TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
------------***-------------
PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ
CỦA PHẦN LAN
Người thực hiện: Nguyễn Phương Thảo
MSV: 1712210294
Lớp tín chỉ: QTR401(20192).1
GV hướng dẫn: ThS. Nguyễn Thị Thu Trang
Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2020
Tieu luan
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
1
LỜI MỞ ĐẦU
2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẤT NƯỚC PHẦN LAN
3
1.1.
Các thơng tin cơ bản
3
1.2.
Vị trí địa lý
4
1.3.
Lịch sử phát triển
5
1.4.
Văn hóa xã hội
5
1.5.
Chính trị
5
1.6.
Hệ thống luật pháp
6
1.7.
Quan hệ hợp tác Phần Lan – Việt Nam
6
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH MƠI TRƯỜNG VĨ MƠ CỦA THỊ TRƯỜNG PHẦN LAN
10
2.1.
Môi trường nhân khẩu
10
2.2.
Môi trường kinh tế
17
2.3.
Môi trường tự nhiên
21
2.4.
Mơi trường cơng nghệ
23
2.5.
Mơi trường chính trị - xã hội
24
2.6.
Mơi trường văn hóa
32
CHƯƠNG 3: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM36
KẾT LUẬN
39
TÀI LIỆU THAM KHẢO
40
Tieu luan
Tieu luan
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hình 1. Bản đồ Phần Lan
4
Hình 2. Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Phần Lan từ 2008 đến 2014
8
Hình 3. Biểu đồ dân số Phần Lan từ năm 1950 đến 2020
10
Hình 4. Biểu đồ gia tăng tốc độ dân số Phần Lan từ 1951 đến 2020
11
Hình 5. Tháp dân số Phần Lan 2017
12
Hình 6. Tuổi thọ trung bình của Phần Lan từ 1950 đến 2020
12
Hình 7. Dân số thành thị và nông thôn tại Phần Lan từ 1955 đến 2020
13
Hình 8. Biểu đồ hộ gia đình tại Phần Lan từ 2010 đến 2018
15
Hình 9. Tơn giáo tại Phần Lan (2018)
16
Hình 10. Ngơn ngữ tại Phần Lan (2018)
17
Hình 11. Kinh tế Phần Lan từ 2011 đến 2017
18
Hình 12. GDP Phần Lan từ 2010 đến 2019
19
Hình 13. Xuất nhập khẩu và cán cân thương mại Phần Lan 1970 - 2019
20
Hình 14. Các nước xuất nhập khẩu lớn nhất 2019
20
Hình 15. Nhập khẩu và xuất khẩu theo sản phẩm tại Phần Lan 2019
20
1
Tieu luan
LỜI MỞ ĐẦU
Được mệnh danh là đất nước hạnh phúc nhất thế giới, Phần Lan Phần Lan - đất
nước ngoài nổi tiếng về hệ thống giáo dục hàng đầu thế giới, còn trứ danh với nhiều thắng
cảnh đẹp, con người thân thiện và giàu lòng mến khách, là điểm du lịch hàng đầu mà bất cứ
một du khách nào cũng muốn tới. Người Phần Lan hạnh phúc bởi môi trường an tồn,
khơng khí trong sạch, hệ thống y tế miễn phí. Linda Cook - một nhà khoa học chính trị tại
trường Đại học Brown đã nhận xét rằng: “Người Phần Lan ln cảm thấy an tồn và ít lo
lắng hơn trong cuộc sống”. Điều này chính là nhờ có sự vững chắc của hệ thống phúc lợi
bậc nhất châu Âu của đất nước xinh đẹp này.
Phần Lan ngày càng thu hút sự chú ý không chỉ bởi khách du lịch, du học sinh mà
còn cả các nhà đầu tư trên toàn thế giới bởi nền kinh tế với sức cạnh tranh mạnh. Nhờ các
ưu thế từ thiên nhiên, khí hậu, văn hóa, con người, các quốc gia trên thế giới nói chung và
Việt Nam nói riêng đã và đang thâm nhập vào thị trường Phần Lan trong rất nhiều các lĩnh
vực như giáo dục, công nghệ thông tin, nông nghiệp,… Việc gia nhập thị trường Phần Lan
đem lại cho Việt Nam khơng chỉ những cơ hội mới mà cịn cả những thách thức nhất định.
Với mục đích tìm hiểu và nghiên cứu về các cơ hội và thách thức khi tham gia thị
trường Phần Lan đối với Việt Nam, tôi đã quyết định thực hiện đề tài “Phân tích mơi
trường vĩ mơ của Phần Lan”. Bài báo cáo gồm có 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về đất nước Phần Lan
Chương 2: Phân tích mơi trường vĩ mơ của thị trường Phần Lan
Chương 3: Cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam
2
Tieu luan
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẤT NƯỚC PHẦN LAN
1.1.
Các thông tin cơ bản
Tên chính thức
Cộng hịa Phần Lan (Republic of Finland)
Quốc kì
Huy hiệu
Vị trí địa lý
Khu vực Bắc Âu
Diện tích
303.511 km2
Thủ đơ
Helsinki
Dân số
5.538.674 người (08/05/2020)
Ngơn ngữ chính
Tiếng Phần lan
Đơn vị tiền tệ
Euro
Độ tuổi trung bình
43,1 tuổi
Ngày Quốc khánh
06/12/1917
Múi giờ
GMT +2
1.2.
Vị trí địa lý
3
Tieu luan
Phần Lan nằm ở phía Bắc châu Âu giữa vĩ tuyến 60° và 70°, phía Đơng và Đơng
Nam giáp Nga, phía Bắc giáp Na Uy, phía Tây giáp Thuỵ Điển, phía Nam và Tây Nam là
vịnh Phần Lan, biển Baltic và vịnh Bothnia.
Hình 1. Bản đồ Phần Lan
Về khí hậu, tuy gần Bắc cực nhưng nhờ có dịng hải lưu nóng Gulf Stream nên
nhiệt độ trung bình cao hơn các nước khác trên cùng vĩ tuyến. Trung bình mùa hè từ 13 đến
17oC, mùa đơng từ -3 oC đến -14 oC. Nhiệt độ trung bình hằng năm tại thủ
đô Helsinki khoảng 5,3°C. Nhiệt độ cao nhất vào ban ngày ở miền Nam của Phần Lan đôi
khi cũng lên tới 25 °C. Vào mùa đông, nhất là vào những tháng 1, tháng 2, nhiệt độ thơng
thường là -20 °C. Phía cực bắc của Phần Lan, dưới vòng Bắc Cực, vào mùa hè có đợt Mặt
trời khơng lặn trong khoảng 73 ngày, đó là những ngày "hè đêm trắng", cịn vào mùa
đơng Mặt Trời khơng mọc trong 51 ngày liền.
Diện tích Phần Lan là 303.511 km2, trong đó rừng chiếm 69%, đất canh tác 8%.
Phần Lan có khoảng 188.000 hồ (với diện tích từ 500 m2 trở lên, tổng cộng chiếm gần 10%
diện tích); gần 180.000 hịn đảo (trong đó gần 100.000 hịn đảo ở trong đất liền). Vào mùa
đơng, vịnh Bothnia ở phía Tây và Vịnh Phần Lan ở phía Nam đóng băng, ở các cảng phải
sử dụng máy phá băng. Đất của Phần Lan là đất băng giá. Trừ khu vực núi cao có đỉnh tới
1.342m ở phía Tây Bắc, phần lớn diện tích cịn lại của Phần Lan là đất thấp.
4
Tieu luan
1.3.
Lịch sử phát triển
Phần Lan hình thành quốc gia rất muộn. Trong hơn 650 năm (từ 1155 - 1809), Phần
Lan bị Thuỵ Điển đô hộ. Năm 1809, Thuỵ Điển bị thua trong cuộc chiến tranh với Nga
hoàng và trở thành công quốc tự trị thuộc Nga suốt hơn 100 năm. Sau cách mạng Tháng
Mười Nga, Liên Xô trao độc lập cho Phần Lan. Ngày 06/12/1917, Phần Lan tuyên bố độc
lập.
Theo hiến pháp được thông qua năm 1919, Phần Lan trở thành một nước Cộng hòa.
Năm 1939, cuộc chiến tranh "Mùa Đông" nổ ra giữa Liên Xô và Phần Lan. Năm 1940,
Phần Lan thất bại và phải ký hoà ước với Liên Xô, chấp nhận nhượng cho Liên Xô 10%
lãnh thổ phía Đơng. Khi phát xít Đức tấn cơng Liên Xơ, Phần Lan liên minh với Đức tấn
công Liên Xô nhằm lấy lại phần đất bị mất. Năm 1944, Phần Lan rút khỏi cuộc chiến tranh
và theo “Thoả ước đình chiến” phải bồi thường 300 triệu USD (theo tỉ giá thời đó) bằng
hàng hố trong vịng 6 năm và phải nhượng thêm cho Liên Xô phần đất Petsamo trên bờ
biển Bắc cực. Năm 1948, Phần Lan ký Hiệp ước Hữu nghị, Hợp tác và Giúp đỡ lẫn
nhau với Liên Xô đồng thời thực hiện chính sách trung lập, đứng ngồi vịng tranh chấp
của các siêu cường.
1.4.
Văn hóa xã hội
Dân số của Phần Lan tính đến ngày 08/05/2020 là 5.538.674 người, với mật độ 18
người/km2 hầu hết là người Phần Lan.
Ngơn ngữ chính thức của Phần Lan là tiếng Phần Lan và tiếng Thụy Điển được sử
dụng như tiếng mẹ đẻ khoảng 6% số dân. Một tiếng bản xứ nữa là tiếng Sami được sử dụng
bởi những người Sami, còn được biết đến là người Lapp (miền Bắc của Scandinavia).
Từ thế kỷ 19, hình tượng quốc gia Phần Lan là Trinh nữ Phần Lan (Suomi-neito) –
hình ảnh một cơ gái trẻ khoảng tuổi đơi mươi với mái tóc vàng bện lại, mắt xanh, mặc một
bộ trang phục màu xanh và trắng của đất nước hoặc một chiếc váy trắng, đi chân trần.
Nguyên thủy thì cơ được gọi là Aura theo tên gọi của con sông Aura ở Turku.
5
Tieu luan
1.5.
Chính trị
1.5.1. Thể chế nhà nước
Hiến pháp Phần Lan ban hành ngày 17/7/1917, thông qua năm 1919 và được sửa
đổi năm 2000 quy định Phần Lan theo chế độ Cộng hoà. Quyền lập pháp thuộc về Quốc
hội và Tổng thống. Quyền hành pháp thuộc về Tổng thống và Chính phủ. Người đứng đầu
nhà nước là Tổng thống, được bầu theo chế độ phổ thông đầu phiếu với nhiệm kỳ 6 năm.
Quốc hội Phần Lan có một Viện với 200 nghị sĩ, nhiệm kỳ 4 năm, được bầu theo phổ thông
đầu phiếu.
1.5.2. Bộ máy nhà nước
Phần Lan được chia thành 6 tỉnh Åland, Đông Phần Lan, Lapland, Nam Phần Lan,
Oulu, Tây Phần Lan với 114 thành phố lớn nhỏ. Helsinki là thủ đô và cũng là thành phố lớn
nhất.
Dưới đây là các lãnh đạo chủ chốt đương nhiệm của Phần Lan:
Chức vụ
Tên
Đảng
Tổng thống
Ông Sauli Niinisto
Thủ tướng
Bà Sanna Mirella Marin Xã hội Dân chủ
10/12/2019
Chủ tịch Quốc hội
Ông Matti Vanhanen
07/06/2019
1.6.
Liên minh Dân tộc
Ngày nhậm chức
Trung tâm
01/03/2012
Hệ thống luật pháp
Hệ thống pháp luật của Phần Lan dựa theo hệ thống dân luật hay còn gọi là hệ
thống luật châu Âu lục địa (Civil Law), bao hàm toàn diện các quy tắc được áp dụng và
làm sáng tỏ bởi các quan tòa.
1.7.
Quan hệ hợp tác Phần Lan – Việt Nam
1.7.1. Quan hệ ngoại giao
Phần Lan thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngày 25/01/1973. Đại sứ quán
Phần Lan tại Hà Nội được thành lập năm 1974 và Việt Nam mở Đại sứ quán tại Helsinki
6
Tieu luan
vào cuối năm 2005. Cũng như các nước Bắc Âu khác, Phần Lan có phong trào ủng hộ cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta trước đây cũng như công cuộc tái thiết và
xây dựng đất nước sau này.
Quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt được hai nước duy trì và phát
triển tốt đẹp. Hai bên thường xuyên trao đổi đoàn các cấp. Việt Nam và Phần Lan đã ký kết
một số Hiệp định hợp tác sau:
-
Hiệp định Thương mại Việt Nam - Phần Lan ngày 09/01/1978
-
Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư ngày 13/9/1993
-
Hiệp định về các điều kiện và điều khoản chung về Hợp tác Phát triển ngày
08/4/1992
-
Bản ghi nhớ về nguyên tắc cung cấp tín dụng ưu đãi của Phần Lan cho Việt Nam
tháng 11/1994
-
Ký tắt Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Bộ trưởng Tài chính Nguyễn Sinh
Hùng và Bộ trưởng Ole Norrback ngày 08/01/1998
-
Hiệp định về Hàng không tháng 10/2000
-
Thành lập Uỷ ban hỗn hợp về Hợp tác Kinh tế-Khoa học-Công nghệ-Công nghiệp
và Thương mại giữa hai nước ngày 11/11/1994. Uỷ ban tiến hành họp hàng năm cùng thời
gian với kỳ họp thường niên về hợp tác phát triển. Kỳ họp gần nhất (thứ sáu) được tiến
hành tại Helsinki, Phần Lan ngày 12/6/2001. Chủ tịch phân ban Việt Nam là Bộ Kế hoạch
và Đầu tư.
1.7.2. Quan hệ hợp tác kinh tế - thương mại
Đây là lĩnh vực ưu tiên hàng đầu của Phần Lan trong quan hệ với Việt Nam. Kim
ngạch xuất nhập khẩu hai nước liên tục tăng qua các năm, đạt khoảng 200-250 triệu
USD/năm. Do Phần Lan là nước nhỏ, lại cách xa Việt Nam về mặt địa lý và Phần Lan cũng
không phải là nơi trung chuyển hàng hóa nên kim ngạch hai nước cũng chỉ tăng ở mức độ
7
Tieu luan
nhất định. Phần Lan ủng hộ EU trao cho ta Quy chế kinh tế thị trường, không ủng hộ việc
áp đặt thuế chống bán phá giá lên giày mũi da của Việt Nam xuất vào EU.
Năm 2014, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt hơn 264 triệu USD, tăng 15,2% so với
năm 2013 (là năm giảm 24,7% so với năm 2012), trong đó cả xuất khẩu và nhập khẩu đều
tăng.
Hình 2. Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Phần Lan từ 2008 đến 2014
Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Phần Lan gồm: sản phẩm từ chất dẻo, cao
su, gỗ và sản phẩm gỗ, hàng dệt may, giày dép các loại, máy vi tính, sản phẩm điện tử và
linh kiện, máy móc thiết bị... Việt Nam nhập khẩu từ Phần Lan hóa chất, gỗ và sản phẩm
gỗ, giấy, sắt thép, máy vi tính, máy móc thiết bị...
1.7.3. Hợp tác đầu tư
Về đầu tư, tính đến tháng 12/2013, Phần Lan có 8 dự án có hiệu lực với tổng vốn
đăng ký 329 triệu USD, đứng thứ 27/101 nước, vùng và lãnh thổ đầu tư trực tiếp tại Việt
Nam. Đáng chú ý là dự án xây dựng nhà máy sản xuất điện thoại của Nokia tại Bắc Ninh
với vốn ban đầu là 200 triệu Euro (sau này có thể tăng lên 2,5 tỉ USD). Từ năm 2003, Đại
sứ quán Phần Lan tại Hà Nội quản lý Quỹ hỗ trợ dự án vừa và nhỏ (30.000 – 50.000
Euro/dự án). Cho đến nay, chưa có doanh nghiệp Việt Nam nào đầu tư sang Phần Lan.
1.7.4. Hợp tác phát triển
Phần Lan liên tục dành viện trợ khơng hồn lại cho ta từ khi thiết lập quan hệ ngoại
giao đến nay và không áp đặt các điều kiện chính trị trong chính sách viện trợ. Phần Lan đã
xóa nợ trên 40 triệu USD cho Việt Nam. Tổng số tiền viện trợ của Phần Lan cho ta từ trước
8
Tieu luan
đến nay khoảng 340 triệu USD, tập trung vào lĩnh vực cấp thốt nước, xóa đói giảm nghèo,
thích ứng với biến đổi khí hậu, lâm nghiệp... và mang lại nhiều hiệu quả tích cực.
Do Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình, viện trợ khơng hồn lại của
Phần Lan cho Việt Nam sẽ được điều chỉnh giảm. Mặc dù vẫn coi Việt Nam là đối tác hợp
tác phát triển lâu dài, Phần Lan đang hướng tới chuyển đổi hình thức hợp tác chỉ dựa vào
tài trợ đơn phương sang quan hệ đối tác tồn diện cùng có lợi. Năm 2013, Phần Lan công
bố Chiến lược HTPT 2013 – 2016 với Việt Nam, tập trung vào 4 lĩnh vực: (i) Tăng cường
mở cửa và khả năng tiếp cận thông tin, kiến thức và công nghệ mới cho mọi tầng lớp nhân
dân; (ii) Tăng cường kinh tế xanh; (iii) Phát triển bền vững môi trường và quản lý tài
nguyên rừng; (iv) Cải thiện các dịch vụ vệ sinh môi trường và cấp nước. Ngân sách ODA
dành cho Việt Nam giảm dần từ 11,5 triệu EUR/năm trong năm 2012 xuống 4,5 triệu
EUR/năm trong giai đoạn 2013 – 2016. Quỹ dành cho hợp tác địa phương giảm từ 470.000
EUR trong năm 2013 xuống 270.000 EUR trong năm 2016. Tín dụng ưu đãi giảm từ 4,5
triệu EUR trong năm 2013 xuống 4,1 triệu EUR trong năm 2016. Hỗ trợ thể chế vẫn giữ
mức 500.000 EUR trong giai đoạn 2013 – 2016.
Về tín dụng ưu đãi, tổng cộng Phần Lan đã cấp khoảng 200 triệu USD cho các dự
án khác nhau của Việt Nam và viện trợ thông qua các cơ chế đa phương như Quỹ Phát triển
Bắc Âu (NDF), LHQ, EU, ADB, WB...
9
Tieu luan
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH MƠI TRƯỜNG VĨ MƠ
CỦA THỊ TRƯỜNG PHẦN LAN
2.1.
Môi trường nhân khẩu
2.1.1. Quy mô và tốc độ tăng dân số
Dân số của Phần Lan tính đến ngày 08/05/2020 là 5.538.674 người, tăng 8.564
người so với dân số 5.526.893 người năm trước. Phần Lan xếp thứ 116 trên thế giới trong
bảng xếp hạng dân số các nước và vùng lãnh thổ với tỉ lệ 0,07% (dân số năm 2020 là
7.794.798.739) và cũng là một trong những quốc gia có dân cư thưa thớt nhất châu Âu.
Mật độ dân số của Phần Lan là 18 người trên mỗi kilômét vng tính đến 13/05/2020 so
với tổng diện tích đất của Phần Lan là 303.511 km2 theo Tổng cục Thống kê Liên Hợp
Quốc.
Hình 3. Biểu đồ dân số Phần Lan từ năm 1950 đến 2020
Có thể thấy, dân số Phần Lan có xu hướng tăng đều trong vịng 70 năm từ 1950 đến
2020 với tỷ lệ dao động từ 0,1% đến 1,2%. Tỷ lệ gia tăng cao nhất từ năm 1951 đến 1960.
Từ năm 2010 đến 2020, tốc độ gia tăng có sự thay đổi từ 0,5% xuống cịn hơn 0,1%. Dự
10
Tieu luan
báo đến năm 2030, dân số Phần Lan vẫn sẽ tiếp tục tăng đến 5.580.537 người. Tuy nhiên
đến năm 2050, dân số sẽ giảm nhẹ cịn 5.486.143 người.
Hình 4. Biểu đồ gia tăng tốc độ dân số Phần Lan từ 1951 đến 2020
2.1.2. Cơ cấu tuổi tác và giới tính
Tính đến đầu năm 2017, dân số Phần Lan theo độ tuổi được ước lượng như sau:
Độ tuổi
Dưới 15 tuổi
Từ 15 đến 64 tuổi
Trên 64 tuổi
Số dân (người)
Tỉ lệ
Nam (người)
Nữ (người)
890 103
16%
452 927
437231
3 668 235
66,1%
1 855 139
1 813 096
988 165
17,8%
406 725
581 440
Từ số liệu trên, ta có mơ hình đơn giản của tháp dân số Phần Lan theo 3 nhóm tuổi
chính là thanh thiếu niên dưới 15 tuổi, người lao động từ 15 đến 64 tuổi và người già trên
64 tuổi. Đây là kiểu dạng tháp thu hẹp, có dạng phình to ở giữa, thu hẹp về hai phía đáy và
đỉnh tháp, thể hiện sự chuyển tiếp từ dân số trẻ sang dân số già, tỉ suất sinh giảm nhanh,
nhóm trẻ em ít, gia tăng dân số có xu hướng giảm dần.
11
Tieu luan
Hình 5. Tháp dân số Phần Lan 2017
Năm 2018, tỷ lệ giới tính trong tổng dân số là 0,972 (972 nam trên 1000 nữ) cao
hơn tỷ lệ giới tính tồn cầu (khoảng 1017 nam trên 1000 nữ). Tính đến ngày 31/12/2019,
Phần Lan có 2.728.701 nam giới và 2.807.306 nữ giới.
Có thể nói, tỉ lệ nam nữ tại Phần Lan tương đối cân bằng. Tuy nhiên, trong 3 nhóm
tuổi, số lượng nữ giới trên 65 tuổi nhiều hơn số lượng nam giới cùng nhóm tuổi đó, trái
ngược với nhóm tuổi thanh thiếu niên dưới 15 tuổi.
Tuổi thọ trung bình (cả hai giới tính) ở Phần Lan là 81,8 tuổi, cao hơn tuổi thọ
trung bình của dân số thế giới (72 tuổi). Trong đó, tuổi thọ trung bình của nam giới là 79,0
tuổi và của nữ giới là 84,6 tuổi (năm 2020). Từ năm 1955 đến 2020, tuổi thọ trung bình của
cả 2 giới đã có sự tăng trưởng đáng kể từ khoảng 70 tuổi đến 80 tuổi.
12
Tieu luan
Hình 6. Tuổi thọ trung bình của Phần Lan từ 1950 đến 2020
2.1.3. Phân bổ dân cư và quy trình đơ thị hóa
Từ năm 1955 đến 2020, tỷ lệ dân số thành thị tăng từ 49,1% lên 86,1% với
4.771.970 người dân thành thị trong tổng số 5.540.720 dân cứ vào năm 2020 và dự báo vào
năm 2050, tỉ lệ này sẽ tăng lên đến 96,3%
13
Tieu luan
Hình 7. Dân số thành thị và nơng thơn tại Phần Lan từ 1955 đến 2020
3 thành phố lớn nhất Phần Lan lần lượt là Helsinki (558.457 người), Espoo
(256.760 người) và Tampere (202.687 người).
2.1.4. Hệ thống giáo dục
Mục tiêu chính của chính sách giáo dục Phần Lan là cung cấp cho mọi cơng dân cơ
hội được giáo dục bình đẳng. Trọng tâm trong giáo dục là học tập hơn là kiểm tra. Khơng
có bài kiểm tra quốc gia cho học sinh ở các khối lớp dưới trung học phổ thông. Thay vào
đó, giáo viên có trách nhiệm đánh giá học sinh theo từng mơn học tương ứng với các tiêu
chí trong chương trình giảng dạy.
Giáo dục và chăm sóc trẻ nhỏ trước khi bắt đầu giáo dục bắt buộc
Giáo dục nhà trẻ kết hợp giáo dục, giảng dạy và chăm sóc theo cách có hệ thống và
định hướng mục tiêu nhằm thúc đẩy trẻ em phát triển, sức khỏe và phúc lợi cũng như cải
thiện phản xạ trẻ em cho việc học được hồn thiện. Chính quyền địa phương chịu trách
nhiệm cung cấp giáo dục nhà trẻ cho trẻ dưới tuổi đi học và phụ huynh cần trả một khoản
học phí nhỏ dựa trên thu nhập, quy mơ gia đình và thời lượng đứa trẻ ở trường. Hướng dẫn
chương trình giảng dạy quốc gia về giáo dục và chăm sóc trẻ nhỏ ở Phần Lan được phê
duyệt bởi Cơ quan Giáo dục Quốc gia Phần Lan.
14
Tieu luan
Giáo dục tiền tiểu học cho trẻ em trong năm trước khi bắt đầu giáo dục bắt buộc
Kể từ năm 2015, giáo dục tiền tiểu học là việc bắt buộc đối với tất cả trẻ em ở Phần
Lan và được cung cấp miễn phí. Người có quyền ni con phải đảm bảo rằng trẻ tham gia
vào giáo dục mầm non hoặc các hoạt động tương ứng khác đáp ứng được các mục tiêu đặt
ra cho giáo dục mầm non. Chương trình giảng dạy trọng tâm được Cơ quan Giáo dục Quốc
gia Phần Lan phê duyệt, hướng dẫn lập kế hoạch nội dung và các nền tảng làm cơ sở để
soạn thảo chương trình giảng dạy tại địa phương.
Giáo dục cơ bản là giáo dục bắt buộc được xem như trường học tồn diện
Giáo dục cơ bản gồm chín năm (trường học toàn diện) là bắt buộc đối với tất cả trẻ
em từ 7 đến 16 tuổi. Mọi trẻ em thường trú tại Phần Lan phải tham gia giáo dục cơ bản và
được miễn học phí bao gồm cả bữa ăn miễn phí tại trường.
Giáo dục phổ thơng và dạy nghề phổ thơng thay thế sau giáo dục cơ bản
Sau khi hoàn thành giáo dục cơ bản chín năm bắt buộc, những người trẻ tuổi có thể
tiếp tục lựa chọn theo 1 trong 2 hướng: Giáo dục trung học phổ thông hoặc Giáo dục - đào
tạo nghề. Giái dục THPT cung cấp giáo dục phổ thông và học sinh chưa đủ trình độ cho
một nghề nghiệp cụ thể nào. Kết thúc chương trình, học sinh dự kỳ thi tuyển sinh quốc gia.
Những người vượt qua đủ điều kiện để đăng ký học tiếp tại các trường đại học, đại học
khoa học ứng dụng và các cơ sở dạy nghề.
Các trường đại học và đại học khoa học ứng dụng
Nhiệm vụ của các trường đại học là tiến hành nghiên cứu khoa học và cung cấp
giáo dục dựa trên lĩnh vực khoa học đó. Các trường đại học khoa học ứng dụng (UAS)
cung cấp giáo dục thực tế hơn nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Các trường
đại học cung cấp giáo dục khoa học và nghệ thuật cao hơn, cấp bằng lần lượt theo trình độ
cử nhân và thạc sĩ và tiến sĩ. Các trường đại học khoa học ứng dụng (UAS) cấp bằng cử
nhân và thạc sĩ theo hệ khoa học ứng dụng.
Giáo dục và đào tạo người lớn trên tinh thần học tập suốt đời
15
Tieu luan
Giáo dục và đào tạo người lớn bao gồm cấp chứng chỉ, cấp bằng, đào tạo chuẩn bị
cho bằng cấp chuyên môn, đào tạo học nghề, tiếp tục giáo dục cập nhật và mở rộng các kỹ
năng chuyên môn, nghiên cứu các chủ đề liên quan đến kỹ năng công dân, kỹ năng sống và
xã hội, nghiên cứu các nghề thủ công và các môn học khác nhau trên cơ sở giải trí.
2.1.5. Nghề nghiệp
Lương tháng trung bình của người dân Phần Lan là 4730 EUR, trong đó mức thấp
nhất là 640 EUR và cao nhất là 20 900 EUR. Mức lương trung bình này bao gồm tiền nhà
ở, phương tiện giao thơng và các lợi ích khác.
Top 5 nghề được trả lương cao nhất tại Phần Lan vào năm 2020 là Trưởng khoa
phẫu thuật (19400EUR), Bác sĩ phẫu thuật tim mạch (18200EUR), Bác sĩ tim mạch
(16900EUR), Nhà tiết niệu học (15700EUR) và Bác sĩ phẫu thuật chấn thương
(15200EUR). Có thể thấy, các nghề nghiệp trong lĩnh vực y học đang được đánh giá cao ở
Phần Lan.
Tuy nhiên, các nghề nghiệp phổ biến tại Phần Lan đa số liên quan đến ngành giáo
dục, bao gồm Giáo viên (3250EUR), Điều dưỡng (3000EUR), Công nghệ thông tin, Giáo
viên mầm non và Kế tốn (4000EUR).
2.1.6. Tình trạng hơn nhân
16
Tieu luan
Hình 8. Biểu đồ hộ gia đình tại Phần Lan từ 2010 đến 2018
Trong giai đoạn này, gần như không có sự thay đổi rõ rệt về số lượng các hộ gia
đình tại Phần Lan, con số dao động trong khoảng trung bình là 1,46 triệu gia đình. Năm
2018, tại Phần Lan có 1.468.681 gia đình với 4,03 triệu người, chiếm 73% tổng dân số
Phần Lan.
Công dân của tất cả các quốc gia có thể kết hơn ở Phần Lan. Hơn nhân có thể được
nhập vào bởi bất cứ ai ít nhất 18 tuổi, chưa kết hôn hoặc trong một quan hệ đối tác đã đăng
ký. Hôn nhân giữa hai người cùng giới cũng được phép ở Phần Lan.
2.1.7. Tôn giáo
17
Tieu luan
Hình 9. Tơn giáo tại Phần Lan (2018)
Giáo hội Tin lành Lutheran Phần Lan là tôn giáo chiếm tới 70,9%. Tuy nhiên, mặc
dù tỷ lệ thành viên nhà thờ cao, nhưng chỉ một số ít người Phần Lan đến nhà thờ thường
xuyên. Tuy nhiên, phần lớn mọi người vẫn được rửa tội, kết hôn và được chôn cất với sự
ban phước của nhà thờ Lutheran.
Một số ít người Phần Lan thuộc về Nhà thờ Chính thống Phần Lan, đức tin duy
nhất khác có địa vị của một nhà thờ quốc gia. Các thành viên của nhà thờ Ngũ Tuần tạo
thành một nhóm tơn giáo tương đối nhỏ khác ở Phần Lan, và thậm chí ít người Phần Lan
thuộc về các nhà thờ Tin lành độc lập và Giáo hội Công giáo La Mã . Cộng đồng Do Thái
và Hồi giáo nhỏ có niên đại từ thế kỷ 19, khi Phần Lan là một trong số ít các phần của đế
chế Nga nơi người Do Thái và Hồi giáo có thể thực hành tơn giáo của họ ít nhiều một cách
tự do; tuy nhiên, người Do Thái được trao toàn quyền như công dân chỉ sau khi Phần Lan
độc lập vào năm 1918.
Với việc thành lập giáo đoàn Hồi giáo đầu tiên vào năm 1925, Phần Lan trở
thành quốc gia châu Âu đầu tiên chính thức cơng nhận một giáo đồn Hồi giáo. Định
hướng tôn giáo của khoảng một phần tư người Phần Lan là khơng rõ.
2.1.8. Ngơn ngữ
Phần Lan có hai ngơn ngữ quốc gia là tiếng Phần Lan và tiếng Thụy Điển. Gần
90% dân số nói tiếng Phần Lan. Dân số nói tiếng Thụy Điển được tìm thấy chủ yếu ở khu
18
Tieu luan
vực ven biển ở phía nam, tây nam và tây và ở Quần đảo Åland (nơi tiếng Thụy Điển là
ngôn ngữ chính thức duy nhất). Theo hiến pháp năm 2000, các cơ quan công quyền được
yêu cầu cung cấp cho các nhu cầu của dân số nói tiếng Phần Lan và Thụy Điển của đất
nước trên cơ sở bình đẳng.
Hình 10. Ngôn ngữ tại Phần Lan (2018)
Tiếng Nga và tiếng Estonia cũng được sử dụng bởi một tỷ lệ rất nhỏ người Phần
Lan và có một thiểu số nhỏ Loa Sami ở cực bắc của Phần Lan. Trong số 11 ngôn ngữ Sami,
3 ngơn ngữ được nói ở Phần Lan: Bắc Sami, Inari Sami (chỉ nói ở Phần Lan) và Skolt
Sami. Các ngơn ngữ Sami có liên quan đến tiếng Phần Lan, với Bắc Sami được sử dụng
rộng rãi nhất, gần bốn phần năm dân số Sami.
2.2.
Môi trường kinh tế
Phần Lan là đất nước cơng nghiệp hóa, có nền kinh tế thị trường phát triển và thu
nhập trên đầu người cao nhất Châu Âu, trong nhóm các nước Áo, Bỉ, Hà Lan và Thụy
Điển. Trong đó, thương mại là nguồn thu chính đóng góp hơn 1/3 GDP (khoảng 40%)
trong những năm gần đây.
Trong quá khứ, Phần Lan có thể mạnh trong sản xuất đặc biệt là các sản phẩm gỗ,
sắt thép, công nghệ, viễn thông và công nghiệp điện tử. Đặc biệt Phần Lan thể hiện năng
lực vượt trội trong các lĩnh vực như xuất khẩu công nghệ cho điện thoại hay hỗ trợ khởi
nghiệp trong ngành cơng nghệ thơng tin, trị chơi giải trí, năng lượng sạch và cơng nghệ
19
Tieu luan
sinh học. Ngoại trừ gỗ và một số loại khoáng sản, Phần Lan phải nhập khẩu phần lớn vật
liệu thô, năng lượng và một số mặt hàng sản xuất khác. Do đặc trưng về khí hậu lạnh giá,
ngành nơng nghiệp của Phần Lan phát triển hạn chế chỉ tập trung vào 1 số mặt hàng cơ
bản. Lâm nghiệp là nguồn thu nhập quan trọng của Phần Lan, giải quyết phần lớn việc làm
cho dân số vùng nơng thơn.
Hình 11. Kinh tế Phần Lan từ 2011 đến 2017
2.2.1. Các ngành kinh tế mũi nhọn của Phần Lan
-
Công nghiệp gỗ giấy: đây là một ngành quan trọng của nền kinh tế Phần Lan với
80% sản phẩm dành cho xuất khẩu. Hàng năm, Phần Lan sản xuất khoảng 9 triệu tấn bột
giấy và đứng thứ hai thế giới sau Canada về xuất khẩu giấy, tổng giá trị khoảng gần 4 tỉ
USD/năm.
-
Luyện kim: Phần Lan là một trong những nước đứng đầu Tây Âu về sản xuất đồng
(65.000 tấn/năm) và kẽm (175.000 tấn/năm).
-
Đóng tàu và vận tải: chủ yếu đóng các loại tàu đặc biệt như tàu phá băng, tàu chở
khách, tàu nghiên cứu biển, dàn khoan dầu.
20
Tieu luan
-
Cơ khí: một số sản phẩm nổi tiếng là dây chuyền sản xuất giấy của công ty Metso
và thang máy của công ty Kone. Phần Lan cung cấp khoảng 1/5 máy xén giấy trên thế
giới.
-
Điện tử, viễn thông: Phát triển cao từ những năm cuối 1990 với Hãng viễn thông
nổi tiếng Nokia.
-
Cơng nghiệp hố chất, dược phẩm cũng phát triển cao.
2.2.2. Các chỉ số kinh tế
Theo số liệu từ World Bank và dự án từ Trading Economics, GDP Phần Lan năm
2019 là 291 tỷ USD, chiếm 0,24% trên thế giới.
Hình 12. GDP Phần Lan từ 2010 đến 2019
Điểm tự do kinh tế của Phần Lan là 75,7 khiến nền kinh tế của nước này đứng thứ
20 trong Chỉ số 2020. Phần Lan được xếp hạng thứ 11 trong số 45 quốc gia ở khu vực châu
Âu và điểm tổng thể của nó cao hơn mức trung bình của khu vực và thế giới. Nền kinh tế
Phần Lan đã được hưởng lợi từ sự tự do kinh tế tăng dần trong cuộc sống của Chỉ số. Tăng
trưởng GDP đã tích cực nhưng khiêm tốn. Để Phần Lan tăng cao hơn trong hàng ngũ chủ
yếu là tự do, chính phủ sẽ phải cắt giảm đáng kể chi tiêu, cải cách bộ luật lao động để làm
cho nó thân thiện hơn với thị trường và giảm thuế. Tuy nhiên, chính phủ trung tâm mới đã
21
Tieu luan
cơng bố một chương trình chi tiêu cao hơn cho giáo dục, chăm sóc sức khỏe và các dịch vụ
phúc lợi cùng với sự gia tăng phát triển cơ sở hạ tầng.
Hình 13. Xuất nhập khẩu và cán cân thương mại Phần Lan 1970 - 2019
Hình 14. Các nước xuất nhập khẩu lớn nhất 2019
22
Tieu luan