Tải bản đầy đủ (.pdf) (3 trang)

em hay phan tich doan tho duoi day buon trong cua be chieu hom

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (157.72 KB, 3 trang )

Đề bài: Em hãy phân tích đoạn thơ: Buồn trơng cửa bể chiều hơm....Ầm
ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích
BÀI LÀM
Nhắc đến Truyện Kiều – kiệt tác của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du – cũng là
nhắc đến “tiếng thương”, tiếng kêu khơng chỉ cho “phận đàn bà” mà cịn cho
mọi kiếp bất hạnh, không phải cho một đời mà cho đến “nghìn năm sau” và cho
“mn đời”. Và khi đọc trích đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích, những độc giả
khơng thể ngăn được dòng lệ trước bi kịch hết sức xót xa của cuộc đời Kiều:
Buồn trơng cửa bể chiều hơm
Thuyền ai thấp thống cánh buồm xa xa?
Buồn trơng ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ dầu dầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trơng gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
(Nguyễn Du –trích đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích)
Tám câu thơ tả cảnh ngụ tình thành cơng trên đây được trích từ câu 1047 đến
1054 trong Truyện Kiều.
Sau cơn tai biến lớn, khơng đành lịng để gia đình tan nát, Thúy Kiều phải gạt
nước mắt nhờ cậy Thúy Vân thay mình giữ trọn lời nguyện ước với chàng Kim,
để nàng bán mình lấy tiền cứu cha và em ra khỏi nanh vuốt của bọn lang sói.
Thúy Kiều bị Mã Giám Sinh “Vốn là một đứa phong tình đã quen” đánh tiếng
là cưới Kiều về làm vợ nhưng kỳ thực gã đã mua Kiều đem về cửa hàng thanh
lâu ở Lâm Tri của gã cùng với mụ Tú Bà chung lưng mở để tiếp khách làng
chơi. Phần bị gã họ Mã lừa dối và làm nhục, lại biết mình bị đày vào chốn lầu
xanh, nhân lúc mụ Tú Bà sắp sân vào đánh đập nàng để ra uy, Thúy Kiều rút
ngay con dao đã thu sẵn từ trước ra để quyên sinh nhưng không chết. Sợ Thúy
Kiều liều mình thì bao nhiêu, vốn liếng của mụ “đi đời nhà ma”, Tú Bà đành
phải chăm lo thuốc thang cho nàng và dỗ dành nàng ra ở lầu Ngưng Bích, chờ
cơ hội để thực hiện những âm mưu mới. Tại đây, Thúy Kiều buồn nhớ người


yêu, nhớ cha mẹ, trong cảnh sầu thương, buồn tủi, nàng cô đơn, bé nhỏ trước
khung cảnh thiên nhiên mênh mông:
Buồn trông cửa bể chiều hơm
Thuyền ai thấp thống cánh buồm xa xa?
Trong thi ca, buổi chiều thường khơi gợi nỗi buồn từ cõi sâu hun hút trong tâm
hồn con người, nhất là những con người hay đa sầu, đa cảm như Thúy Kiều.
Cảnh “cửa bể chiều hôm” tươi đẹp và thi vị nhưng cũng mang nặng tâm trạng
buồn của nàng Kiều, bởi lẽ:
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?
Nhìn cánh buồm khi ẩn, khi hiện giữa biển khơi mênh mông, xa vắng, đơn côi,
Kiều nhớ thương quê hương và gia đình da diết. Chắc có lẽ giờ này, Vương
Ơng, Vương Bà, Vương Quan, Thúy Vân đang trơng ngóng tin nàng. Và người
yêu của nàng, chàng Kim, chắc chắn sẽ nhớ thương, đau khổ, chờ mong nàng
nhiều lắm. Thật bẽ bàng thay! Chén rượu thề nguyền cùng lòng, cùng dạ với

VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí


nhau mới hơm nào có “Vầng trăng vằng vặc giữa trời” sáng soi, chứng giám,
thế mà phút chốc bỗng chia lìa đơi đứa đơi nơi.
Các từ láy “thấp thống”, “xa xa” và câu hỏi tu từ trong câu “Thuyền ai thấp
thống cánh buồm xa xa?” có sức gợi tả, gợi cảm mãnh liệt. Con thuyền đi xa
rồi cũng có ngày trở về với bến. Còn Kiều biết ngày nào mới được đồn tụ với
gia đình?
Cánh buồm tiến dần vào vơ cực, Kiều lặng buồn nhìn “ngọn nước mới sa”.
Buồn trơng ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
“Ngọn nước mới sa” là một hình ảnh tình cờ ập vào đôi mắt trong như làn nước
mùa thu của nàng. Nước sa là thời điểm thủy triều đang xuống nhanh và ở

những dịng sơng, nước sẽ chảy ra biển khơi bao la. Nhìn cánh hoa trơi lênh
đênh giữa dịng, lòng nàng chợt dâng lên nỗi buồn “man mác”. Từ láy “man
mác” được nhà thơ dùng rất tài tình trong phép nhân hóa “hoa trơi man mác”
kết hợp với câu hỏi tu từ “Hoa trôi man mác biết là về đâu?”. Hoa là lồi sinh
vật vơ tri, vơ giác, chun tỏa sắc khoe hương làm đẹp cho đời mà khi nát nhụy,
phai hương rồi phải chịu cảnh gió dập sóng dồi còn biết buồn, huống chi nàng
Kiều tài sắc, nết na vẹn toàn? Liên tưởng đến thời gian trước, đang độ tuổi
xuân thì mơn mởn, sống trong cảnh “Êm đềm trướng rủ màn che”, và cảnh ngộ
hiện tại, nàng xót xa, tan nát cả cõi lịng. Số kiếp hoa trơi bèo dạt của nàng
không biết rồi sẽ đi đâu? về đâu? Chao ôi! Cũng một kiếp người mà biết mây
nổi trơi?!
Kiều nhìn ra biển khơi mịt mùng rồi lại trơng vào đất liền:
Buồn trông nội cỏ dầu dầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Những tưởng cánh đồng cỏ sẽ tươi non, sẽ bừng tuôn nhựa sống, nào ngờ, cỏ
cũng rầu rĩ, héo hon! Phải chăng cỏ đang ngóng chờ phép nhiệm màu của
những cơn mưa để sớm vượt qua mùa nắng hạn do thiên nhiên khắc nghiệt gây
ra? Cỏ úa tàn, sầu não hay đó chính là nỗi lịng Kiều? Từ láy “dầu dầu” và
phép nhân hóa “nội cỏ dầu dầu” đã tô đậm và nâng cấp nỗi bơ vơ, thống khổ
của nàng Kiều.
Riêng số từ “một” trong cụm từ “một màu” và từ láy hồn tồn “xanhxanh”
vừa có tác dụng nhấn mạnh sự mịt mùng của đời Kiều, vừa gợi tả sự hiu quạnh,
vắng vẻ đến lạnh người của khoảng khơng gian mơng mênh, cơ liêu. Dường
như bóng chiều đang xuống dần, hồng hơn sắp xuống trên mặt biển, hồng
hơn sắp trùm lấy cuộc đời Kiều để tiếp tục vùi hoa dập liễu, để “Làm cho, cho
hại, cho tàn, cho cân”. Ôi! Kiều sợ làm sao cái cảnh “Nay hồng hơn đã lại
mai hơn hồng” ấy!
Kiều nhìn ra vùng biển trước mặt:
Buồn trơng gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

Kìa! Những cơn gió dữ dội đang nổi lên giữa hồng hơn. “Gió cuốn mặt
duềnh” hay gió đang chờ chực để cuốn Kiều đưa vào bể khổ của địa ngục trần
gian? Cái “ghế ngồi” của nàng nào đã được yên. Tiếng sóng “ầm ầm” đang gào
thét liên hồi đưa nàng trở về thực tế với lo sợ kinh hoàng. Từ láy hoàn toàn
“ầm ầm” và phép đổi trật tự cú pháp trong câu “Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh

VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí


ghế ngồi” kết hợp với điệp ngữ “buồn trông”, được lặp đi lặp lại đến bốn lần ở
tám câu thơ có tác dụng dự báo những tai họa sắp sửa giáng xuống cuộc sống
của Kiều trong tương lai.
Ngoài ra, đoạn thơ trên còn sử dụng phép song hành rất cân đối để làm phương
tiện liên kết câu một cách chặt chẽ. Bên cạnh phép điệp dễ thấy như đã nói,
đoạn thơ còn tiềm ẩn một phép điệp cấu trúc cú pháp cực kì điêu luyện. Nếu
câu lục nói về thiên nhiên thì câu bát nói về thân phận nàng Kiều.
Mặt khác, bằng ngôn ngữ độc thoại tinh xảo, bằng ngôn ngữ văn học chữ Nôm
trang nhã, bằng ngôn ngữ văn học dân gian trong sáng, thiên tài Nguyễn Du
vừa biểu đạt được ngoại cảnh một cách tinh tế, chính xác, sống động vừa biểu
đạt được tâm cảnh đa dạng, phức tạp nội tâm của nhân vật Thúy Kiều. Trong
chiều sâu của lời thơ, ý thơ, trong nỗi buồn của Thúy Kiều, chúng ta lại cảm
được một tiếng kêu đến đứt ruột, một lời tố cáo đanh thép cái xã hội phong
kiến bất công, phi nghĩa, nhơ nhớp đã cướp đoạt quyền sống, quyền hạnh phúc
của con người, đã xô đẩy con người vào ngõ cụt khơng lối thốt, vào đêm tối
mơng mênh của cuộc đời.
Nhìn chung, cái buồn của đoạn thơ là: “Cái buồn có sức thơi thúc con người
biết yêu thương và căm giận” (GS.TS Nguyễn Sĩ Cẩn). Nhưng cảm hứng chủ
đạo của đoạn thơ không bắt nguồn từ sự yêu thích, miêu tả phong cảnh thiên
nhiên mà bắt nguồn từ tấm lịng u thương vơ hạn của đại thi hào Nguyễn Du
đối với những kiếp hồng nhan bạc mệnh.

Tóm lại, tám câu thơ trích trong đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích là một bức tranh
tâm tình đầy xúc động. Qua đoạn thơ, chúng ta thấy Nguyễn Du vừa là một
thiên tài về thi ca, vừa là một nhà hội hoạ kì tài, vừa là một người có “con mắt
trơng thấu cả sáu cõi, tấm lịng nghĩ suốt cả nghìn đời” (Mộng Liên Đường).
Càng nâng niu, quý trọng Truyện Kiều, chúng ta càng căm giận xã hội cũ, càng
xót thương cho thân phận nàng Kiều.

VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí



×