Tải bản đầy đủ (.pdf) (15 trang)

(TIỂU LUẬN) tiểu luận văn hóa ẩm thực miền bắc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.04 MB, 15 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN


Lớp: DC19VNH01
Ngành: Việt Nam Học
Nhóm: 03
Tên thành viên:
NGUYỄN THỊ MỸ LY
NGUYỄN THỊ THANH TRÀ
LƯƠNG TRỌNG LÂM

PHÚ YÊN, NGÀY 08 THÁNG 01 NĂM 2022

Tieu luan


VĂN HÓA ẨM THỰC MIỀN BẮC
1. Đặc điểm ẩm thực
Vừa mang đặc điểm vùng khí hậu lạnh vừa mang đặc điểm vùng khí hậu
nóng nên
+ Mùa lạnh: Người Bắc ăn rất nhiều thịt và các sản phẩm từ thịt (giò,
chả), dùng nhiều món xào, nấu, kho.
+ Mùa nóng: Ăn nhiều món canh được chế biến bằng phương pháp luộc,
trần…Tỷ lệ ăn có nguồn gốc thực vật nhiều hơn động vật, dùng nhiều
món luộc, nấu…
- Thực phẩm: Dùng nhiều là thịt gia súc (trâu, bò , lơn…) hay thịt gia
cầm (gà, ngang, ngỗng), cá, cua…rau (rau muống, bầu, bí, rau ngót, bắp
cải…), gia vị sử dụng nhiều là dấm, chanh, sấu, ớt, tiêu, gừng, hành,
tỏi…


- Các món ăn ít cay, ít ngọt, nổi mùi thơm trong khi chế biến, ít khi có
đường, ít trực tiếp vồ món ăn, có nhiều món ăn đặc sản truyền thống lâu
đời mang tính độc đáo.
- Khẩu vị miền Bắc hết sức tinh tế và nghiêm ngặt:
"Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tơii
Con chó khóc đứng khóc ngồi
Bà ơi ra chợ mua tơi đồng riềng
Con trâu ngó ngó nghiêng nghiêng,
Mày có củ riềng để tỏi cho tao"
Có lẽ chính quan điểm về cái ăn và phong cách ăn đã gúp phần tạo nên
những món ăn đặc sản của xứ Bắc.
Cách chế biến tinh tế, gia vị thanh nhẹ khiến cho người ăn chiêm ngưỡng,

Tieu luan


không thể vội vã và ồn ào. Nước dùng của phở, của bún thang là thứ nước
nấu
xương với lửa liu riu, sôi lăn tăn không được đun to quá, phải luôn tay
hớt bọt lúc vừa sôi, nấu làm sao để khi dùng là một thứ nước trong vắt
như nước mưa, thoảng màu hơi vàng mà chưa nổi thành màu vàng, nếm
thấy ngọt lịm nơi đầu lưỡi.
Trong ăn uống, cách ứng xử của người Bắc cũng rất tinh tế, nhẹ nhàng
"lời chào cao hơn mâm cỗ", "Ăn trông nồi, ngồi trông hướng", "Kính lão
đắc thọ", "Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp". Bao giờ người
lớn tuổi, người được tơn trọng cũng được mời ăn trước, gắp những miếng
ngon cho người khác. Người miền Bắc ưa được gắp, được mời chào vồn
vã. Trong ăn uống cũng rất khó mời được họ ăn mà phải rất khéo léo, tế
nhị…

2. Nguồn gốc ẩm thực miền Bắc
2.1 Lịch sử
Bắc bộ Việt Nam là nơi ghi dấu ấn lịch sử lâu đời nhất của dân tộc Việt
Nam. Với 1000 năm đô hộ của quân xâm lược phương Bắc, xâm lược của
thực dân Pháp. Vì thế mà cũng có sự ảnh hưởng từ các nước xâm lược về
văn hóa, chữ viết . . . trong đó ẩm thực cũng bị ảnh hưởng. Miền Bắc có
sự ảnh hưởng văn hóa ẩm thực từ Trung Hoa, như: đậu phụ, bánh bao,
hoành thánh, tào phớ, chè mè đen, há cảo, xíu mại, bánh trung thu . . .
Tuy có sự ảnh hưởng nhưng cách chế biến lại khơng giống nhau.
Ví dụ như các món ăn được làm từ đậu phụ giữa Việt Nam và Trung
Quốc không giống nhau. Ở Trung Hoa chè đậu hũ là món ăn rất quen
thuộc. Mùa hè thì người ta ăn chè với đá bào, mùa đơng thì kèm gừng
thái lát. Thượng Hải nổi tiếng với món đậu phụ khơ hầm xì dầu. Ngồi ra
món ăn được ưa thích làm từ đậu phụ là món đậu phụ thối, món này là
đậu phụ được lên men có mùi thum thủm. Ở Việt Nam, đậu phụ thường

Tieu luan


sử dụng vào dịp ăn chay. Các món như đậu hũ chiên, hiện nay có đậu hũ
non được sử dụng để nấu chè, ngồi ra đậu hũ cịn được
lên men nhưng không giống Trung Hoa đậu hũ lên men ở Việt Nam là
chao khơng có mùi q khó chịu nhưng đậu phụ thối.
Món hồnh thánh ở Trung Hoa thì nhân bánh là rau củ và thịt băm còn ở
Việt Nam thì đa số là thịt băm, ngồi ra món này ở Trung Hoa là món ăn
truyền thống vào ngày tết Ngun Đán, trong số hồnh thánh đó sẽ có
một chiếc có bọc cùng nhân một đồng tiền xu, nếu ai ăn trúng thì được
xem như sẽ nhận may mắn cả năm. Há cảo có nguồn gốc từ Triều Châu.
Thường được dùng để làm món điểm tâm hoặc món ăn sáng há cảo là
một loại bánh cực ngon và dễ ăn. Nhân bánh thì có thể đa dạng gồm

thịt, tơm, các loại rau, củ quả hoặc tôm cùng các loại rau củ quả… Món
này có thể chế biến theo hai cách là chiên và hấp nhưng thơng dụng món
hấp vẫn được người ta ưa chuộng hơn. Ở Việt Nam thì nhân đa số là thịt.
Tào phớ ở Trung Hoa và Việt Nam gần giống nhau nhưng ngày nay Tào
phớ đã có sự thay đổi khá nhiều. Tào phớ cịn có kèm theo trân châu, dừa
khơ như Tào phớ ở n Hịa, Cầu Giấy, Hà Nội.
Café của người Việt ảnh hưởng bởi Pháp, café Việt Nam đã thay đổi
nhiều về nguyên liệu ngồi hạt café cịn có hạt ngũ cốc rang cháy, vị café
Việt Nam khác xa so với các nước khác và màu đậm hơn. Có lẻ với bề
dày lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước mà người miền Bắc đã
chống lại những đế quốc xâm lược bằng cách thay đổi sự đồng hóa của
các nước xâm lược về chữ viết, văn hóa, ẩm thực, … để tạo ra nét riêng
của người Việt. Yếu tố lịch sử “khắc nghiệt” như thế đã làm cho con
người nơi đây “mạnh mẽ và chuẩn mực” đến không ngờ. Rồi từ đấy, một
nền văn hóa chuẩn mực từ cái ăn, cái mặc, cái ở đã hình thành. Miền Bắc
là cái nơi hình thành dân tộc Việt Nam, vì thế cũng sinh sơi các nền văn
hóa lớn, phát triển và nối tiếp nhau. Văn hóa Đơng Sơn, văn hóa Đại Việt
và cũng từ trung tâm này, văn hóa Việt lan truyền vào miền Trung rồi đến

Tieu luan


miền Nam. Mặt khác, miền Bắc là một vùng có bề dày lịch sử 4000 năm
dựng nước và giữ nước. Miền Bắc giữ vai trò “hướng đạo” cho các miền
Trung, miền Nam trong quá trình phát triển của lịch sử. Tác giả Thuận Lý
viết: “Tôi cảm thấy khẩu vị miền Bắc nghiêm ngặt đến mức bảo thủ, có lẻ
vì nó được canh giác thường trực để chống nỗi lo bị đồng hóa của người
khổng lồ phương Bắc”. Có lẽ vì thế mà ẩm thực miền Bắc ln cầu kì,
đẹp mắt và phong phú.
2.2 Địa lý

Về vị trí địa lý:
Vùng châu thổ Bắc Bộ là tâm điểm của con đường giao lưu quốc tế theo
2 trục chính: Tây Đơng và Bắc Nam. Vị trí này khiến cho nó trở thành vị
trí tiền đồn để tiến tới các vùng đất khác trong nước và là mục tiêu xâm
lược đầu tiên của những thế lực muốn bành trướng thế lực vào Đông Nam
Á. Nhưng cũng chính vị trí địa lí này tạo điều kiện cho cư dân có thuận
lợi về giao lưu và tiếp thu văn hóa nhân loại.

Hình 1: Bản đồ vùng trung du và miền núi Bắc Bộ

Tieu luan


Về địa hình:
Châu thổ Bắc Bộ là địa hình núi xen kẽ với đồng bằng hoặc thung lũng
(do hệ thống sơng ngịi dày đặc đã tạo nên những vùng trũng), thấp và
bằng phẵng, dốc thoải từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Cư dân ở đồng bằng
Bắc Bộ sống với nghề trồng lúa nước, làm nông nghiệp một cách thuần
túy với hệ thống sông nhất là sông Hồng được bồi đắp phù xa thuận lợi
cho việc trồng lúa nước. Họ đắp đê lấn biển trồng lúa, làm muối và đánh
cá ven biển. Tuy có diện tích đất lớn, nhưng diện tích đất canh tác của
miền Bắc khá hẹp, dân cư lại đơng đúc vì là vùng kinh đơ của cả nước
qua nhiều thời đại, nên bữa cơm hằng ngày
của người dân miền Bắc, nhất là giới bình dân, khá giản dị và kham khổ.
Do việc ni heo, bị, gà, vịt cũng gặp nhiều khó khăn, nên người dân
đồng bằng miền Bắc cũng thường sử dụng thịt chó làm thức ăn. Dần dần,
thịt chó trở thành đặc sản của dân miền Bắc với 7 món: Luộc, chả, dồi,
xáo, chạo, nem. Do diện tích đất canh tác hẹp, lượng lúa gạo khá ít, người
dân miền Bắc đã làm ra sợi bún, dùng thay cơm, vì 1kg gạo làm ra được
3kg bún. Bún được chế biến thành nhiều

món ăn ngon, đặc sắc và được lưu truyền khắp đất nước. Từ các món bún
đơn giản như bún riêu, bún ốc, bún mộc đến các món bún phức tạp như
bún thang, bún chả, bún trở thánh món ăn quen thuộc trên tồn đất nước.
Khi bún được lưu truyền về phía Nam thì phát triển thành bún bị, bún
mắm,...
Ngồi ra, miền Bắc có đường bờ biển lõm, lại bị đảo Hải Nam “thút nút”,
luồng cá biển đi xa, trước đây người Hà Nội và vùng Châu thổ sông Nhị Hồng quen dùng cá (thủy sản) nước ngọt ở sơng - hồ - ao - đầm, ít quen
dùng hải sản.

Tieu luan


Ăn uống của người Việt Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Sơn Tây cũ mang đặc
trưng của người Việt
trung du, xa biển gần rừng, giao tiếp và ảnh hưởng với nhiều dân tộc
thiểu số miền núi nên cũng mang một sắc thái riêng.
Còn người Việt ở Thanh Châu - Nghệ Tĩnh sinh sống ở nơi cảnh quan đa
dạng: Đồng bằng, núi rừng, biển… thiên nhiên không trù phú, sản xuất
không phát đạt như đồng bằng Bắc Bộ nên ăn uống của con người nơi
đây hướng vào mức sao cho no, cho chắc, cần kiệm và giản dị theo
phương châm “tương cà là gia bản”. Vào những khi thiếu gạo thì
người dân độn thêm ngô, khoai. Khoai được chế biến thành nhiều loại:
Khoai sống thái ra phơi khô để độn cơm hoặc để nấu khoai xéo, khoai
đậu (trộn thêm với đậu); khi ăn chấm với vừng, lạc hoặc ăn với cà còn ăn
ngọt thì nêm vào hoặc chấm với đường mật. ngồi ra cịn có món khoai
luộc phơi khơ để ăn bất cứ lúc nào đói.
Ở những nơi xa biển, thay cho mắm cịn có tương cà; cà dằm tương hay
rau muống chấm tương là món thường thấy. Ở đồng bằng Bắc bộ, tương
của vùng Bắc Ninh, Sơn Tây, Hưng Yên rất ngon; đặc biệt tương bần
Hưng Yên ngon nổi tiếng còn ở Nghệ Tĩnh có tương Nam Đàn. Ngồi ra,

người Nghệ Tĩnh cịn có món nhút, nổi tiếng nhất là nhút Thanh Chương
(nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn). Đó là loại dưa muối chua, chủ
yếu từ xơ quả mít non, có thêm gia vị gừng, hành. Giữa các sắc thái địa
phương ấy, ăn uống của người Hà Nội, kinh đô cả nước qua nhiều
thời đại, kế thừa cái nền của ẩm thực Kinh Bắc, thu hút tinh túy muôn
nơi, đạt tới đỉnh cao nhất nghệ thuật ăn uống, là tiêu biểu cho ăn uống của
người Việt Bắc Bộ và cả nước.
2.4 Văn hóa

Tieu luan


Nhắc đến miền Bắc ai cũng nghĩ đến hình ảnh cây đa, giếng nước, mái
đình, hội làng. Khi khai khẩn đất hoang để tạo làng xây nhà con người
ln tìm những nơi gần sông để thuận tiện cho việc đi lại, trao đổi hàng
hóa giữa các làng các bn với nhau. Mỗi làng đều có giếng nước, đây là
nơi tụ họp của người phụ nữ, họ có thể sinh hoạt ở nơi đây, trao đổi
với nhau. . . Còn những người đàn ông, họ thường tụ họp ở hội làng, mái
đình nơi đây sẽ diễn ra các lễ hội, cúng kiếng thần linh, hay những việc
tranh cãi giữa những người trong 17 làng, . . . Hình ảnh cây đa là nơi có
quán nước để thuận tiện cho việc nghỉ chân của khách
đi xa hay người dân trong làng có thể nghỉ ngơi sau giờ ra đồng. Bà chủ
quán nước là người lớn tuổi trong làng họ biết mọi chuyện trong làng từ
chuyện nhỏ như: nhà ai mất con gà, . . . đến chuyện ai xích mích với ai,
nhà nào ở đâu, . . . đều biết rõ từng chi tiết.
Ứng xử trong ăn uống:
Cách ứng xử của người Bắc trong ăn uống rất tinh tế, nhẹ nhàng. Dân
gian thường có các câu châm ngơn nói về ăn uống với các khía cạnh tinh
thần và xã hội của nó:
“Lời chào cao hơn mâm cổ”

“Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”
“Chẳng được miếng thịt miếng xơi, thì được lời nói cho vừa lịng tơi”
Bao giờ người lớn tuổi, người được tơn trọng cũng được mời ăn trước,
gắp những miếng ngon cho người khác. Người miền Bắc ưa được gắp,
được mời chào vồn vã. Trong ăn uống cũng rất khó mời được họ ăn mà
phải rất khéo léo, tế nhị.

3. Các món ăn đặc trưng
A. Phở Hà Nội

Tieu luan


Hà Nội vốn đẹp và nổi tiếng bởi có hương hoa sữa nồng nàn len lỏi trong
những con phố cổ kính, với mặt hồ lung linh và những món ăn đã đi vào
huyền thoại. . Nước dùng của phở được làm từ nước ninh của xương bò:
xương cục,xương ống và xương vè. Thịt dùng cho món phở có thể là bò,
hoặc gà. Bánh phở phảimỏng và dai mềm, gia vị của phở là hành lá, hạt
tiêu, giấm ớt, lát chanh thái. Phở ln phải ăn nóng mới ngon, người Hà
Nội còn ăn kèm với những miếng quẩy nhỏ. Tuy nhiên, để có được
những bát phở ngon cịn tùy thuộc vào kinh nghiệm và bí quyết
truyềnthống của nghề nấu phở.Có thể nói, Phở Hà Nội có cái ngọt chân
chất của xương bị, cái thơm của thịt vừachín đến độ để vẫn dẻo mà lại
không dai. Màu nước phở trong, bánh phở mỏng và mềm.Chỉ nhìn bát
phở thơi cũng đủ thấy cái chất sành điệu, kỹ càng trong ăn uống của
ngườiHà Nội. Một nhúm bánh phở đã trần qua nước nóng mềm mại dàn
đều trong bát, bên trênlà những lát thịt thái mỏng như lụa điểm mấy ngọn
hành hoa xanh nõn, mấy cọng rau thơm xinh xắn, mấy nhát gừng màu
vàng chanh thái mướt như tơ, lại thêm mấy lát ớt tháimỏng vừa đỏ sậm
vừa màu hoa hiên.Phở Hà Nội là như thế, đó là cái ngon của tất thảy

những chất liệu đời thườngViệt Nam nhưng đã được bàn tay tài hoa của
người Hà Nội làm thành tác phẩm!

Hình 2: Sự đa dạng của Phở (Gà, lợn (heo), quẩy)

Tieu luan


Hình 3: Phở Hà Nội

B. Bún Thang Hà Nội
Sở dĩ gọi là bún thang vì từ “thang” để chỉ nhiều thành phần cùng phối
hợp, như thang thuốc Đơng y.
Cũng có nhà nghiên cứu ẩm thực cho rằng từ “thang” trong tiếng Hán
nghĩa là canh, “bún thang” nghĩa là “bún chan bởi canh”. Do đó, nguồn
gốc của bún thang cũng có thể bắt nguồn từ món canh thượng thang của
người Hà Nội xưa.
Có thể giải thích nguồn gốc tên gọi “bún thang” theo nhiều cách khác
nhau, nhưng sẽ chỉ có một từ để nói lên sự hấp dẫn, quyến rũ riêng của
món ăn này, đó là “Tuyệt vời!”.
Làm từ thực phẩm cịn dư ngày Tết, nên bát bun thang có mỗi thứ một
chút, thậm chí là vụn vặt. Vì thế, để “chuẩn hóa hình dạng” ngun liệu
nấu bún thang, những phụ nữ Hà Nội đã mang đồ ăn ra thái chỉ hoặc xé
nhỏ. Nhờ đó, bún thang rất đa sắc, đa vị.
Khơng rõ bún thang có từ bao giờ. Nhưng ở những năm đầu của thế kỷ
trước, bún thang được xếp vào hàng món ăn chơi của dân nhà giàu bởi
muốn làm ra một bát bún thang đúng nghĩa phải rất tốn kém. Dân nghèo
không dám ăn.

Tieu luan



Sự cầu kỳ trong các nguyên liệu làm nên bát bún thang.
Theo lời kể của những cụ cao tuổi người Hà Nội gốc, nồi nước dùng cho
món bún thang được chế biến công phu từ 1 - 2 con gà trống thiến, tơm
he chính hiệu Thanh Hóa, ninh kỹ, liên tục hớt bọt để tạo độ trong, ngọt
và giữ chất đạm tự nhiên.
Bún thang cũng là một món ngon Hà Nội được nhiều người yêu thích.
Chữ thang ở đây là canh, nghĩa là bún chan từ một thứ nước canh đặc biệt
bởi vì nồi nước dùng là linh hồn của món bún thang. Đây cũng chính là
ngun nhân khiến bún thang khơng được phổ biến như các món bún
khác. Nó được ninh thật kỹ bằng xương gà,xương lợn và tôm he khô.
Trong khi ninh phải trông chừng để vớt hết bọt cho nước thậttrong. Một
bát bún thang gồm bún rối trắng tinh với trứng tráng thật mỏng, thái chỉ
tơ.Thịt gà có lườn trắng, đùi nâu, da vàng óng, xé nhỏ. Giị lụa thái chỉ,
đặt ở một góc kèm theo một chút củ cải khô đã ngâm kỹ và tẩm nước
mắm, dấm cho vừa ăn. Trên cùng là rau răm, rau mùi, hành hoa, hành củ.
Và có lẽ khơng nên thiếu một chút xíu mắm tơm cho đậm đà món bún
đặc sản Hà Nội. Có thể nói khơng ngoa rằng mắm tơm chính là cái nét
dun thầm của món ngon Hà Nội này

Tieu luan


.
Có người ví vui rằng “bún thang khơng mắm tơm như ăn phở mà chẳng
có nước dùng”. Thêm một lưu ý khi thưởng thức món bún này là cà
cuống. Dầu cà cuống có hương vị cay rất đặc biệt, ai đã nếm thử qua và
hợp khẩu vị rồi thì sẽ nhớ hoài. Chỉ cần 1, 2 giọt cà cuống, bát bún thang
trở nên ngây ngất, quyến rũ người ăn đến từng giọt cuối cùng.Một điểm

đặc biệt mà bún thang khác hẳn với các loại bún, phở khác là không nên
dùng chung với rau sống. Ăn bún thang thì phải thật nóng, càng nóng
càng ngon. Rau sống dễ làm cho bát bún chóng nguội nên cũng dễ mất đi
mùi vị bốc lên từ bát bún nghi ngút khói
C. Bún Chả Hàng Mành
Bún chả từ lâu đã trở thành một món ăn quen thuộc không chỉ đối với
người Hà Nội. Đây là món ăn giản dị, dễ ăn và thích hợp cho tất cả mọi
người Bún chả Hàng Mành không phải là món ăn quá cầu kỳ, ngược lại
cách làm khá đơn giản. Miếng chả phải được nướng đỏ vàng trên than
hoa, chín vừa, thơm, ngậy. thịt ba chỉhoặc thịt nách. Thịt phải được ướp
tẩm kỹ lưỡng. Cũng là thịt làm bún chả nhưng với tay người đầu bếp

Tieu luan


khéo thì miếng thịt thơm, vừa chín tới, màu sắc vàng rộm, vừa giịn
vừadẻo.Món này khơng thể thiếu được gia vị, nước chấm. Nước chấm
bún chả chính là linh hồn,yếu tố quyết định độ ngon của món ăn: gia vị
pha vừa, khơng được mặn q, chua q, có vắt thêm chút chanh giúp
nước chấm thơm mà không gắt vị dấm, “đính kèm” thêm một chút đu đủ
giầm sần sật để hòa vị cùng với miếng thịt nướng thơm vàng. Khi ăn
thựckhách cịn có thể uống nước chấm một cách ngon lành với sự hứng
khởi thực sự.Loại bún dùng trong bún chả Hàng Mành được ưa chuộng
nhất là thứ bún rối, mềm, sợinhỏ, ăn thơm mềm mà không bị nát. Bún chả
Hàng Mành sẽ ngon hơn khi ăn kèm với đĩa rau sống gồm có xà lách,
kinh giới, tía tơ, rau muống chẻ… Các loại rau ở đây được lựachọn kỹ
càng, mùa nào rau nấy. Rau sạch, ngọt mát giúp tăng vị đậm đà của món
ăn. Sợi bún trắng tinh hịa với màu xanh của rau sống Láng nổi tiếng từ
xưa, tất cả tạo nên hươngvị món ngon Hà Nội khơng thể nào quên. Đó là
cái ngậy, béo của thịt, cái mát của rau,thơm của nước chấm và nếu ai ăn

được cay thì thêm chút ớt nữa thì thật tuyệt.
D. Bánh Cuốn Thanh Trì
Bánh cuốn Thanh Trì là món ăn nổi tiếng của người Hà Nội, là đặc sản
của phường Thanh Trì, Quận Hồng Mai, Hà Nội. Bánh được làm từ gạo
gié cánh, tám thơm, tráng mỏng như tờ giấy.
Món đồ ăn dân dã mang hương vị đặc trưng của nền văn minh lúa nước
này ra đời cách đây mấy ngàn năm, tương truyền là do Hoàng tử An Quốc
là con trai của Hùng Vương thứ 18 dạy cho dân làng nơi đây tới lập nghiệp
cách làm bánh cuốn vì vậy mới có tên bánh cuốn Thanh Trì.

Tieu luan


Thanh Trì có bánh cuốn ngon,
Có gị Ngũ nhạc,có con sơng Hồng,
Thanh Trì cảnh đẹp, người đơng,
Có cây sáo trúc bên đồng lúa xanh.

Câu ca dao cổ trên phần nào đã cho thấy sự nổi tiếng và vị ngon độc đáo
của mónbánh cuốn Thanh Trì.
Làm bánh cuốn cũng khá cơng phu, bột tráng bánh phải chọn loại gạo
ngon, xay mịn như nước, từng lá bánh được tráng trên khuôn vải căng
chụp trên nồi nước sôi. Mỗi lá bánh mỏng tang như tờ giấy, được thoa
thêm một chút mỡ phi hành cho thơm.
Khách ăn đến đâu, người bán khẽ bóc từng lá đến đấy như tách thứ lụa
mỏng, mịn mỡ màng.Bánh cuốn không chỉ ngon và trông đẹp mắt, để
thưởng thức trọn vẹn vị ngon của bánh cần có nước chấm. Nước chấm
khéo pha với các loại nước mắm ngon, dấm nếp, thêm vài lát ớt tươi, giọt
cà cuống và hành phi . Bánh có thể ăn kèm với chả quế, ruốc thịt, ruốc
tơm hấp nóng trong một nồi nước.* Mỗi đĩa bánh cuốn Thanh Trì với

mươi lá mỏng là đủ một bữa điểm tâm thanh cảnh mà ngon lành.Hình ảnh
những cơ hàng bên thúng bánh cuốn đã trở thành hình ảnh thân quen
vớinhững người dân sinh sống tại Hà Nội. Chỉ là món quà quê dân dã
nhưng bánh cuốn Thanh Trì đã thổi hồn cho ẩm thực Hà Nội, tinh tế mà
thanh cao

Tieu luan


Tieu luan



×