MỞ ĐẦU
Với điều kiện nền kinh tế - xã hội phát triển như hiện nay, Trọng tài thương
mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại được các thương nhân sử
dụng một cách phổ biến. Thỏa thuận trọng tài là yếu tố cơ bản cần thiết, là sợi chỉ
đỏ xuyên suốt toàn bộ hoạt động trọng tài kể từ lúc khởi đầu trọng tài cho đến khi
công nhận và thi hành phán quyết trọng tài. Hiệu quả của hoạt động tố tụng trọng
tài phụ thuộc một phần không nhỏ vào thỏa thuận trọng tài. Sự cần thiết hoàn thiện
các chế định pháp lý về thỏa thuận trọng tài do đó cũng là một yêu cầu tất yếu và
là hạt nhân quan trọng trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý về Trọng tài
thương mại. Thực tiễn pháp luật và áp dụng pháp luật về Trọng tài thương mại ở
Việt Nam cho thấy, nhiều doanh nghiệp còn chưa đánh giá đúng vai trò của thỏa
thuận trọng tài nên trong quá trình soạn thảo, ký kết thỏa thuận trọng tài cịn nhiều
thiếu sót dẫn đến những tranh chấp khơng đáng có về thỏa thuận trọng tài. Bên
cạnh đó, pháp luật hiện hành về thỏa thuận trọng tài cịn có nhiều hạn chế, bất cập
nên đã gây nhiều cản trở cho hoạt động đưa tranh chấp ra giải quyết tại trọng tài
thương mại và làm giảm tính hấp dẫn của phương thức giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài thương mại. Đó chính là lí do em lựa chọn và phân tích đề bài số 09:
“Bình luận quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thỏa thuận trọng tài
thương mại” cho bài tập học kì của mình.
NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ THỎA THUẬN
TRỌNG TÀI
1. Khái niệm, phân loại
Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong
hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ
tục tố tụng do Luật trọng tài thương mại 2010 (LTTTM) quy định.
1
“Hoạt động thương mại” được hiểu là việc thực hiện một hay nhiều hành vi
thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng
dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua;
xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li – xăng, đầu tư; tài chính, ngân hàng… và các hành vi
khác theo quy định của pháp luật.
Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên cam kết giải quyết bằng trọng
tài các vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh trong hoạt động thương
mại.
Có hai loại trọng tài là trọng tài thường trực và trọng tài vụ việc (ad-hoc).
Điểm khác biệt cơ bản giữa hai mơ hình này là việc trọng tài vụ việc chỉ được
thành lập khi tranh chấp đã phát sinh và tự giải thể khi tranh chấp đã được giải
quyết xong. Trong khi đó, trọng tài thường trực tồn tại có tính chất ổn định, có
trọng tài viên riêng, có điều lệ và quy tắc tố tụng riêng. Trọng tài thường thực là
một thực thể pháp lý độc lập với đầy đủ các dấu hiệu của một pháp nhân, trong đó
dấu hiệu quan trọng nhất là có tài sản riêng và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của
mình.
Việc lựa chọn hình thức trọng tài nào để giải quyết tranh chấp hồn tồn phụ
thuộc vào ý chí của các bên. Tuy nhiên, dù là trọng tài thường trực hay vụ việc thì
đều khơng phải là cơ quan thuộc bộ máy nhà nước, do vậy trọng hoạt động xét xử,
trọng tài khơng được sử dụng quyền lực cơng như tịa án. Chính vì hoạt động xét
xử của trọng tài khơng gắn liền với quyền lực công nên trọng tài được coi là cơ
quan tài phán tư.
2. Những ưu điểm, hạn chế của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
thương mại
a) Ưu điểm
Hiện nay trên thế giới, trọng tài đã trở thành một phương thức phổ biến để
giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh. Ưu thế của trọng tài so với các phương
2
thức hòa giải khác như tòa án, hòa giải, thương lượng chủ yếu xuất phát từ các
nguyên tắc hoạt động của nó. Trước hết, so với Tịa án thì trọng tài có những ưu
điểm sau:
Thứ nhất, giải quyết bằng phương thức trọng tài đảm bảo tối đa quyền tự do
thỏa thuận của các bên. Mọi tranh chấp được đưa ra giải quyết bằng trọng tài đều
dựa trên yếu tố thỏa thuân. Các bên có thể tự do thỏa thuận về việc lựa chọng
trung tâm trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài, trọng tài viên, luật áp dụng, ngôn ngữ
hay về thời gian cũng như địa điểm giải quyết tranh chấp và nhờ vậy có thể chủ
động và tiết kiệm thời gian trong việc kinh doanh., khác biệt với Tòa án khi họ
phải tuân thủ những thủ tục tố tụng do luật định.
Thứ hai, phương thức trọng tài với nguyên tắc xét xử một lần và quyết định
của trọng tài có giá trị chung thẩm đã giảm nhẹ gánh nặng về mặt thủ tục pháp lý
cho các bên tranh chấp, giúp họ tiết kiệm thời gian và chi phí qua đó nâng cao hiệu
quả kinh doanh. Mặc dù vậy, phán quyết của trọng tài vẫn đảm bảo được tính thi
hành vì pháp luật cho phép các bên tự do thỏa thuận về các yếu tố trong quá trình
giải quyết bằng trọng tài. Còn giải quyết bằng Tòa án, các bên sẽ mất nhiều thời
gian do phải trải qua hàng loạt cấp xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái
thẩm.
Thứ ba, phương thức trọng tài đảm bảo bí mật trong quá trình giải quyết
tranh chấp. Cơ chế này đảm bảo bí mật kinh doanh và uy tín nghề nghiệp cho các
thương nhân có liên quan tới vụ tranh chấp, nhất là trong các tranh chấp có liên
quan đến sở hữu trí tuệ, bí mật kinh doanh. Trong khi đó, ngun tắc xét xử của
tịa án là xét xử cơng khai.
Thứ tư, các bên tranh chấp chủ động tìm và lựa chọn các trọng tài viên để
giải quyết tranh chấp cho họ. Điều này giúp cho việc giải quyết tranh chấp hiệu
quả, nhanh chóng bởi các bên tranh chấp có thể lựa chọn các trọng tài viên, những
chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực có liên quan.
3
Thứ năm, các phán quyết của trọng tài có thể được cơng nhận và cho thi
hành ở nước ngồi. Cơng ước New York 1958 về công nhận và cho thi hành các
quyết định của trọng tài nước ngoài đã quy định rằng các thành viên của trọng tài
mà nước bên kia cũng là thành viên.
Ngoài ra, so với hai phương thức cịn lại là thương lượng, hịa giải thì trọng
tài cũng có những ưu điểm vượt trội. Đó chinh là khung pháp luật điều chỉnh các
phương thức này. Trong khi LTTTM 2010 là khung pháp luật cơ bản điều chỉnh
hoạt động của trọng tài thì thương lượng, hịa giải vẫn chỉ là những hoạt động
mang tính tự phát, chưa có văn bản pháp luật điều chỉnh cụ thể. Chính vì thế mà
giá trị pháp lý của thương lượng, hòa giải không được đảm bảo thi hành, chủ yếu
dựa trên sự tự giác của các bên.
b) Hạn chế
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm và lợi ích vượt trội thì trọng tài cũng có
những hạn chế nhất định:
Thứ nhất, phán quyết trọng tài mang tính chung thẩm là một ưu thế lớn
nhưng cũng chính là nhược điểm của phương thức này vì việc khơng cho các bên
kháng cáo, kháng nghị có thể dẫn tới khó khăn trong việc phát hiện và sửa chữa
sai phạm trong quá trình giải quyết tranh chấp.
Thứ hai, chi phí cho việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài thường được ấn
định trước và cao hơn rất nhiều so với các phương thức giải quyết tranh chấp khác.
Đây là một trở ngại không nhỏ cho các bên tranh chấp muốn tìm đến các Trung
tâm trọng tài.
Thứ ba, phạm vị các tranh chấp có thể giải quyết bằng trọng tài còn hạn chế,
chỉ giớ hạn trong các tranh chấp thương mại
Ngồi ra cịn một số nhược điểm khác có thể đề cập đến như: thẩm quyền hạn
chế của Hội đồng trọng tài trong việc sự dụng biện pháp cưỡng chế; sự cứng nhắc
4
của việc giải quyết khiếu nại trong mối quan hệ với khiếu kiện khác hoặc với bên
thứ ba…
3. Ý nghĩa của thỏa thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại
Thỏa thuận trọng tài là yếu tố không thể thiếu trong tố tụng trọng tài thương
mại, vai trò quan trọng này của thỏa thuận trọng tài được thể hiện ở các phương
diện sau:
Thứ nhất, thỏa thuận trọng tài có tác dụng ràng buộc các bên, bởi nó được
xác lập dựa trên cơ sở ý chí tự nguyện và bình đẳng của các bên. Một khi đã xác
lập thỏa thuận trọng tài thì khơng bên nào được thối thác việc giải quyết tranh
chấp tại trọng tài. Qua đó, nâng cao ý thức trong việc thực hiện những nghĩa vụ đã
cam kết, là một biện pháp tích cực để phịng ngừa các tranh chấp.
Thứ hai, thỏa thuận trọng tài loại trừ thẩm quyền xét xử của tòa án đối với
tranh chấp. Tuy nhiên điều lại không loại trừ sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt
động giải quyết tranh chấp khi: có khiếu nại liên quan đến thỏa thuận trọng tài vô
hiệu, yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, chỉ định trọng tài viên
(trong trường hợp trọng tài vụ việc) và khi có căn cứ pháp luật để đề nghị Tòa án
hủy quyết định trọng tài.
Thứ ba, thỏa thuận trọng tài là yếu tố quan trọng nhất, luôn được đặt lên hàng
đầu từ khi đưa tranh chấp thương mại ra trọng tài cho tới khi phán quyết trọng cuối
cùng được đưa ra. Việc xác định thẩm quyền, phạm vi thẩm quyền của Hội đồng
trọng tài trong việc giải quyết tranh chấp phụ thuộc vào các giới hạn đặt ra trong
thỏa thuận trọng tài. Đặc biệt với những tranh chấp có yếu tố nước ngồi, thoải
thuận trọng tài còn cho phép lựa chọn nơi tiến hành tố tụng trọng tài, luật được áp
dụng và ngôn ngữ trọng tài trong điều kiện phù hợp nhất.
Từ những phân tích trên đây, có thể khẳng định rằng, thỏa thuận trọng tài
được xem là vấn đề then chốt và có vai trò quyết định đối với việc áp dụng Trọng
5
tài thương mại như một phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh. Có
thể nói, khơng có thỏa thuận trọng tài thì khơng có việc giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài. Nhưng trên thực tế hiện nay, thỏa thuận trọng tài vẫn chưa phát huy hết
khả năng và vai trị to lớn của mình, vẫn cịn nhiều vướng mắc liên quan đến thỏa
thuận trọng tài làm cản trở quá trình tố tụng trọng tài cần sớm được khắc phục và
hồn thiện.
II. BÌNH LUẬN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN
HÀNH VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI
Với mỗi quốc gia, do ảnh hưởng của các yếu tố: kinh tế, chính trị, phong tục
tập qn cũng như trình độ lập pháp khác nhau mà hệ thống pháp luật của mỗi
nước đều mang những nét riêng biệt, ngay cả với những nhưng quy định về thỏa
thuận trọng tài cũng vậy. Sự ghi nhận của pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng
tài được thể hiện qua những khía cạnh sau:
1. Hệ thống quy định của pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài tại Việt
Nam hiện nay
Cơ sở pháp lý chủ yếu cho hoạt động của trọng tài thương mại được tạo thành
bởi quy định trong các văn bản sau đây:
- Công ước New York 1958 về Công nhận và Thi hành các Quyết định của
Trọng tài nước ngoài mà Việt Nam là thành viên, nội dung cơ bản của cơng ước đã
được luật hóa tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 (Chương XXXII thủ tục giải quyết các
việc dân sự liên quan đến hoạt động trọng tài thương mại Việt Nam
- Luật thương mại năm 2005 quy định việc giải quyết tranh chấp với hình
thức trọng tài tại Điều 317.
6
- Luật thi hành án năm 2008 trong đó, có quy định về tố chức thủ tục thi hành
quyết định của Trọng tài nước ngồi được Tịa án Việt Nam công nhận và cho thi
hành tại Việt Nam và quyết định của Trọng tài Thương mại Việt Nam.
- Luật trọng tài thương mại năm 2010 (LTTTM) Đây là văn bản điều chỉnh
chủ yếu các hoạt động của trọng tài thương mại.
2. Bình luận các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thỏa thuận
trọng tài
- Nghị định số 63/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật trọng tài thương mại năm 2010.
Các quy định về Thỏa thuận trọng tài được quy định tại Chương I và II của
LTTTM 2010. Luật đã làm rõ được khái niệm hình thức và giá trị của Thỏa thuận
trọng tài cũng như tính độc lập của điều khoản trọng tài so với hợp đồng. Về cơ
bản, những quy định này tương thích với các quy định của Luật Mẫu về Trọng tài
Thương mại quốc tế của UNCITRAL (Luật Mẫu) và pháp luật trọng tài của nhiều
nước trên thế giới. Tuy nhiên, pháp lệnh chưa bao quát được một cách đầy đủ về
tính đồng bộ và hệ thống các quy định về Thỏa thuận trọng tài. Cụ thể:
2.1. Trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ quan hệ ngồi
hợp đồng hay khơng?
Trong phần định nghĩa về Thỏa thuận trọng tài (khoản 2 điều 3), LTTTM
2010 chưa làm rõ được vấn đề tranh chấp phát sinh từ quan hệ ngồi hợp đồng có
được giải quyết bằng Trọng tài hay khơng. Vấn đề này có ý nghĩa quan trọng trong
việc xác định thẩm quyền của Trọng tài cũng như việc công nhận và cho thi hành
phán quyết trọng tài. Theo khoản 2 điều 3 của LTTTM thì: “Thỏa thuận trọng tài
là thỏa thuận giữa các bên giải quyết bằng Trọng tài các tranh chấp có thể phát
sinh hoặc đã phát sinh” trong hoạt động thương mại. Như chúng ta đều biết, quan
hệ thương mại rất đa dạng và phong phú. Nhiều quan hệ có thể xác định bằng hợp
7
đồng cụ thể được ký kết giữa các bên. Tuy nhiên, cũng có nhiều tranh chấp khơng
phát sinh từ quan hệ hợp đồng, ví dụ tranh chấp phát sinh do việc địi bồi thường
thiệt hại ngồi hợp đồng như tàu đâm vào cầu cảng, tàu đâm vào nhau v.v… Hiểu
theo định nghĩa trên thì các tranh chấp khơng có quan hệ hợp đồng cũng có thể
được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thỏa thuận đưa tranh chấp ra giải
quyết tại Trọng tài. Do đó, để hạn chế tối đa những rủi ro trong việc áp dụng luật,
Pháp lệnh cần cụ thể hóa việc xác định thẩm quyền của Trọng tài tương thích với
Luật Mẫu. “Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận mà các bên đưa ra Trọng tài mọi
tranh chấp nhất định phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa các bên về quan hệ
pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không phải là quan hệ hợp đồng
…” (Điều 7 Khoản 1). Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành quyết
định của trọng tài nước ngoài cũng quy định rất rõ về vấn đề này: “Mỗi quốc gia
thành viên sẽ cơng nhận một thỏa thuận bằng văn bản, theo đó các bên cam kết
đưa ra trọng tài xét xử mọi tranh chấp đã hoặc có thể phát sinh giữa các bên từ
một quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không, liên quan đến
một đối tượng có khả năng giải quyết tranh chấp bằng trọng tài” (Điều II). Luật
Trọng tài của hầu hết các nước trên thế giới như Luật Trọng tài Anh, Luật Trọng
tài Đức, Luật Trọng tài Hàn Quốc, Luật Trọng tài Nga, Luật Trọng tài Nhật Bản
v.v… đều quy định các tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng hoặc ngoài hợp
đồng đều được giải quyết bằng Trọng tài.
2.2. Phạm vi quy định về hình thức của Thỏa thuận trọng tài mở rộng hơn so
với quy định cũ trong Pháp lệnh
Điều 9 Khoản 1 Pháp lệnh quy định: “Thỏa thuận trọng tài phải được lập
bằng văn bản. Thỏa thuận trọng tài thông qua thư, điện báo, telex, fax, thư điện tử
hoặc hình thức văn bản khác thể hiện rõ ý chí của các bên giải quyết vụ tranh
chấp bằng trọng tài được coi là thỏa thuận trọng tài bằng văn bản”. Quy định
trên đã xác định được tiêu chí hình thức bắt buộc đó là Thỏa thuận trọng tài phải
được lập bằng văn bản. Tuy nhiên, nội hàm của khái niệm “văn bản” vẫn còn hẹp
8
so với Luật Mẫu và luật trọng tài các nước. Luật Mẫu cũng có quy định bắt buộc
Thỏa thuận trọng tài phải được bằng văn bản. Tuy nhiên, phạm vi khái niệm “văn
bản” rất rộng. Thỏa thuận được coi là bằng văn bản nếu nó nằm trong một văn bản
được các bên ký kết hoặc bằng sự trao đổi qua thư từ, telex, điện tín hoặc các hình
thức trao đổi về đơn kiện và bản biện hộ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thỏa
thuận do một bên đưa ra và bên kia không phản đối. Việc dẫn chiếu trong hợp
đồng tới một văn bản ghi nhận điều khoản trọng tài lập nên Thỏa thuận trọng tài
với điều kiện hợp đồng này phải là văn bản và sự dẫn chiếu đó là một bộ phận của
hợp đồng này. Luật Trọng tài Anh còn tiến một bước rất xa trong việc quy định
phạm vi thỏa thuận bằng văn bản. Theo đó, có một thỏa thuận bằng văn bản khi:
thỏa thuận được lập bằng văn bản (cho dù nó có được các bên ký hay không); thỏa
thuận được lập thông qua việc trao đổi các thông tin bằng văn bản, hoặc thỏa thuận
được chứng minh bằng văn bản. Thậm chí, trong quá trình tố tụng trọng tài hoặc tố
tụng tư pháp, nếu nếu một thoả thuận không được xác lập bằng văn bản nhưng
được một bên viện dẫn và bên kia khơng phủ nhận thì việc trao đổi đó tạo thành
một thỏa thuận bằng văn bản có giá trị pháp lý.
Nắm bắt được điểm bất cập này, LTTTM 2010 đã có quy định rộng hơn, đầy
đủ hơn về hình thức của Thỏa thuận trọng tài, theo đó tại khoản 2 điều 16 thì:
“2. Thoả thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn bản. Các hình
thức thỏa thuận sau đây cũng được coi là xác lập dưới dạng văn bản:
a) Thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax,
telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;
b) Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa
các bên;
c) Thỏa thuận được luật sư, cơng chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi
chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên;
9
d) Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa
thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự
khác;
đ) Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại
của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận.”
Như vậy, quy định của Luật về hình thức của thỏa thuận trọng tài đã tương
thích hơn so với Luật Mẫu và luật trọng tài các nước.
2.3. Quy định về quan hệ giữa hiệu lực của thỏa thuận trọng tài với hiệu lực
của hợp đồng liên quan
Sự độc lập trong quan hệ giữa thỏa thuận trọng tài và hợp đồng được quy
định tại Điều 19 LTTTM: “Thoả thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng.
Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thực
hiện được không làm mất hiệu lực của thoả thuận trọng tài”.
Đây là một quy định đặc thù về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, dù thỏa
thuận trọng tài được thế hiện dưới hình thức một điều khoản nằm trong hợp đồng
chính hay dưới hình thức văn bản riêng đi kèm hợp đồng chính thì thỏa thuận
trọng tài thực chất chính là một hợp đồng nhỏ có nội dung khác biệt và giá trị độc
lập với hợp đồng chính. Điều đó có nghĩa, ngay cả khi hợp đồng chính có sự thay
đối nhưng việc giải quyết tranh chấp đã được các bên thỏa thuận bằng phương
thức trọng tài thì sự thay đổi đó cũng khơng ảnh hưởng đến thỏa thuận trọng tài, và
Trọng tài hồn tồn có thể giải quyết tranh chấp của các bên khi hợp đồng vô hiệu
hoặc các điều khoản khác vơ hiệu.
Tuy nhiên, trong q trình áp dụng pháp luật lại pháp sinh một số vấn đề liên
quan tới tính độc lập về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài so với hiệu lực của hợp
đồng, như sau:
10
Một là, với trường hợp thỏa thuận trọng tài là một điều khoản nằm trong hợp
đồng chính, pháp luật quy định thỏa thuận trọng tài có tính chất độc lập với hợp
đồng thì một vấn đề đặt ra là thẩm quyền của người ký kết hợp đồng và thẩm
quyền của người ký kết thỏa thuận trọng tài là có hay khơng đồng nhất. Ví dụ như,
trên thực tế khi các bên chấp nhận thực hiện một hợp đồng có khiếm khuyết về
thẩm quyền của người ký kết, nhưng lại không chấp nhận hiệu lực của thoả thuận
trọng tài trong trường hợp này thì có được hay khơng? Điều này hiện nay chưa có
quy định nào điều chỉnh một cách rõ ràng, cụ thế. Hơn nữa, một khi đã mở rộng
phạm vi thẩm quyền của trọng tài ra tới những vụ tranh chấp ngồi hợp đồng thì
việc ghi nhận một cách rõ ràng về thâm quyền của người ký kết thỏa thuận trọng
tài lại càng có ý nghĩa.
Hai là, trong trường hợp thỏa thuận trọng tài là một điều khoản của hợp
đồng, khi có tranh chấp, các bên đưa ra giải quyết tại trọng tài và trọng tài có thẩm
quyền giải quyết vụ tranh chấp theo thỏa thuận của các bên. Tuy nhiên, trong quá
trình giải quyết tranh chấp, trọng tài phát hiện ra hợp đồng mà các bên giao kết và
cả điều khoản trọng tài chứa đựng trong đó đều vơ hiệu thì một vấn đề đặt ra là:
khi đó trọng tài sẽ khơng có quyền tun hợp đồng vơ hiệu nhưng trọng tài có
được quyền tuyên thỏa thuận trọng tài vô hiệu đế làm căn cứ từ chối thụ lý vụ
tranh chấp hay không? Đây là trường hợp phát sinh trong thực tiễn mà hiện nay
chưa có một quy định pháp luật nào điều chỉnh một cách cụ thể.
Ba là, trường hợp thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận cách thức giải quyết
tranh chấp đối với một hợp đồng cụ thể, hợp đồng đó về bản chất là vơ hiệu,
nhưng thỏa thuận trọng tài lại không vô hiệu, vấn đề đặt ra là các bên tranh chấp
có hay khơng quyền được yêu cầu trọng tài giải quyết các vấn đề liên quan đến
hợp đồng vô hiệu. Nếu trọng tài khơng có thẩm quyền xem xét vấn đề này khi các
bên yêu cầu thì việc khẳng định sự tồn tại độc lập của thỏa thuận trọng tài với hiệu
lực của hợp đồng đi kèm với nó khơng có nhiều ý nghĩa. Tuy nhiên, nếu các bên
không được quyền yêu cầu trọng tài giải quyết mà vẫn giữ nguyên tính hiệu lực
11
của thỏa thuận trọng tài thì thỏa thuận trọng tài có thế sẽ là nguyên nhân cản trở
các bên yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc. Như vậy, pháp luật trọng tài cần có một
giải pháp cụ thế đế giải quyết vấn đề đặt ra trong trường hợp trên.
2.4. Tính khơng rõ ràng trong thỏa thuận trọng tài vơ hiệu được loại bỏ
Trong thực tế, khi xác lập thỏa thuận trọng tài, có thể các bên khơng rõ ràng
về đối tượng tranh chấp hay tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Trong
trường hợp này, các bên nên bổ sung nếu khơng thì thỏa thuận có nguy cơ bị bơ
hiệu và Trọng tài khơng có thẩm quyền xét xử. Bởi lẽ, theo khoản 4 điều 10 Pháp
lệnh thì thỏa thuận trọng tài vô hiệu khi “thỏa thuận trọng tài không được quy
định hoặc quy định không rõ đối tượng tranh chấp, tổ chức trọng tài có thẩm
quyền giải quyết vụ tranh chấp mà sau đso các bên không có thỏa thuận bổ sung”.
Pháp lệnh khơng định nghĩa khi nào là “không quy định hoặc không quy định
rõ…”. Một vấn đề có thể rõ ràng với người này nhưng khơng rõ ràng với người
khác. Khơng có cái khái niệm nào “không rõ ràng” bằng khái niệm “rõ ràng”.
Tất cả phụ thuộc vào những người áp dụng nó. Do đó ranh giới giữa thỏa thuận
trọng tài có giá trị pháp lý và thỏa thuận trọng tài khơng có giá trị pháp lý là rất
mong manh.
Ví dụ: Đánh giá của tịa án về vụ việc. Giữa các bên có thỏa thuận với nhau
rằng: Tranh chấp sẽ được giải quyết với Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam tại
TP. Hồ Chí Minh”. Nhưng theo tòa án, đây “là một thỏa thuận khơng rõ ràng về
tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp; và theo đó, nếu như
giữa các bên khơng có sự thỏa thuận bổ sung để chọn trọng tài như quy định tại
khoản 4 điều 10 Pháp lệnh thì phải coi thỏa thuận trọng tài trên là thỏa thuận
trọng tài vô hiệu”.
Ở đây, rõ ràng các bên muốn chọn “Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam”,
mà nước ta chỉ có duy nhất một “Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt”. Tuy nhiên,
phần sau của thỏa thuận lại có thêm “tại TP.Hồ Chí Minh”. Và do vậy, tòa án cho
12
rằng thỏa thuận trên là khơng rõ ràng. Ví dụ cho thấy ranh giới giữa rõ ràng và
không rõ ràng đôi khi rất mỏng manh. Nếu chúng ta ủng hộ Trọng tài, chúng ta có
thể cho rằng đó chỉ là sơ suất về sử dụng từ chứ thực ra ý tưởng của các bên đã rõ
ràng lựa chọn “Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam”. Cịn phần sau có thể là nơi
xét xử tại TP.Hồ Chí Minh mà nếu các bên có mâu thuẫn về nơi xét xử thì cũng
không làm cho thỏa thuận trọng tài vô hiệu.
Và ở LTTTM 2010 đã bỏ đi điều kiện vô hiệu này vì sự khơng rõ ràng gây
nhiều rắc rối trong thực tiễn áp dụng luật, việc này là hoàn toàn hợp lý và sáng
suốt.
2.5. Về luật điều chỉnh đối với thỏa thuận trọng tài
Pháp luật trọng tài Việt Nam nên bổ sung quy định về luật điều chỉnh thỏa
thuận trọng tài. Đây là nội dung rất quan trọng đối với việc giải quyết các tranh
chấp có liên quan đến thương mại quốc tế. Trên thực tế, Hội đồng trọng tài nhìn
chung xác định luật điều chỉnh thỏa thuận trọng tài do các các bên thỏa thuân. Do
vậy, căn cứ để xác định luật điều chỉnh thỏa thuận trọng tài nên được quy định rõ
trong văn bản pháp luật là thỏa thuận của các bên. Tuy nhiên, không tránh khỏi
trường hợp các bên khơng có sự thỏa thuận nào về vấn đề này thì pháp luật hiện
hành khơng có bộ quy tắc nào về chọn luật điều chỉnh thỏa thuận trọng tài phụ
thuộc vào từng giai đoạn tố tụng trọng tài mà sẽ có những quyết định riêng rẽ,
chẳng hạn, luật nơi tiến hành trọng tài, luật nơi phán quyết được tuyên, luật điều
chỉnh nội dung tranh chấp. Vì vậy, để tránh những rắc rối xảy ra trong quá trình
trọng tài, nên quy định khi khơng có thỏa thuận thì luật điều chỉnh thỏa thuận
trọng tài nên là luật quốc gia nơi ra phán quyết. Sự ghi nhận này cũng phù hợp với
nội dung pháp luật trọng tài quốc tế. Ví dụ tài điều V.1 Công ước New York quy
định: Việc công nhận và thì hành quyết định có thể bị từ chối, theo yêu cầu cảu
các bên phải thi hành, chỉ khi nào bên đó chuyển tới cơ quan có thẩm quyền nơi
việc công nhận và thi hành được yêu cầu, bằng chứng rằng các bên của thỏa
thuận… theo luật áp dụng đối với các bên, khơng có đủ năng lực, hoặc thỏa thuậ
13
nói trên khơng có giá trị theo luật mà các bên chịu sự điều chỉnh, nếu khơng có chỉ
dẫn về điều này, theo luật của quốc gia nơi ra quyết định… Nội dung tương tự
cũng được ghi nhận tại điều 103.2.b Luật trọng tài Anh: “Công nhận và thi hành
phán quyết trọng tài có thể bị từ chối nếu bị đơn chứng minh được rằng, thỏa
thuận trọng tài khôn hợp pháp theo luật của nước các bên đã chấp thuận nó, nếu
khơng có điều này, theo luật của nước nơi phán quyết trọng tài được tuyên”.
Ở Việt Nam hiện nay, số vụ tranh chấp có liên quan tới thương mại quốc tế
được xét xử bằng trọng tài không nhiều và được tập trung chủ yếu tại Trung tâm
Trọng tài quốc tế Việt nam (VIAC) bên cạnh phòng Thương mại và Công nghiệp
Việt Nam. Thực tiễn xét xử trọng tài thương mại quốc tế tại Việt Nam cho thấy,
đối với các vấn đề về thỏa thuận trọng tài, các trọng tài viên Việt Nam thường chỉ
phải giải quyết sự mập mờ, không rõ nghĩa trong thỏa thuận chọn trọng tài giải
quyết tranh chấp mà hiếm khi phải xác định luật áp dụng cho thảo thuận trọng tài
vì vấn đề hiệu lực của nó, đặc biệt là trường hợp các bên tranh chấp không thỏa
thuận về luật áp dụng cho thỏa thuận trọng tài. Hiện chưa có một phương pháp xác
định luật áp dụng cho thỏa thuận trọng tài có tính thống nhất trong xét xử trọng tài
thương mại quốc tế ở Việt Nam. Có nghĩa là, với mỗi vụ việc, trọng tài sẽ có các
hành xử khác nhau. Điều này dễ tạo cảm giác tùy tiện trong xét xử, và theo em là
bất lợi trong việc phát triển thị trường trọng tài Việt Nam trong điều kiện thị
trường này đang hết sức nhỏ bé và chưa nhận được nhiều sự quan tâm của giới
kinh doanh trong và ngoài nước. Về lâu dài, khiếm khuyết này cần được khắc
phục, góp phần phát triển thi trường trọng tài Việt Nam ngang tầm với các nước
trong khu vực và trên thế giới…
KẾT LUẬN
Qua việc nghiên cứu các vấn đề về thỏa thuận trọng tài theo pháp luật hiện
hành tại Việt Nam, có thể thấy được vị trí, vai trị quan trọng của thỏa thuận trọng
tài đối với phương thức trọng tài. Pháp luật về trọng tài cần có những sự xem xét,
phát hiện ra những khiếm khuyết trong hệ thống pháp luật, đặc biệt là vấn đề thỏa
14
thuận trọng tài, từ đó sửa đối bổ sung phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Bên cạnh
đó, cần tuyên truyền nâng cao ý thức, hiểu biết của các doanh nghiệp về phương
thức trọng tài cũng như năng cao năng lực, kiến thức, đạo đức của các trọng tài
viên. Có như vậy, trọng tài mới có thể làm mới mình, hồn thiện mình đế sớm trở
thành một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại phố biến, được các nhà
kinh doanh tin dùng ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế hiện nay.
15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật thương mại (tập 2), Nguyễn Viết
Tý (chủ biên), Nxb. CAND, Hà Nội, 2012.
2. Trọng tài và các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn, Trung tâm trọng
tài quốc tế Việt Nam, 2004.
3. Nguyễn Đình Thơ, Hoàn thiện pháp luật về trọng tài thương mại của Việt Nam
trong điều kiện hội nhập quốc tế, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật
Hà Nội, 2007.
4. Nguyễn Thị Thu Thảo, Một số vẩn đề lý luận và thực tiễn về thỏa thuận trọng
tài đổi với giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài Thương mại tại Việt Nam,
luận văn tốt nghiệp, 2008.
5. Luật thương mại năm 2005.
6. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
7. Luật trọng tài thương mại năm 2010.
16