Đề bài: Nghị luận văn học đoạn trích Cảnh ngày xuân
Bài làm
Cảm hứng nhân đạo và vẻ đẹp ngôn từ của truyện thơ này đã chinh phục trái
tim bao thế hệ bạn đọc trong gần hai trăm năm qua. Đọc đoạn trích "Cảnh ngày
xuân", chúng ta càng cảm phục bút pháp miêu tả cảnh vật giàu chất tạo hình và
man mác xúc cảm của tác giả.
Mở đầu đoạn trích, Nguyễn Du đã gợi tả khung cảnh mùa xuân tuyệt đẹp:
Ngày xn con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngồi sáu mươi
Qua việc miêu tả không gian, thời gian nghệ thuật, tác giả đã gợi lên một khung
cảnh khoáng đạt và tràn trề sức sống. Cách nói dân gian “thời gian thấm thoắt
thoi đưa” đã nhập hồn vào thơ ca Nguyễn Du để ông sáng tạo nên một câu thơ
vừa miêu tả không gian, vừa gợi tả thời gian. Chim én được xem là loài chim
biểu tượng của mùa xuân. Những cánh én chao liệng như “thoi đưa” ấy đã gợi
lên một bầu trời bao la, thoáng đãng đầy sức xuân. Đến câu thơ tiếp theo, tâm
trạng tiếc nuối ấy đã hiện lên thật rõ. “Thiều quang” nghĩa là ánh sáng đẹp, ánh
sáng ấm áp của mùa xuân, cũng là ẩn dụ để chỉ ngày xuân. Cách tính thời gian
như thế thật là ý vị và nên thơ: tiết trời trong sáng, đẹp đẽ của chín mươi ngày
xuân nay “đã ngoài sáu mươi” rồi, tức là đã sang đầu tháng Ba rồi. Từ “đã
ngoài” ở đây kết hợp vời từ “đưa thoi” ở trên đã gợi lên trong lòng người đọc
một sự tiếc nuối rằng mùa xuân sao đi qua nhanh thế. Nguyễn Du nhớ mùa
xuân ngay trong mùa xuân, tưởng đó là một nghịch lí, nhưng nó lại có thật.
Hơn hai trăm năm sau, Xuân Diệu lại một lần nữa cảm thấy như thế: “Tôi sung
sướng. Nhưng vội vàng một nửa / Tơi khơng chờ nắng hạ mới hồi xuân.” (Vội
vàng). Làm sao không tiếc mùa xuân được cơ chứ khi vào lúc này, xuân đã hết
dư vị của mùa đông nhưng vẫn chưa ngấp nghé vào hạ nên khung cảnh rất đẹp,
rất xuân:
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Bức họa tuyệt đẹp về mùa xuân đã được vẽ nên bằng những nét phác họa,
chấm phá tài tình của văn thơ cổ. Nguyễn Du đã sử dụng những từ ngữ gợi
hình gợi cảm để vẽ nên bức tranh ấy: “non” (sự mới mẻ, đổi thay của đất trời),
“xanh” (sự sống, đâm chồi nảy lộc), “trắng” (tinh khôi, trong sáng, dịu
dàng),… Những từ ngữ ấy vừa đem khí xuân đến tràn đầy trong từng lời thơ,
vừa giàu chất tạo hình tới nỗi ta có cảm tưởng như trong thơ có họa. Lấy cảm
hứng từ hai câu thơ cổ của Trung Quốc: “Phương thảo liên thiên bích / Lê chi
sổ điểm hoa”, tác giả chỉ thêm vào hai từ “xanh”, “trắng” mà đã khiến cho sắc
trắng của hoa lê nổi bật lên trên cái nền “xanh tận chân trời”, gợi lên vẻ đẹp
trong sáng, thanh khiết và khoáng đạt của mùa xuân. Lời thơ tưởng như chiếc
cọ của người họa sĩ đang phối sắc cho từng đường nét của bức vẽ. Câu thơ tám
chữ vốn có nhịp đơi, nhịp chẵn bỗng chuyển sang nhịp 3/5. Từ nhịp điệu bằng
phẳng, quen thuộc, cách ngắt nhịp tài tình mang đầy dụng ý ấy của Nguyễn Du
khiến câu thơ xôn xao với cái thần rất mới, rất lạ. Bức tranh ấy đã đẹp, nay lại
được đại thi hào phả hồn vào đó bằng một chữ “điểm”. Có thể nói từ ấy chính
là nhãn tự của cả đoạn trích, vừa làm câu thơ sống động hơn, vừa là nét vẽ
hoàn chỉnh của bức tranh xuân. Chỉ cần một chút đảo ngữ ở “trắng điểm” và
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
“điểm trắng” thôi đã đủ để nâng câu thơ lên một tầm cao mới. Tả mùa xuân đẹp
và sống động như thế, hật khơng cịn từ ngữ nào để nói lên sự tài tình trong bút
pháp miêu tả gợi hình gợi cảm của Tố Như.
Tiếp nối bức tranh phong cảnh tuyệt đẹp ấy, Nguyễn Du đưa người đọc đến với
một khung cảnh tươi đẹp không kém – cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh. Mở
đầu cho bức tranh ấy là hai câu thơ giới thiệu khái quát về thời gian cũng như
hoạt động của con người:
Thanh minh trong tiết tháng Ba
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh
Tiết Thanh minh là dịp để mọi người đi viếng thăm, quét dọn, sửa sang và cúng
bái, khấn nguyện trước phần mộ những người đã khuất. Từ lâu, đây đã là một
phong tục cổ truyền của dân tộc ta. Và tất nhiên, sau lễ là hội, hội “đạp thanh”,
tức là giẫm lên cỏ xanh mà đi chơi xuân. “Tảo mộ" là dịp để ta tìm lại những
ký ức xa xưa, nối lại mối dây liên hệ giữa người đã khuất với người còn sống.
Còn “đạp thanh” lại gợi lên cảnh các chàng trai, cơ gái gặp gỡ, làm quen và rất
có thể dẫn đến những sợi tơ hồng kết duyên mai sau. Bên cạnh điệp từ “là”, cặp
tiểu đối “lễ là tảo mộ” – “hội là đạp thanh” được đặt cạnh nhau trong một câu
thơ khơng chỉ nói lên sự nối tiếp liên tục của những tươi vui, nhộn nhịp, rộn
ràng trong ngày lễ hội, mà cịn muốn nói một điều gì hơn thế. Nguyễn Du đã
gửi vào đó những suy ngẫm về khát khao, hy vọng của những người đi chơi
xuân, hay cụ thể hơn – của Thúy Kiều về những điều tốt đẹp của cuộc đời phía
trước. Và với suy nghĩ ấy, chị em Thúy Kiều hịa mình vào dịng người tấp nập
đi trẩy hội:
Gần xa nô nức yến anh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân
Dập dìu tài tử giai nhân
Ngựa xe như nước, áo quần như nêm
Ở đây, một lần nữa ta lại được gặp nghệ thuật miêu tả ước lệ. Mùa xuân là lúc
chim yến , chim oanh tụ họp lại ríu rít bay lượn trên khơng trung. Tác giả đã
vận dụng hình ảnh ấy dưới cách nói ẩn dụ “nơ nức yến anh” để gợi tả hình ảnh
những đồn người đi du xn trong khơng khí rộn ràng, đông vui. Xuân không
chỉ về trong thiên nhiên mà cịn tràn ngập trong lịng người. Các tính từ “gần
xa”, “nô nức” đã đặc tả cảnh người người khắp nơi cùng tụ hội lại trong tâm
trạng náo nức, vui tươi của lễ hội. Đó cũng chính là tâm trạng của chị em Thúy
Kiều khi: “Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân”. Sống trong cảnh “êm đềm
trướng rủ màn che”, những cơ thiếu nữ như họ ít có dịp được tham gia một
cuộc vui nhộn nhịp như lần này, nên dù chưa đến hội, hai chị em đã như mở
hội trong lòng. Động từ “sắm sửa” đã diễn tả được sự háo hức, trông mong ấy
của họ. Rất tự nhiên, họ hòa vào dòng người nườm nượp những nam thanh nữ
tú. Dưới cách nhìn phơi phới xuân xanh của chị em Thúy Kiều, Nguyễn Du đã
biến một cảnh lễ hội tưởng như năm nào cũng có thành một ấn tượng khó phai
trong mắt người đọc. Nếu như ở hai câu thơ trước có “yến anh” thì ở hai câu
sau cũng rất xứng với “tài tử giai nhân”, làm bật lên cảnh những chàng trai cô
gái phong lưu, thanh lịch, áo quần tươi thắm trong buổi hội xuân đang “Gặp
tuần đố lá, thỏa lịng tìm hoa”. Từ láy “dập dìu” gợi lên từng đồn, từng đồn
người đi lại tấp nập, đơng đúc nhưng vẫn rất uyển chuyển, nhịp nhàng như
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
những đợt sóng. Nhịp điệu ấy làm chậm lại dịng chảy trong “ngựa xe như
nước”, và cho dù “áo quần như nêm” nhưng lễ hội lại không chật cứng mà vẫn
có một điều gì đó rất khoan thai trong từng chiếc xe, từng bước chân. Ấy là sự
khoan thai, thơ mộng và trữ tình của tâm hồn tuổi trẻ đang say sưa trong khơng
khí mùa xn. Hai hình ảnh so sánh được đặt liên tiếp nhau trong câu thơ càng
khiến cho khung cảnh ấy thêm sống động. Nguyễn Du đã vô cùng khéo léo
trong việc biến đổi phép đối, khi thì dồn lại giữa “tài tử” và “giai nhân”, khi thì
tách giãn “ngựa xe như nước” và “áo quần như nêm”, khi ẩn khi hiện một sức
hút khó tả và rất riêng của cảnh ngày xuân. Bên cạnh đó, tác giả cịn sử dụng
hàng loạt những từ có hai âm tiết thuộc nhiều từ loại khác nhau để miêu tả
không khí lễ hội thật rộn rã: danh từ (yến anh, chị em, tài tử, giai nhân), động
từ (sắm sửa, dập dìu), tính từ (gần xa, nơ nức). Trong đó vừa có từ ghép, vừa có
từ láy, tự sự hịa vào với miêu tả, làm sống lại trước mắt người đọc một ngày
hội đậm chất trữ tình, khiến cho ta cũng như ngây ngất trong khơng khí tràn
đầy sức xn ấy. Và tất nhiên, tả lễ hội trong tiết Thanh minh thì khơng thể
thiếu một phong tục rất quen thuộc:
Ngổn ngang gị đống kéo lên
Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay
Phong tục cổ truyền đã có từ nghìn xưa được Nguyễn Du đưa vào câu thơ thật
sinh động. “Ngổn ngang gị đống” khơng chỉ gợi tả cảnh những ngơi mộ mà
cịn muốn nói đến những đống tro tàn vương vãi khắp nơi trên mặt đất. Đi tảo
mộ, không thể không rắc thoi vàng vó, đốt tiền vàng mã, để tưởng nhớ những
người đã khuất. Trong cảnh tượng khói bay nghi ngút ấy như âm ỉ cháy những
lời thì thầm vọng về từ quá khứ, từ ông bà tổ tiên. Sự cách trở âm dương tưởng
chừng như bị xóa nhịa, q khứ được kéo gần hơn tới hiện tại trong không
gian thiêng liêng đầy thành kính ấy. Khơng hề có sự nặng nề, âm u tưởng
chừng như luôn chập chờn đâu đó khi ta nhắc đến mồ mả, mà thay vào đó là
một nét đẹp rất thanh tao của văn hóa phương Đơng về nghĩa tình với những
người đã khuất. Có thể trong thời buổi hiện đại ngày nay, phong tục ấy được
xem là sự mê tín cổ hủ, nhưng giá trị nhân văn trong những vần thơ của Tố
Như vẫn làm ta xúc động về đời sống tâm linh của người xưa. Vẫn là bút pháp
gợi hình gợi cảm, nhưng bằng hàng loạt từ ngữ miêu tả, Nguyễn Du đã tái hiện
lại cảnh "hội" mùa xuân thật sống động, rộn ràng và tươi vui nhưng cũng
không làm mờ đi chữ "lễ" qua những phong tục cổ truyền của dân tộc.
Buổi du xuân vui vẻ cũng dã tới chỗ phải nói lời tạm biệt. Vẫn là cảnh mùa
xuân, vẫn là không khí của ngày hội lễ, nhưng bây giờ là giây phút cuối ngày:
"Tà tà bóng ngả về tây,
Ch em th th n dang tay ra v
B c d n theo ng n ti u khê
L n xem phong canh có b thanh thanh
Nao nao dịng nc u ng anh
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang."
Nếu câu thơ mở đầu của "Cảnh ngày xn" chan hịa ánh sáng "thiều quang"
thì đến đây, hồng hơn dường như bắt đầu nhuốm dần xuống phong cảnh và
con người. Hội đã hết, ngày đã tàn nên nhịp thơ khơng cịn cái rộn ràng, giục
giã mà trái lại thật chậm rãi, khoan thai. Cảnh vật vì thế mang cái vẻ nên thơ,
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
diu êm, vắng lặng trong ánh nắng nhạt dần. Dòng khe có chiếc cầu nho nhỏ
cuối ghềnh tạo thành đường nét thể hiện linh hồn của bức tranh một buổi chiều
xn. Nhịp chân có chút tâm tình man mác nên "thơ thẩn" và đến đây là "bước
dần", chẳng có gì nao nức, vội vàng. Các từ láy "tà tà", "thanh thanh", "nho
nhỏ", "nao nao" góp phần làm nên sự yên ắng và nỗi buồn của cảnh vật, của
con người. Cảnh vật và thời gian được miêu tả bằng bút phá ước lệ cổ điển
nhưng vẫn gợi cho người đọc cảm giác gần gũi, thân quen vì nó đã thấm hồn
dân tộc, mang bóng dáng cảnh sắc quê hương Việt Nam.Rõ ràng, cảnh ở đây
được nhìn qua tâm trạng nhân vật tham gia vào lễ hội. Hai chữ "nao nao" (Nao
nao dòng nước uốn quanh) đã nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật. Dịng nước
nao nao, trơi chậm lưu luyến bên chân cầu nho nhỏ, phải chăng cũng là nỗi lưu
luyến, tiếc nuối của lịng người khi ngày vui chóng qua? Nguyễn Du đã từng
viết: "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?". Vì vậy, khi vào lễ hội, người vui
thì cảnh sắc rộn ràng tười mới. Lúc lễ hội tan rồi, người về sao tránh khỏi sự
xao xuyến, cảnh sắc sao tránh khỏi màu ảm đạm! Dường như có một nỗi niềm
man mác, bâng khuâng thấm sâu, lan tỏa trong tâm hồn vốn đa tình, đa cảm
như Thúy Kiều. Và ở sáu dịng cuối này, Nguyễn Du khơng chỉ nhằm nói tâm
trạng buồn tiếc khi lễ hội vừa tàn, mà hình như, ơng chuẩn bị đưa nhân vật của
mình vào một cuộc gặp gỡ khác, một thế giới khác. Như ta đã biết, ngay sau
buổi Thanh minh, Nguyễn Du đã sắp đặt để Thúy Kiều gặp Đạm Tiên và Kim
Trọng. Vì thế, cảnh vật trong hồng hơn này cũng là một dự báo, một linh cảm
cho đoạn trường mà đời kiều sắp phải bước qua.
Nguyễn Du đã cho ta thấy một ngày xuân nô nức, vui tươi. Nghệ thuật tả cảnh,
tả tình của ơng như thế thật khéo và cách chuyển ý cũng thật tinh tế, tự nhiên.
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí