu k o của mình là đúng.
Mọi thứ đều đưa nàng vào suy nghĩ dằn vặt và đau xót hơn. Buồn trơng gió cuốn
mặt duềnh, m ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi. Trong câu thơ, đọc lên, ta nghe
có “tiếng gió” và “tiếng sóng biển” đang “ầm ầm” kêu quanh ... nàng Kiều như đang
ở trong tâm trạng lo lắng, hoảng sợ tưởng như không ngồi trên đất liền nữa mà như
đang ngồi giữa biển khơi, bốn phía “ầm ầm tiếng sóng”. Tiếng sóng ở đây, trong
câu thơ khơng phải là âm thanh của tiếng sóng bình thường: sóng vỗ, sóng xơ, sóng
dào dạt, mà “tiếng sóng kêu” ầm ầm tứ phía, ngầm dự báo cơn sóng gió, bão táo của
cuộc đời thật dữ dội sẽ ập đến với Thúy Kiều, với đoạn trường mười lăm năm lưu

lạc đang chờ đợi nàng.
Tám dòng thơ cuối này tạo nên bốn khung tranh tâm trạng của nàng Kiều. Mỗi
khung tranh là một trạng thái tâm lý khác nhau. Điệp t buồn trông diễn tả cái tăng
tiến đến choáng ngợp của t ng cung bậc xúc cảm trong Kiều. Nỗi buồn tủi ban đầu
đã dồn nghẹn trong lòng thành niềm lo sợ về thân phận lạc loài, cái h o hắt, tuyệt
vọng trước thực tại, trào ra thành nỗi hoảng sợ tột độ, hoàn toàn mất phương hướng.
ếu tố không nh giúp cho sự tăng tiến về cảm xúc trở nên dữ dội mà lại sít sao, tự
Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188


Thư viện Đề thi - Trắc nghiệm - Tài liệu học tập miễn phí

nhiên vơ cùng chính là hệ thống t láy tầng tầng lớp lớp, khiến mấy dòng thơ t tha
thiết trở thành mạnh mẽ, t mạnh mẽ lại trở về tha thiết.
Có thể nói, đại thi hào Nguyễn Du là một nhà bác học của ngôn t và cảm xúc.
Những t ngữ ông sử dụng luôn uyên thâm nhưng vững nghĩa và dễ hiểu. Nghệ
thuật dụng t trong tám câu cuối của đoạn trích này đã góp phần đưa nó thành thiên
sầu khúc. Ngồi ra, cái tài của cụ Nguyễn là v a để cho Kiều nhìn cảnh bằng con
mắt chủ quan của tâm trạng, lại v a ngầm thể hiện sự xót thương thân phận người
trong cảnh t đ a v của một nhà nhân đạo chủ nghĩa, làm cho dịng thơ có sức gợi
cảm mãnh liệt, chinh phục bao tầng lớp độc giả.
Đoạn thơ này có giá tr nhân bản sâu sắc. Nó gợi lên trong lịng mỗi chúng ta những
xót thương về con người tài sắc bạc mệnh. Một thái độ yêu thương, một tấm lịng
nhân hậu, cảm thơng, chia sẻ của nhà thơ đối với nỗi đau của Thuý Kiều đã để lại ấn
tượng sâu sắc trong trái tim người đọc qua hàng thế kỷ nay. Như Tố Hữu đã viết:
“Tố Như ơi! Lệ chảy quanh thân Kiều”.
Mời các bạn xem tiếp tài liệu tại: />
Trang chủ: | Email hỗ trợ: | Hotline: 024 2242 6188




×