1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.................................................................................................................. 2
I. Tính cấp thiết của đề tài....................................................................................2
II. Mục tiêu nghiên cứu......................................................................................... 3
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.................................................................3
IV. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu............................................4
V. Đóng góp của bài nghiên cứu........................................................................... 4
VI. Kết cấu bài nghiên cứu..................................................................................5
NỘI DUNG...............................................................................................................6
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ.................6
I. Khái niệm “Mơ hình tố tụng hình sự”............................................................6
II. Phân loại mơ hình tố tụng hình sự trên thế giới............................................9
III. Tiểu kết.....................................................................................................30
MƠ HÌNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ TẠI VIỆT NAM THEO BỘ LUẬT TỐ TỤNG
DÂN SỰ 2015.....................................................................................................31
I. Mơ hình tố tụng hình sự Việt Nam trước bộ luật tố tụng hình sự 2015.......31
II. Mơ hình tố tụng hình sự Việt Nam theo bộ luật tố tụng hình sự 2015.......34
III. Tiểu kết......................................................................................................54
NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA TRONG VIỆC HỒN THIỆN MƠ
HÌNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM...........................................................55
I. Ưu điểm và nhược điểm của mơ hình tố tụng hình sự Việt Nam.................55
II. Các đề xuất kiến nghị................................................................................. 57
III. Tiểu kết......................................................................................................58
KẾT LUẬN............................................................................................................ 60
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................62
2
MỞ ĐẦU
I. Tính cấp thiết của đề tài
Mơ hình tố tụng hình sự là một vấn đề quan trọng trong việc xác định các
yếu tố của một quá trình giải quyết vụ án hình sự. Đây cũng là nội dung được
nhiều người lựa chọn nghiên cứu, tuy nhiên, xét về mặt lý luận khoa học thì chưa
có được những khái niệm về mặt khoa học pháp lý cô đọng.
Về thực tiễn mơ hình tố tụng hình sự của Việt Nam nếu là trước năm 2015
thì có thể khẳng định một cách rõ ràng, đây là mơ hình tố tụng thẩm vấn. Nhưng
với những sự sửa đổi tương đối căn bản thì cần phải xác định lại xem ở thời điểm
hiện tại, mơ hình tố tụng Việt Nam đang phát triển theo hướng nào cũng như những
minh chứng cho khẳng định đó. Tất nhiên để có được khẳng định đó thì phải nắm
được những vấn đề lý luận chung nhất về mơ hình tố tụng hình sự.
Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đã có rất nhiều sửa đổi quan trọng, ảnh hưởng
trực tiếp đến việc xác định mơ hình tố tụng hình sự của Việt Nam. Tuy nhiên, đây
mới chỉ là những bước đầu tiên của sự đổi mới nên chắc chắn sẽ vẫn có những
điểm hạn chế cịn tồn tại, nhưng đồng thời cũng có những ưu điểm nhất định là cơ
sở cho sự lựa chọn mơ hình trên.
Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu này sẽ chỉ ra được, trước hết là xác định
được mơ hình tố tụng của Việt Nam, từ đó phân tích những ưu điểm và hạn chế của
mơ hình hiện tại và đề ra một số phương hướng hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự
Việt Nam nói chung và mơ hình tố tụng hình sự Việt Nam nói riêng.
3
Vì những lý do đó mà việc nghiên cứu đề tài “Mơ hình tố tụng hình sự Việt
Nam theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015” sẽ mang tính cấp thiết cả về mặt lý luận
và cả về mặt thực tiễn hoạt động.
II.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của bài là nghiên cứu về mặt lý luận các mô hình tố
tụng hình sự trên thế giới và đánh giá về mơ hình tố tụng hình sự Việt Nam. Trên
cơ sở đó, đánh giá những mặt hạn chế mà chúng ta chưa làm được từ đó hồn thiện
mơ hình TTHS Việt Nam trên nền tảng mơ hình tố tụng thẩm vấn có sự tiếp thu
những yếu tố tích cực của mơ hình tố tụng thẩm vấn, đáp ứng u cầu xây dựng
Nhà nước pháp quyền, bảo vệ lợi ích của nhân dân.
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
Nghiên cứu những mơ hình tố tụng Hình sự tiêu biểu trên thế giới dựa trên
sự so sánh đối chiếu những điểm khác biệt giữa các mơ hình này. Nêu những ví dụ
điển hình của các mơ hình này trên thế giới.
Qua việc làm rõ những đặc điểm chủ yếu của mơ hình tố tụng, xác định mơ
hình tố tụng Hình sự Việt Nam thơng qua nhưng quy định pháp luật hiện hành. Từ
đó nêu ra những hạn chế, bất cập của mơ hình này và nêu phương hướng hồn
thiện qua việc học hỏi những mặt mạnh của mơ hình tố tụng tranh tụng đáp ứng
mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do dân, vì dân ở nước
ta.
III.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.
Đối tượng nghiên cứu
4
Đối tượng nghiên cứu của bài nghiên cứu là mô hình tố tụng hình sự Việt
Nam và các vấn đề pháp lý đặt ra, đồng thời đề xuất một số kiến nghị hồn thiện
mơ hình tố tụng hình sự Việt Nam cũng như Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
2. Phạm vi nghiên cứu
Phân tích xoay quanh các đặc điểm cấu trúc của mơ hình tố tụng hình sự:
Mục tiêu và cách thức giải quyết vụ án hình sự; Các giai đoạn tố tụng; Địa vị pháp
lý của chủ thể khi tham gia tố tụng; Các nguyên tắc sử dụng của tố tụng hình sự
IV.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của bài nghiên cứu là quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây
dựng nhà nước pháp quyền, cải cách và hoàn thiện hệ thống tư pháp.
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng,
chủ nghĩ duy vật lịch sử.
Về các phương pháp nghiên cứu khoa học, bài nghiên cứu sử dụng phương
pháp logic, phân tích, so sánh, lịch sử, … để nghiên cứu, nắm vững vấn đề sau đó
tiến hành so sánh các mơ hình tiêu biểu ở các quốc gia trên thế giới từ đó tìm ra
những điểm bất cập và định hướng giải pháp hồn thiện.
V.
Đóng góp của bài nghiên cứu
Tìm hiểu kỹ càng về những vấn đề mang tính lý luận của mơ hình tố tụng
hình sự nói chung, đưa ra những khái niệm về khoa học pháp lý của mơ hình tố
tụng hình sự và đặc điểm cấu trúc của mơ hình tố tụng hình sự. Đồng thời, tìm hiểu
được những mơ hình tố tụng hình sự điển hình của một số quốc gia trên thế giới.
Xác định được mơ hình tố tụng hình sự của Việt Nam từ sau những đổi mới
của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Phát hiện ra những ưu điểm và hạn chế của mô
5
hình cũng như các quy định ở thời điểm hiện tại và đề xuất những phương án hồn
thiện mơ hình tố tụng hình sự Việt Nam xuất phát từ những bài học của mơ hình tố
tụng hình sự của một số quốc gia trên thế giới
VI.
Kết cấu bài nghiên cứu
Ngoài phân mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bài nghiên
cứu gồm có 3 phần:
Phần I: Một số vấn đề lý luận về mơ hình tố tụng hình sự
Phần II: Mơ hình tố tụng hình sự tại Việt Nam theo Bộ luật Tố tụng hình sự
2015
Phần III: Những vấn đề pháp lý đặt ra trong việc hoàn thiện mơ hình tố
tụng hình sự Việt Nam
6
NỘI DUNG
PHẦN MỘT:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ
I.
Khái niệm “Mơ hình tố tụng hình sự”
1. Định nghĩa “mơ hình tố tụng hình sự”:
Mơ hình tố tụng hình sự là một sản phẩm của khoa học pháp lý - vấn đề
mang tính khái quát hóa cao, chứ khơng phải một vấn đề của luật thực định, vậy
nên khơng thể tìm được một khái niệm nào về mơ hình tố tụng hình sự được thể
hiện trong các văn bản pháp lý một cách cụ thể và đồng nhất
Để hoạt động tố tụng hình sự này có thể được diễn ra, các cá nhân tham gia
vào quá trình này phải được xác định một phạm vi, mức độ địa vị pháp lý tố tụng
nhất định, những chức năng, thẩm quyền của những cá nhân, tổ chức tham gia
vào q trình tố tụng Sau đó được diễn ra theo một trình tự, thủ tục chung một
cách nghiêm ngặt, nhằm đảm bảo tất cả đều thực hiện theo một mục đích chung
của tố tụng hình sự nói riêng và q trình cải cách tư pháp nói chung.
Các yếu tố này chính là tổng thể xương sống của quá trình tố tụng hình sự và
chúng tạo thành một hệ thống tố tụng hình sự thống nhất, nhất quán với nhau, và từ
đó, dẫn đến một cách thức giải quyết chung cho quá trình giải quyết tất cả các
vụ án hình sự1.
1
Đào Trí Úc, “Tổng quan về mơ hình tố tụng hình sự Việt Nam: thực trạng và phương hướng hồn thiện”,
Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Hồn thiện mơ hình tố tụng hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
– kinh nghiệm CHLB Đức, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Quỹ Hợp tác Quốc tế về pháp luật CHLB
Đức tổ chức ngày 9 – 10 tháng 6 năm 2011, Hà Nội. Truy cập tại: />
7
Từ những phân tích trên, có thể dẫn đến một khái niệm mơ hình tố tụng hình
sự như sau:
Mơ hình tố tụng hình sự là một sản phẩm của khoa học pháp lý, để xác
định các yếu tố như: mục tiêu, cách thức hoạt động, nguyên tắc hoạt động của
tố tụng hình sự, đồng thời quy định chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể tham
gia vào quá trình giải quyết vụ án và trình tự thủ tục thực hiện q trình này.
“Mơ hình tố tụng hình sự chính là một sự khái quát hóa cao nhất những
đặc trưng cơ bản của quá trình tố tụng hình sự”.2
Việc xây dựng được một mơ hình tố tụng hình sự một cách khoa học và nhất
quán sẽ là công cụ hữu hiệu để bảo đảm cơng cuộc đấu tranh phịng chống tội
phạm được diễn ra có hiệu quả, bảo vệ được quyền và lợi ích của các cá nhân, tổ
chức bị thiết hại do tội phạm đó gây ra, xây dựng được một xã hội cơng bằng. Dù
có xây dựng mơ hình nào, tranh tụng hay thẩm vấn thì cơ bản sẽ đều nhằm xây
dựng những mục tiêu trên chỉ có điều, mục tiêu nào sẽ được nhấn mạnh hơn là tùy
thuộc vào sự điều chỉnh của từng mơ hình.
Bên cạnh đó, có một vấn đề đặt ra là ở các quốc gia khác nhau sẽ có những
cách thức xác định các yếu tố của quá trình tố tụng hình sự khác nhau. Bởi những
vấn đề về kinh tế - chính trị - xã hội ở mỗi quốc gia sẽ có những đặc điểm riêng
biệt mà căn cứ vào đó mới có thể xây dựng được các yếu tố căn bản nhất để tạo ra
một quá trình tố tụng hình sự phù hợp với hệ thống tư pháp của quốc gia đó.
Từ đó, khi phân tích và đánh giá các mơ hình trên, để so sánh được chúng
với nhau, người ta mới tạo nên được bộ tiêu chí giúp q trình phân biệt được dễ
2
Nguyễn Hà Thanh, “Đổi mới mơ hình tố tụng hình sự tại Việt Nam, một số kiến giải cụ thể”, Trang thơng
tin điện tử Nội chính Trung Ương, 2014. Truy cập tại link: />
8
dàng hơn, bao gồm: mục đích (mục tiêu) và cách thức giải quyết vụ án hình sự; đối
tượng tham gia tố tụng hình sự; nguyên tắc và các giai đoạn tố tụng.
2. Đặc điểm cấu trúc của mơ hình tố tụng hình sự:
2.1. Mục tiêu, chức năng của tố tụng hình sự
Mục tiêu của mơ hình tố tụng hình sự là một yếu tố quan trọng, mang tính
chất quyết định cách thức giải quyết vụ án hình sự cũng như các hoạt động khác
của hoạt động tố tụng hình sự.
Mục tiêu là cái đích cuối cùng mà hệ thống pháp luật đó muốn đạt được sau
q trình giải quyết bất kỳ một vụ án hình sự nào xảy ra trong thực tiễn.
Nói rằng mục tiêu là một yếu tố quan trọng là bởi nó là nhân tố chi phối
những vấn đề khác trong tố tụng hình sự. Nếu khơng đặt ra được một mục tiêu
chung, rất có thể, mỗi một hoạt động trong một giai đoạn của tố tụng hình sự sẽ
được thực hiện theo những cách rất khác nhau nhằm đạt được mục tiêu của từng
giai đoạn và khi khơng tạo được ra sự nhất qn cần có, kết quả xử lý các vụ án
hình sự sẽ gây ra những sai lầm nhất định, ảnh hưởng đến chính lợi ích của các cá
nhân, tổ chức và của chính nền tư pháp của quốc gia. Đồng thời, chính từ mục tiêu
này, người ta đề ra được cách thức hoạt động của hệ thống pháp luật tố tụng hình
sự để đạt được đúng những mục tiêu đã đề ra.
Hầu hết các nước có luật Tố tụng hình sự, họ khơng trực tiếp đề cập đến
mục đích của tố tụng hình sự trong luật mà cố gắng hiện thực hóa những mục đích
này thơng qua các ngun tắc hoặc quy định chi tiết được đề ra trong Luật Tố tụng
hình sự và cũng thông qua việc thực thi luật. (sách các mô hình TT trên TG) Bởi
vậy, càng có thể khẳng định lại một lần nữa, mục tiêu là một yếu tố mang tính chất
quyết định cách thức hoạt động hay những nguyên tắc giải quyết một vụ án hình
sự.
9
2.2. Giai đoạn tố tụng
Giai đoạn Tố tụng hình sự là các bước của quá trình tố tụng hình sự mà mỗi
bước tương ứng với một chức năng nhất định trong hoạt động tư pháp hình sự do
các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng hình sự thực hiện nhằm đáp ứng những
quy định của Luật định ra.
2.3. Địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia tố tụng hình sự
Chủ thể tham gia tố tụng đó là các cơ quan, người tham gia các quan hệ tố
tụng3. Quan hệ tố tụng là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình khởi tố,
điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, do pháp luật tố tụng hình sự điều
chỉnh.
2.4. Các nguyên tắc của tố tụng hình sự
Nguyên tắc được hiểu với nghĩa là tư tưởng chỉ đạo, quy tắc cơ bản của một
hoạt động nào đó.
GS.TS. Đào Trí Úc quan niệm: “Ngun tắc của Luật Tố tụng hình sự là
những tư tưởng và quan điểm chủ đạo được thể chế hóa bằng pháp luật, có ý nghĩa
quyết định đối với việc xác định và thực hiện các hoạt động Tố tụng hình sự và các
quan hệ Tố tụng hình sự, đối với các hình thức và phương pháp thực hiện các hoạt
động và quan hệ đó.” 4
Như đã đề cập, tố tụng hình sự phải được triển khai trên những định hướng
khác nhau mà tập trung và nổi bật nhất là hai định hướng: phục vụ, bảo vệ lợi ích
cơng và thỏa mãn, tơn trọng và bảo đảm lợi ích của các bên tố tụng. Để đảm bảo
Tổng quan về vị trí tố tụng, quyên và nghĩa vụ của các chủ thể, mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan
điều tra trong Tố tụng hình sự Việt Nam, thực trạng và xu hướng hồn thiện, Trang thơng tin khoa học Đại
học Kiểm sát. Truy cập tại link: />4 PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí chủ biên (2014), “Giáo trình Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam”, NXB Đại học Quốc gia
Hà Nội.
3
10
mục đích đó, tố tụng hình sự phải thực hiện các chức năng tương ứng: chức năng
công tố và chức năng tranh tụng. Những chức năng kể trên được thực hiện thông
qua các nguyên tắc đặc trưng của chúng.
II.
Phân loại mơ hình tố tụng hình sự trên thế giới
Có rất nhiều cách phân loại mơ hình tố tụng, tuy vậy, nhóm nghiên cứu lựa
chọn phân loại mơ hình tố tụng hình sự dựa trên các tiêu chí là mục tiêu của mơ
hình tố tụng, các giai đoạn tố tụng, chủ thể tố tụng và ngun tắc của mơ hình tố
tụng.
1.
Mơ hình tố tụng thẩm vấn:
1.1. Mục tiêu:
Mục tiêu của mơ hình này nghiêng về lợi ích cơng (bảo vệ hệ thống cơng
quyền) thì đó mơ hình TTHS thẩm vấn. Tố tụng thẩm vấn đặt nặng cho mình mục
tiêu tìm kiếm sự việc có thực, hay làm sáng tỏ sự thật trong các vụ án hình sự. Qua
đó, nhằm trừng trị kẻ phạm tội, bảo vệ quyền lợi của xã hội, quyền lợi của Nhà
nước.
Mục tiêu bảo vệ quyền lợi của xã hội, quyền lợi nhà nước được đề cao, do
đó mà cơng cuộc tìm ra sự thật khách quan phải được thực hiện bởi các cơ quan đại
diện cho Nhà nước, đặt ra trách nhiệm cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng phải làm rõ và tìm kiếm những sự việc khách quan của vụ việc.
Ở mơ hình này, Nhà nước đại diện cho xã hội thực hiện việc truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với người bị buộc tội, do đó mà việc giải quyết vụ án hình
sự được định hình là quan hệ công quyền. Khi đặt hai mục tiêu giữa sự công
bằng hay lợi ích cá nhân với sự thật khách quan hay lợi ích xã hội, mơ hình
tố tụng thẩm vấn rõ ràng đề cao mục đích vị xã hội hơn là vị cá nhân. Điều
này khiến cho cách thức
11
giải quyết vụ án hình sự của một vài mơ hình tố tụng thẩm vấn đơi khi đã xem nhẹ
quyền lợi tư, chưa tơn trọng những quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, đặc biệt
là đối với những người bị buộc tội.
Nhắc tới mơ hình tố tụng thẩm vấn thì những mục tiêu mà hệ thống tư
pháp của Trung Quốc đặt ra mang những đặc trưng của mô hình tố tụng thẩm vấn.
Điều 2 Luật TTHS Trung Quốc năm 1996 có quy định về nhiệm vụ như sau:
“bảo vệ hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa; bảo vệ các quyền cá nhân, quyền sở
hữu, quyền dân chủ của cơng dân và bảo vệ tiến trình xây dựng xã hội chủ nghĩa”
.
Nhiệm vụ đặt ra cho Trung Quốc trong quá trình tố tụng hình sự là phải bảo đảm
điều tra chính xác, kịp thời, các tình tiết tội phạm, áp dụng đúng luật, trừng phạt tội
phạm, bảo vệ người vơ tội khỏi bị truy cứu trách nhiệm hình sự, giáo dục cho
người dân tự nguyện tuân thủ pháp luật và chủ động phòng chống các biểu hiện
phạm tội5
Mục tiêu được quy định rất cụ thể, nhưng thể hiện rõ những yếu tố mang
tính bảo vệ lợi ích của xã hội nói chung và tìm về sự thật khách quan của vụ án
được đặt lên hàng đầu; cách sắp đặt từng mục đích cũng cho ta thấy, việc bảo vệ
quyền và lợi ích cá nhân chỉ được xếp sau lợi ích của hệ thống pháp luật của Nhà
nước. Tính chất công quyền trên là một đặc trưng cho mô hình tố tụng thẩm vấn
1.2. Giai đoạn:
Mơ hình tố tụng thẩm vấn có sự phân chia khá rõ thành các giai đoạn với
mỗi giai đoạn là những chức năng khác nhau của từng cơ quan với thẩm quyền
tương ứng.
5
Tô Văn Hịa chủ biên (2012), “Những mơ hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới”, Chương trình đối
tác tư pháp. Tr.82,83
12
Thơng thường, mơ hình tố tụng thẩm vấn sẽ thường chia thành một số giai
đoạn: 1/ Giai đoạn điều tra; 2/ Giai đoạn truy tố; 3/ Giai đoạn xét xử. ở mỗi giai
đoạn, thẩm quyền, nghĩa vụ,... của những người tham gia tố tụng đều được quy
định rõ ràng trong các Bộ luật Tố tụng hình sự.
Nhìn chung, khác với sự tự do và cởi mở của mơ hình tố tụng tranh tụng,
q trình điều tra của mơ hình tố tụng thẩm vấn thường khơng cơng khai và ít có
sự tham gia của luật sư bào chữa. Quá trình điều tra được thực hiện bởi cơ quan
điều tra là chủ yếu, ít có được sự chủ động của bị cáo cũng như luật sư bào chữa
của bị cáo trong quá trình thu thập chứng cứ, tài liệu liên quan. Những chứng cứ
này về sau cũng được lưu lại trong hồ sơ vụ án, nhằm làm căn cứ trong quá trình
Hội đồng Thẩm phán đưa ra quyết định.
Một ví dụ điển hình của mơ hình BLTTHS thẩm vấn là Mơ hình thẩm vấn
trước đây của Trung Quốc.
Theo Luật Tố tụng hình sự Trung Quốc, quá trình tố tụng được chia thành 2
giai đoạn: 1) giai đoạn trước khi xét xử, gồm có lập hồ sơ vụ án, điều tra và truy tố;
2)
Giai đoạn xét xử, bao gồm xét xử sơ thẩm, kháng cáo nếu có hoặc các thủ tục tố
tụng đặc biệt khác ví dụ như xem xét án tử hình, tái thẩm,...6
Trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra chịu trách nhiệm chủ chốt, sự
tham gia của luật sư bào chữa khơng phải khơng có nhưng ở một mức độ rất hạn
chế và mang đậm dấu ấn của của tố tụng thẩm vấn.
Giai đoạn truy tố tiếp sau đó do Viện Kiểm sát chịu trách nhiệm để đưa ra
một trong các quyết định truy cứu hoặc không truy cứu trách nhiệm hình sự.
6
Tơ Văn Hịa chủ biên (2012), “Những mơ hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới”, Chương trình đối
tác tư pháp. Tr. 91
13
Giai đoạn xét xử cũng trải qua rất nhiều thủ tục: từ chuẩn bị phiên tịa, mở
phiên tịa, quy trình thẩm vấn tại tòa, lời kết tội,... đều được quy định chi tiết trong
Bộ luật tố tụng hình sự Trung Quốc.
1.3. Chủ thể:
Khác với chủ thể trong mơ hình tranh tụng, tố tụng thẩm vấn lại hình thành
ba chủ thể: cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tố tụng và người tham
gia tố tụng, còn các chức năng bào chữa buộc tội tồn tại khá mờ nhạt. Sở dĩ có sự
khác nhau là do, mơ hình thẩm vấn không coi vụ án là sự tranh chấp giữa các bên,
vụ án hình sự xảy ra bị xem là đã xâm phạm đến lợi ích cơng cộng, lợi ích chung
của Nhà nước của xã hội vì vậy Nhà nước phải có trách nhiệm đứng ra giải quyết
vụ án. Cơng việc chứng minh tội phạm được nhà nước ủy quyền cho cơ quan tư
pháp (đặc biệt là Tòa Án), họ đề cao việc giải quyết vụ án, bảo vệ công lý mà
không chú trọng đến việc tạo lập cho bị cáo các quyền để họ tự bảo vệ mình, nên
dẫn đến một hệ quả tất yếu là các chủ thể tham gia tố tụng (buộc tội, bào chữa, xét
xử) không được phân định rạch ròi, địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia tố tụng
khơng bình đẳng thực sự giữa cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
với người tham gia tố tụng. Ở tố tụng thẩm vấn phân thành: cơ quan tiến hành tố
tụng (Tòa Án, Viện kiểm sát, các cơ quan điều tra, …); người tiến hành tố tụng
(Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký, Viện trưởng Viện kiểm
sát, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ
quan điều tra, Điều tra viên).
Mơ hình tố tụng thẩm vấn đề cao vai trị của thẩm phán. Thẩm phán sẽ là
người đưa ra quyết định khi xảy ra một vụ án nào đó, là người có trách nhiệm tìm
ra sự thật trên cơ sở các chứng cứ tìm được và cũng là người chỉ đạo tồn bộ q
trình tố tụng. Như vậy vai trị của Thẩm phán trong mơ hình thẩm vấn rất khác so
14
với vai trò của Thẩm phán trong tố tụng tranh trụng, ở đây Thẩm phán là trung tâm
của quá trình xét xử, tiến hành cả chức năng xét, chức năng điều tra, chức năng
buộc tội và chức năng bào chữa. Trong khi đó, Thẩm phán trong mơ hình tố tụng
thẩm vấn được đề cao hơn thì vai trị của cơ quan thực hiện chức năng công tố và
luật sư bào chữa khá thụ động. Tại phiên tòa, các câu hỏi cho các nhân chứng và
các bên liên quan là do thẩm phán đặt câu hỏi và phát triển sự kiện theo hướng làm
rõ sự thật khách quan của vụ án, các luật sư chủ yếu chỉ tranh luận để giải thích về
các chứng cứ liên quan đến vụ án mà có thể các chứng cứ này sẽ ảnh hưởng trực
tiếp đến việc đưa ra phán quyết của thẩm phán. Phiên tịa trong tố tụng thẩm vấn
khơng phải là cuộc tranh tụng giữa các bên buộc tội và gỡ tội, mà thực chất là sự
tiếp tục của việc điều tra, thẩm định chứng cứ, làm rõ sự thật khách quan của vụ
án7.
Tịa Án khơng chỉ là trọng tài mà cịn tích cực tham gia vào q trình chứng
minh bị cáo có tội hay khơng có tội. Ta có thể thấy, dường như toàn bộ trách nhiệm
được đặt lên Hội đồng xét xử trong khi các bên cịn lại khơng phát huy được sự
chủ động
Ở tố tụng thẩm vấn cơ quan có chức năng cơng tố có những quyền hạn lớn hơn
so với trong tố tụng tranh tụng, cơ quan có chức năng cơng tố có quyền chỉ
đạo cơng tác điều tra, ra quyết định khởi tố. Chế định Hội thẩm nhân dân
cũng có sự khác biệt với Bồi thẩm đồn trong mơ hình tranh tụng ở chỗ nếu
như Bồi thẩm đồn chỉ tham gia trong việc ra quyết định người bị cáo buộc
phạm tội có tội hay là khơng, cịn những vấn đề về mức xử phạt và quy định
của pháp luật như nào sẽ do Thẩm phán quyết định thì ở Hội thẩm lại có sự
ngang quyền với Thẩm phán trong những quyết định về vụ án.
7
Nguyễn Hải Ninh, Nguyễn Hà Thanh, “Tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn trong tư pháp hình sự thế
giới”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 148 (2009.)
1
5
Mơ hình tố tụng thẩm vấn điển hình ta có thể tham khảo đó là mơ hình tố
tụng của Trung Quốc.
Theo quy định tại Điều 5 Luật tố tụng hình sự Trung Quốc thì Tồ án nhân
dân thực hiện chức năng xét xử độc lập theo luật và không bị can thiệp bởi bất kỳ
cơ quan hành chính, tổ chức hoặc cá nhân nào. Tuy nhiên, trên thực tế Tòa án
khơng được hồn tồn độc lập. Hoạt động của Tịa án bị giám sát bởi ủy ban Pháp
luật chính trị của Đảng cộng sản Trung quốc. Tòa án cũng phụ thuộc chính quyền
địa phương về vấn đề ngân sách và nhân sự. Hội đồng nhân dân quyết định ngân
sách và nhân sự của Tòa án cùng cấp. Thẩm phán cũng không thể đưa ra quyết
định độc lập. Quyết định của Thẩm phán được xem xét kỹ lưỡng, bị giám sát, bị
chỉ đạo và bị hủy bỏ bởi ủy ban Thẩm phán và Chánh án của mỗi Tịa án mà khơng
ai trong số những người này tham gia xét xử trực tiếp vụ án8.
Viện kiểm sát của Trung Quốc được thiết kế, bố trí một cách độc lập. Về mặt
tổ chức hệ thống này có sự khác biệt với các nền tư pháp khác. Viện kiểm sát
không trực thuộc Bộ Tư pháp và cũng khơng liên kết với Tịa Án. Viện kiểm sát
thực hiện quyền cơng tố (chỉ có Viện kiểm sát mới có quyền truy tố vụ án hình sự
ở Trung Quốc), có quyền điều tra (có thẩm quyền điều tra ba loại hình tội
phạm chủ yếu đó là tội mua chuộc và hối lộ; tội xao lãng, lơ là nhiệm vụ của
công chức; tội xâm phạm quyền con người và quyền chính trị), có quyền
giám sát thủ tục tố tụng hình sự (trong giai đoạn xét xử, Viện kiểm sát có
trách nhiệm luận tội, đưa ra mức hình phạt, giám sát hoạt động xét xử của
Tòa án, bảo đảm làm rõ sự thật một cách chính xác và kịp thời, vận dụng
đúng đắn pháp luật, trừng phạt các phần tử phạm tội, bảo đảm người vô tội
không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bảo đảm thi hành pháp luật hình sự
của Nhà nước một cách thống nhất, đúng đắn để bảo vệ
“Mơ hình tố tụng Trung Quốc”, Trang thơng tin khoa học Đại học Kiểm sát. Truy cập tại link:
/>8
16
pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền thân thể, quyền tài sản, quyền dân chủ và
các quyền khác của công dân, bảo đảm tiến hành thuận lợi sự nghiệp xây dựng xã
hội chủ nghĩa).
Theo quy định của Luật TTHS Trung Quốc thì Thẩm phán, Kiểm sát viên,
Điều tra viên mới có quyền thu thập chứng cứ. Trong ba cơ quan tiến hành tố tụng
thì Cơ quan điều tra có vai trị chủ đạo trong việc thu thập chứng cứ. Bị can, bị cáo
có quyền nhưng khơng có nghĩa vụ phải chứng minh là mình vơ tội. Đây là đặc
trưng điển hình của mơ hình tố tụng thẩm vấn của Trung Quốc.
1.4. Ngun tắc:
Mơ hình tố tụng thẩm vấn gắn với chức năng cơng tố, các địi hỏi về pháp
chế, trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự; địi hỏi xác định cho được sự thật
khách quan của vụ án; khơng thừa nhận sự suy đốn vơ tội. Có thể nói rằng, những
địi hỏi này cũng chính là các ngun tắc của tố tụng hình sự và chúng là những
nguyên tắc đặc trưng cho tố tụng thẩm vấn.
Mơ hình tố tụng hình sự của Trung Quốc theo Bộ luật Tố tụng Hình sự 1976
là điển hình cho mơ hình tố tụng thẩm vấn do đã đẩy mạnh vai trò, nghiêng hẳn
cán cân ưu thế về các cơ quan cơng quyền trong q trình tố tụng hình sự và đi
theo hướng suy đốn có tội thơng qua các nguyên tắc điều chỉnh hệ thống pháp luật
này.
Bộ luật Tố tụng Hình sự 1976 của Trung Quốc quy định: khi Viện kiểm sát
truy tố một vụ án, anh ta phải chuyển tất cả hồ sơ vụ án và chứng cứ sang tòa xét
xử. Thẩm phán thường xem xét kĩ hồ sơ, và sẽ gặp gỡ bị cáo để thẩm vấn trước khi
ra quyết định có khởi tố vụ án hay không. Thẩm phán chỉ đưa ra xét xử khi chắc
chắn rằng các tình tiết hình sự đã rõ ràng và có đầy đủ chứng cứ. Trong cả quá
17
trình điều tra và xem xét hồ sơ án này, bên bị cáo đều không được tiếp cận và tác
động đến các bằng chứng.
Thấy rằng, đi theo các nguyên tắc này, vơ hình chung, bị cáo đã bị kết luận
là có tội trước khi phiên xét xử bắt đầu. Phiên tồ chỉ được coi là hình thức do ưu
thế phản biện của bên bị cáo từ rất ít đến khơng hề có.
2. Mơ hình tố tụng tranh tụng
2.1. Mục tiêu:
Nếu tổ chức hoạt động TTHS nghiêng về việc đảm bảo lợi ích tư (hay nói
cách khác là nhằm bảo đảm quyền lợi của các cá nhân, tổ chức giữa người buộc tội
và người bị buộc tội) thì đó là mơ hình TTHS tranh tụng.
Trong TT Tranh tụng, thơng qua sự tranh luận (cuộc tranh đấu) tự do và cởi mở
giữa hai bên (một bên là Nhà nước và bên kia là nguời bị buộc tội) có các dữ kiện
chính xác về vụ việc, sự thật cuối cùng cũng sẽ được mở ra. Sự tự do và cởi mở
chính là để đảm bảo cho mục tiêu công bằng cho các bên. Dù là bên buộc tội hay là
bên bị buộc tội thì đều phải được tơn trọng, đều phải được đáp ứng những quyền
và lợi ích hợp pháp mà pháp luật trao cho họ. Như vậy, lợi ích của các cá nhân đã
được đặt lên hàng đầu thay vì lợi ích xã hội.
Chính bởi mơ hình tố tụng tranh tụng cho rằng đây là tranh chấp giữa các
bên, vậy nên quá trình giải quyết phải được hai bên tranh luận để tự bảo vệ quyền
lợi của mình, nghĩa vụ của họ là phải cung cấp những chứng cứ chứng minh sự thật
cho quan tịa, quan tịa khi đó được coi như “trọng tài” đứng giữa để phán xử xem,
trong hai bên, đâu mới là sự thật, đâu là kẻ phải chịu tội. Yếu tố về sự thật khách
quan của vụ án sau cùng cũng sẽ được xác định thông qua những màn tranh luận
của hai bên. Vậy nên, mục tiêu đi tìm sự thật khách quan được xếp sau mục tiêu
tìm kiếm sự công bằng cho các bên tranh tụng trong mơ hình tố tụng tranh tụng.
18
Khi nói tới mơ hình tố tụng tranh tụng thì mơ hình tố tụng của Hoa Kỳ là
một điển hình. Mục tiêu được Hoa Kỳ đặt ra trong quá trình giải quyết vụ án hình
sự là ưu tiên việc kiểm sốt tội phạm, đồng thời duy trì một quy trình thủ tục cơng
bằng, mà cụ thể là kiểm sốt hiệu quả tội phạm thơng qua một quy trình, thủ tục
được quản lý được thiết kế để đảm bảo kết án đúng người, đúng tội mà vẫn bảo vệ
được quyền con người của bất cứ cá nhân nào bị kết án, cũng như quyền con người
của tất cả các công dân, ngay cả khi họ không bị buộc tội.9
Từ mục tiêu thấy được sự đề cao việc đảm bảo quyền con người, quyền và
lợi ích hợp pháp của cá nhân một cách rất rõ ràng cùng với mục tiêu vốn có của
luật tố tụng hình sự về tội phạm. Chính vì thế mà có một ngun tắc rất đặc trưng
của mơ hình tố tụng tranh tụng, đó là ngun tắc “mặc cả thú tội”. “mặc cả thú tội”
được sử dụng rộng rãi trong tố tụng hình sự Hoa Kỳ. Mặc cả thú tội là sự thoả
thuận theo đó, cơng tố viên cho phép bị cáo nhận tội để đổi lại một vài nhượng bộ
như giảm lời buộc tội hoặc đưa ra một mức án khoan dung hơn. Các công tố viên
cũng thực hiện quyền tự quyết trong việc thương thuyết với luật sư biện hộ. Có
những lợi thế của mặc cả thú tội cho cả bên bị buộc tội lẫn Nhà nước. Đối với bị
cáo, đó là cơ hội được giảm mức án và chi phí cho luật sư. Đối với Chính phủ, nó
làm giảm chi phí cho việc truy tố, cải thiện tính hiệu quả của các Tịa án bằng việc
phải xử lý các vụ án ít hơn bằng các thủ tục đầy đủ của một phiên tòa và cho phép
bên cơng tố có thể giành hết các nguồn lực của mình để giải quyết những vụ án
nghiêm trọng hơn.10 Nguyên tắc này là một ví dụ xác đáng cho việc tôn trọng
quyền lợi của cá nhân trong khi giải quyết vụ án hình sự và là điển hình cho mơ
hình tố tụng tranh tụng.
9
10
Tơ Văn Hịa chủ biên (2012), “Những mơ hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới”, Chương trình đối
tác tư pháp. Tr.366
“Mơ hình tố tụng Hợp chủng quốc Hoa Kỳ”, Trang thông tin khoa học Đại học Kiểm sát. Truy cập tại link:
/>
19
2.2. Giai đoạn:
Trong khoa học, các giai đoạn tố tụng trong mơ hình tranh tụng được thể
hiện như sau:
Mơ hình tố tụng tranh tụng khơng có giai đoạn điều tra rõ ràng như của mơ
hình tố tụng thẩm vấn. Vụ án chỉ được coi là chính thức khi có cáo trạng để thực
hiện các thủ tục tranh tụng tại tòa án. Mọi chứng cứ hoàn toàn do các bên tự thu
thập và chỉ được đưa ra tranh luận tại phiên tịa. Ngay trong q trình xét xử, các
bên vẫn tiếp tục hoạt động thu thập các chứng cứ và có thể xuất trình vào bất kỳ
thời điểm nào của phiên tòa. Bên buộc tội và bên bào chữa sử dụng quyền kiểm tra
chéo đối với người làm chứng để xác định tính trung thực hay sự thiên vị trong các
lời khai của họ.
Vì vậy, ngay cả các sự kiện diễn ra tại phiên tịa cũng có thể được các bên
dùng làm chứng cứ chống lại nhau. Mỗi bên có quyền đặt câu hỏi trực tiếp cho bên
kia cũng như những người làm chứng, giám định viên,...thậm chí có quyền ngắt lời
bên kia để phản bác.
Ở mơ hình tranh tụng điển hình là Hoa Kỳ có ba giai đoạn chính như sau:
1- Giai đoạn tiền xét xử
Điểu tra:
Mặc dù được xây dựng thành giai đoạn đầu tiên của tố tụng hình sự, nhưng
đây vẫn được gọi là giai đoạn điều tra khơng chính thức của hoạt động giải quyết
vụ án hình sự. Là bởi, cơ quan điều tra - điều tra viên sẽ là người thực hiện quá
trình điều tra sơ bộ trên. Nếu như sau quá trình đánh gia và điều tra sơ bộ, nhận
thấy có đủ cơ sở về các tình tiết hợp lý về hành hành vi có thể coi là tội phạm thì
cơ quan FBI mới thực hiện quá trình điều tra đầy đủ, đồng thời phải xây dựng “hồ
20
sơ vụ án”. Tuy nhiên, có một điểm khác biệt là những chứng cứ, tài liệu ở hồ sơ vụ
án trong quá trình điều tra chỉ là “bằng chứng tiềm năng” – tức là chừng nào nó
cịn chưa được thẩm phán xét xử chính thức chấp nhận, thì nó cịn chưa được coi là
bằng chứng11
Truy tố:
Ở giai đoạn này, công tố viên sẽ xem lại báo cáo truy tố của điều tra viên cùng
với các file đính kèm để quyết định xem việc truy cứu trách nhiệm hình sự
có cơ sở hay không.
Về cơ bản, giai đoạn này chủ yếu xem lại những tài liệu, chứng cứ để xác
định xem, có tiếp tục chuyển hồ sơ vụ án sang tịa án để chuẩn bị xét xử hay
không.
2- Giai đoạn xét xử
Ở mơ hình này vẫn bao gồm các cấp xét xử: sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc
thẩm với các bên đóng vai trị chính trong giai đoạn này là cơng tố viên, luật
sư bào chữa, bị can và thẩm phán đứng giữa để phán xét tính đúng sai giữa
các bên.
Về cơ bản, mơ hình Tố tụng hình sự của Hoa Kỳ là đặc trưng cho mơ hình tố tụng
hình sự tranh tụng. Do vậy, với giai đoạn tố tụng, mặc dù cũng được chia một cách
tương đối thành các giai đoạn, nhưng hầu hết không rõ ràng, mà cơ bản chỉ có
trước xét xử và xét xử. Từng giai đoạn cũng không được quy định rõ ràng cụ thể
trong Bộ luật tố tụng hình sự, nhưng trong quá trình thực hiện thì cơ bản vẫn được
thực hiện một cách tuần tự như phần trình bày ở trên.
2.3. Chủ thể:
11
Tơ Văn Hịa chủ biên (2012), “Những mơ hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới”, Chương trình đối
tác tư pháp. Tr.380
21
Mơ hình tố tụng tranh tụng được xây dựng và vận hành trên cơ sở áp dụng
triệt để nguyên tắc tranh tụng. Ba chức năng: buộc tội, gỡ tội và xét xử kết hợp,
thống nhất với nhau, bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được khách quan hơn.
Chức năng này tồn tại vì sự có mặt, vận động của chức năng kia. Thiếu một trong
ba chức năng nêu trên, tranh tụng trong TTHS sẽ khơng cịn đầy đủ ý nghĩa của nó.
Tuy vậy, các chức năng này khơng đồng thời cùng xuất hiện mà chức năng xét xử
có phần xuất hiện muộn hơn hai chức năng còn lại, điều này có thể hiểu rõ hơn khi
tiến hành bắt giữ một chủ thể với tư cách bị can thì lúc đó sẽ xuất hiện chức năng
buộc tội và chức năng gỡ tội. Hai chức năng này luôn luôn đối lập nhau, tạo thành
hai bên tham gia tố tụng trong một vụ án Hình sự. Từ đó sẽ hình thành nên chức
năng xét xử của Tịa Án12
Bên buộc tội trong mơ hình này bao gồm các chủ thể Cơ quan điều tra và
Điều tra viên, Viện công tố hay Viện kiểm sát, Công tố viên hay Kiểm sát viên,
người bị hại, nguyên đơn dân sự và người đại diện hợp pháp (người bảo vệ quyền
lợi) của họ; Bên gỡ tội bao gồm các chủ thể thực hiện chức năng bào chữa bao
gồm người bị cáo buộc phạm tội, bị can, bị cáo, người bị kết án, người bào chữa, bị
đơn dân sự và người đại diện hợp pháp (người bảo vệ quyền lợi) của họ.
Trách nhiệm đưa ra chứng cứ ở mơ hình này thuộc về các bên: bên buộc tội
(với đại diện là cơ quan thực hiện chức năng công tố) và bên gỡ tội (bên bào chữa
có trách nhiệm chứng minh mình vơ tội), các bên có sự bình đẳng về quyền và
nghĩa vụ với nhau, khơng ai có quyền lực hơn ai. Mọi thông tin thu được trong quá
trình điều tra đều chưa được xem xét cho đến khi được trình bày trước tịa. Hình
thức tố tụng này dựa trên quan điểm cho rằng, tố tụng là giông như một cuộc “đấu
trí” tại Tịa án giữa một bên là Nhà nước (thông qua đại diện là cơ quan Cơng tố)
12
Nguyễn Đức Mai, “Đặc điểm của mơ hình tố tụng tranh tụng và phương hướng hồn thiện mơ hình tố tụng
hình sự ở Việt Nam (Kỳ 1)”, Trang thơng tin khoa học Đại học Kiểm sát. Truy cập tại link:
/>
22
và một bên là công dân bị nghi thực hiện tội phạm; mà đã là cuộc tranh đấu thì hai
bên đều được sử dụng các quyền và nghĩa vụ pháp lý như nhau trong việc thu thập,
kiểm tra và đánh giá chứng cứ, phân tích và đưa ra các kết luận đối với những việc
cụ thể.13
Kết quả xét xử vụ án tại phiên toà "ai thắng, ai thua” chủ yếu phụ thuộc vào
trình độ, năng lực chun mơn và nghệ thuật của người thực hiện chức năng công
tố và của luật sư bào chữa, qua đó ta có thể thấy vai trị quan trọng chủ động của
Cơng tố viên và Luật sư bào chữa. Tịa Án chỉ đóng vai trị là trọng tài phân xử
giữa các bên, là chủ thể duy nhất thực hiện chức năng xét xử thông qua Hội đồng
xét xử, Thẩm phán, Bồi thẩm đoàn. Thẩm phán giữ vai trị trung lập, họ đứng ngồi
mọi cuộc tranh luận và chỉ là người điều khiển phiên tòa, quan sát các bên tranh
luận để đánh giá, xem xét căn cứ dựa trên những gì hai bên cung cấp và tranh cãi
với nhau để từ đó rút ra kết luận chứ không tham gia thẩm vấn, điều tra hoặc chỉ
tham gia một cách mờ nhạt. Như vậy, vai trò của Thẩm phán trở nên thụ động,
chức năng xét xử có sự hạn chế.
Bồi thẩm đoàn như bị tách khỏi phiên tịa, họ chỉ có một nhiệm vụ duy nhất
là quan sát quá trình tranh cãi gay gắt giữa bên buộc tội và bên gỡ tội cho đến khi
vào phòng nghị án để quyết định vấn đề có hay khơng có tội. Khác với chế định
Hội thẩm ở một số nước theo mơ hình tố tụng thẩm vấn, các nước thuộc hệ thống
tố tụng tranh tụng áp dụng chế định bồi thẩm đồn cho phép những cơng dân bình
thường có sự hiểu biết pháp luật ở mức tối thiểu tham gia xét xử các vụ án hình sự.
Bồi thẩm đồn chỉ có nhiệm vụ xác định bị cáo có tội hay khơng có tội, cịn việc áp
dụng pháp luật và hình phạt đối với bị cáo thuộc thẩm quyền của Thẩm phán
Nguyễn Hải Ninh, Nguyễn Hà Thanh, “Tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn trong tư pháp hình sự thế giới”,
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 148 (2009.)
13
23
chuyên nghiệp14. Địa vị pháp lý của các chủ thể hoạt động tố tụng như công tố
viên, luật sư, thẩm phán, bồi thẩm được chia sẻ quyền lực và có tính đối trọng chứ
khơng nghiêng hẳn về bên nào đó.
Khi nhắc tới Tố tụng tranh tụng, ta không thể không nhắc tới mơ hình TTHS
của Hoa Kỳ - mơ hình tố tụng tranh tụng điển hình. Tịa án xét xử là người ra quyết
định trung lập giữa hai bên tranh tụng (cơng tố viên và bào chữa). Tịa án khơng
phải là cơ quan buộc tội và cũng khơng có vai trị gì trong quyết định buộc tội của
Cơng tố viên. Thẩm phán không nhận và nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi phiên
xét xử diễn ra. Tịa án khơng có quyền ra lệnh cho bồi thẩm đồn xem xét một tội
danh lớn hơn với tội danh mà công tố viên và đại bồi thẩm đoàn đã buộc tội cho bị
cáo. Đối với hoạt động điều tra, Tịa án có vai trò quan trọng trong việc phê chuẩn
các lệnh khám xét, bắt giữ, lựa chọn các bồi thẩm viên trong đại bồi thẩm đồn, …
nhằm mục đích kiềm chế hoặt động điều tra, chống sự lạm quyền và ngăn ngừa
những vi phạm có thể xảy ra từ phía cơ quan điều tra đối với các quyền tố tụng của
người bị tình nghi phạm tội, tuy nhiên Tịa án lại khơng có thẩm quyền yêu cầu
điều tra tiếp hoặc trả lại vụ án cho cơ quan điều tra hoặc cho đại bồi thẩm đồn để
điều tra bổ sung. Hơn nữa, khơng phải Thẩm phán mà là các bên sẽ là người quyết
định nhân chứng nào sẽ được triệu tập trước Tòa. Các quy định này được đặt ra với
mục đích nhằm đảm bảo Thẩm phán thưc sự là những trọng tài trung lập và khách
quan khi phiên xử diễn ra15.
Cơ quan Cơng tố: Cơng tố viên ở Mỹ có một quyền lực hết sức quan trọng,
đó là quyền tùy nghi truy tố, là người có quyền lực nhất trong hệ thống tư pháp
hình sự. Các cơng tố viên thực hiện quyền tự quyết khơng bị ràng buộc, có quyền
Nguyễn Hải Ninh, Nguyễn Hà Thanh, “Tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn trong tư pháp hình sự thế
giới”,
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 148 (2009.)
14
15
Tơ Văn Hịa chủ biên (2012), “Những mơ hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới”, Chương trình đối
tác tư pháp.
24
quyết định ai là người bị truy tố, đưa ra những lời buộc tội nào, khi nào thì bỏ qua
lời buộc tội, có thực hiện việc mặc cả thú tội hay không và cần phải tổ chức thực
hiện việc truy tố như thế nào. Các công tố viên thực hiện quyền tự quyết khi ra
quyết định trong ba lĩnh vực chủ yếu là: Quyết định đưa ra lời buộc tội (Nếu công
tố viên quyết định truy tố vụ việc ra Tồ thì họ có trách nhiệm buộc tội gì, bao
nhiêu tội và mức độ nghiêm trọng của tội phạm. Quyết định truy tố của cơng tố
viên có ảnh hưởng quan trọng đối với hình phạt mà kẻ phạm tội có thể bị Tồ án
tun phạt nếu bị kết tội. Cơng tố viên Hoa Kỳ còn thực thi quyền hạn đáng kể về
các vấn đề hình phạt thơng qua quyết định buộc tội), quyết định đình chỉ vụ án (bãi
bỏ lời buộc tội khi xét thấy việc điều tra của cảnh sát không đúng thủ tục hoặc
chứng cứ yếu, không đủ để buộc tội hoặc có khả năng Tồ án sẽ khơng chấp nhận
các chứng cứ đó.) và mặc cả thú tội. Như vậy, trong mơ hình TTHS của Hoa Kỳ,
Cơng tố viên khơng có bất kỳ một quyền hạn giám sát nào đối với các cơ quan điều
tra, tòa án hay bất cứ cơ quan nào khác, chức năng duy nhất của Văn phịng Cơng
tố là truy tố16.
2.4. Ngun tắc:
Ở
mơ hình tố tụng tranh tụng, chức năng tranh tụng phát sinh trên cơ sở tơn
trọng lợi ích tư của các bên tham gia tố tụng. Chức năng này đặt ra các yêu cầu về
tính tùy nghi truy tố, cho phép xem xét tính hợp lý của việc truy tố và xử lý trách
nhiệm hình sự coi kết luận của Tịa án là chân lý cuối cùng của vụ án hình sự (sự
thật hình thức), thừa nhận suy đốn vơ tội.
Trong quan điểm của mình đối với vụ kiện “liên quan tới vai trò của tòa án
trong hệ thống tranh tụng” (Vụ Greenlaw kiện Hoa Kỳ), Tòa Tối cao đã nhấn mạnh
tới đặc điểm tranh tụng của Mơ hình Tố tụng hình sự Hoa Kỳ rằng: hệ thống
16
“Mơ hình tố tụng Hợp chủng quốc Hoa Kỳ”, Trang thông tin khoa học Đại học Kiểm sát. Truy cập tại link:
/>