TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
=====000=====
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN
DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ VỚI MÔI TRƯỜNG SINH THÁI
HỌ VÀ TÊN
:
LỚP
:
MSV
:
STT
:
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN :
Hà Nội, 22/3/2021
1
Mục lục
Trang
I. Lời mở đầu.................................................................................................
II. Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến................................................
1.Sự ra đời của phép biện chứng...................................................................
2. Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến..............................................................
a. Nội dung nguyên lí về mối liên hệ phổ biến..............................................
b.Ý nghĩa phương pháp luận về mối liên hệ phổ biến..................................
III.Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở Việt Nam
1. Mối liên hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường.
2.Môi trường đang bị hủy hoại do chính sách tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
a.Trong công nghiệp.......................................................................................
b.Trong nông nghiệp......................................................................................
c.Trong du lịch biển.............................................................
d.Gia tăng mức tiêu thụ..................................................................................
3.Hậu quả của ô nhiễm môi trường..............................................................
4.Giải pháp giải quyết vấn đề.........................................................................
IV. Lời kết........................................................................................................
2
Lời mở đầu
Tất cả mọi sự vật, hiện tượng trên thế giới đều có những mối liên hệ qua
lại lẫn nhau, khơng có một sự vật hiện tượng nào lại tồn tại một cách độc lập
riêng rẽ. Ngay trong bản chất của mỗi sự vật hiện tượng cũng có sự liên kết giữa
các bộ phận cấu thành nên sự vật, hiện tượng ấy. Và con người chúng ta không
phải là một ngoại lệ.
Như chúng ta đã biết tất cả những mối liên kết trong sự sống sẽ không tồn
tại và phát triển được nếu khơng có sự hỗ trợ của môi trường nhưng với tốc độ
phá hoại môi trường như hiện nay của con người, môi trường của chúng ta đang
dần bị suy thối điều đó có nghĩa là mối liên kết các mạng lưới sự sống đang dần
bị phá vỡ. Sự tăng trưởng kinh tế ngày càng nhanh, một mặt nó nâng cao đời
sống của người dân mặt khác nó đang gây một sức ép mạnh mẽ lên mơi trường
tự nhiên. Cũng như các nước đang phát triển khác, để có những kết quả về kinh
tế trong giai đoạn trước mắt, chúng ta phải trả giá là mất đi nguồn tài nguyên lâu
dài. Một thập kỉ phát triển nhanh chóng ở Việt Nam đã dẫn đến tình trạng ơ
nhiễm đất, nước và quan trọng hơn là gia tăng mức tiêu thụ và phân hóa giàu
nghèo... Điều này chứng tỏ mối liên hệ giữa con người và môi trường ngày càng
lỏng lẻo. Chính vì vậy em quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu về phép biện
chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng
trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường ở Việt Nam” để nghiên cứu.
Nghiên cứu về này, em muốn góp một phần cơng sức nhỏ bé của mình lên
tiếng bảo vệ môi trường - một vấn đề gây nhức nhối toàn cầu hiện nay. Đồng
thời, tuyên truyền cho mọi công dân để họ biết tác hại của ô nhiễm môi trường
đến cuộc sống sức khỏe của con người để có ý thức bảo vệ mơi trường. Bảo vệ
mơi trường chính là bảo vệ bản thân và giúp đất nước phát triển kinh tế một cách
toàn diện, bền vững. Hoàn thành tiểu luận này em đã gia tăng được rất nhiều tri
thức về các mối quan hệ phổ biến trong cuộc sống đặc biệt là vai trị của mơi
trường đối với cuộc sống của con người.
3
I. Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến
1. Sự ra đời của phép biện chứng
Ra đời từ thời kì cổ đại, triết học có một bề dày lịch sử đồ sộ cùng quá
trình phát triển thăng trầm: phồn vinh có, suy vong có. Khởi đầu là phép biện
chứng tự phát cổ đại, thể hiện rõ nét trong thuyết âm dương của Trung Quốc hay
trong nhiều học thuyết của Hi Lạp cổ đại. Đến khoảng thế kỉ 17 nửa đầu thế kỉ
18, phương pháp siêu hình thống trị trong tư duy triết học nhân loại và hình
thành hệ thống lớn là phương pháp biện chứng duy tâm mà đại diện là Hêgenngười được coi là tiền đề của biện pháp duy vật biện chứng sau này. Ngày nay
phép biện chứng đã đạt đến trình độ cao nhất đó là phép biện chứng duy vật.
Phép biện chứng duy vật được tạo thành từ hàng loạt các phạm trù, những
nguyên lí những quy luật được khái quát từ hiện thực phù hợp với hiện thực. Vì
vậy, nó phản ánh đúng sự liên hệ, sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, xã
hội và tư duy. Nhờ vậy nó đã khắc phục được những hạn chế vốn có của phép
biện chứng tự phát cổ đại cho rằng thế giới là một chỉnh thể thống nhất, giữa các
bộ phận của nó có tính qua lại, tác động và chịu ảnh hưởng lẫn nhau, thế giới và
các bộ phận cấu thành thế giới không ngừng vận động và phát triển. Tuy nhiên,
sự hạn chế của phương pháp biện chứng này là tuy nó cho chúng ta thấy một
bức tranh về sự tác động qua lại, sự vận động phát triển nhưng chưa làm rõ được
cái gì liên hệ cũng như những quy luật tồn tại của sự vận động và phát triển.
Hơn nữa, phép biện chứng duy vật còn sửa được sai lầm của phép biện chứng
duy tâm khách quan cùng thời cổ đại. Hê gen cho rằng sự phát triển của thế giới
biện chứng của thế giới bên ngoài chỉ là sự sao chép lại sự tự vận động của ý
niệm tuyệt đối mà thôi. Phép biện chứng duy vật đã chứng minh rằng: những ý
niệm chỉ đơn thuần là sự phản ánh của các sự vật hiên tượng khách quan, do đó
bản thân biện chứng của các sự vật hiện tượng khách quan, do đó bản thân biện
chứng của ý niệm chỉ đơn thuần là sự phản ánh có ý thức của sự vận động biện
chứng của thế giới hiện thực khách quan. Như vậy, phép biện chứng duy vật đã
khái quát một các đúng đắn những quy luật vận động và sự phát triển chung nhất
của thế giới. Vì vậy, P Ăngen đã định nghĩa: “ Phép biện chứng duy vật là môn
4
khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự
nhiên, của xã hội lồi người và của tư duy”.
2. Ngun lí về mối liên hệ phổ biến
a. Nội dung nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
Phép biện chứng duy vật có vai trò làm sáng tỏ những quy luật của sự liên
hệ và phát triển của tự nhiên, xã hội loài người và của tư duy. Vì vậy ở bất kì cấp
độ phát triển nào của phép biện chứng duy vật, nguyên lí về mối liên hệ phổ
biến vẫn được xem là một trong những ngun lí có ý nghĩa khái quát nhất.
Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến cho rằng các sự vật hiện tượng và các quá
trình cấu thành thế giới đó vừa tách biệt nhau, và sự nương tựa lẫn nhau, sự
chuyển hóa lẫn nhau của các mặt, các yếu tố, các thuộc tính cấu thành sự vật
hiện tượng trong thế giới khách quan. Ngoài ra những người theo quan điểm duy
vật biện chứng còn khẳng định mối liên hệ qua lại giữa các sự vật và hiện tượng
chính là tính thống nhất của vật chất thế giới. Theo quan điểm này, các sự vật,
các hiện tượng trên thế giới dù có đa dạng, có khác nhau như thế nào đi chăng
nữa thì chúng chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của một thế giới duy nhất là
thế giới vật chất. Các mối liên hệ trong mỗi sự vật, giữa các sự vật với nhau,
trong toàn bộ vũ trụ, trong mọi không gian và thời gian. Quan điểm duy vật biện
chứng khơng chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của sự liên hệ giữa
các sự vật, hiện tượng, các q trình mà nó cịn nêu rõ tính đa dạng trong sự tồn
tại, sự vận động và phát triển của chính sự vật và hiện tượng quy định. Có mối
liên hệ bên trong là mối liên hệ qua lại, là sự tác động lẫn nhau giữa các bộ
phân, giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt khác nhau của một sự vật, nó giữ
vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật. Có mối
liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, các hiện tượng khác nhau, nói
chung khơng có ý nghĩa quyết định, hơn nữa nó thường phải thơng qua các mối
liên hệ bên trong mà phát huy. Tuy nhiên mối liên hệ bên ngồi cũng hết sức
qn trọng, đơi khi cịn giữ vai trị quyết định. Ngồi ra cịn có mối liên hệ chủ
yếu, có mối liên hệ thứ yếu, có mối liên hệ chung bao quát toàn bộ thế giới, có
mối liên hệ bao quát một số lĩnh vực riêng biệt của thế giới. Có mối liên hệ trực
5
tiếp, có mối liên hệ gián tiếp mà trong đó sự tác động qua lại được thực hiện
thông qua một hay một số khâu trung gian. Có mối liên hệ bản chất và mối liên
hệ khơng bản chất, có mối liên hệ tất yếu và ngẫu nhiên, có mối quan hệ giữa
các sự vật khác nhau, có mối liên hệ khác nhau của cùng một sự vật hiện tượng.
Sự vật hiện tượng nào cũng vận động và phát triển qua nhiều giai đoạn khác
nhau, giữa các giai đoạn đó cũng có mối liên hệ với nhau tạo thành lịch sử phát
triển hiện thực của các sự vật và các quá trình tương ứng. Quan điểm duy vật
biện chứng về liên hệ địi hỏi phải thừa nhận tính tương đối trong sự phân loại
đó. Các loại liên hệ khác nhau có thể chuyển hóa cho nhau, sự chuyển hóa đó có
thể diễn ra hoặc do thay đổi phạm vi bao quát xem xét hoặc do kết quả vận động
khách quan của chính sự vật hiện tượng ấy.
b. Ý nghĩa phương pháp luận về mối liên hệ phổ biến
Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến xét dưới góc độ thế giới quan thì nó
phản ánh tính thống nhất của vật chất và thế giới. Các sinh vật, hiện tượng trên
thế giới dù có đa dạng, có khác nhau như thế nào chăng nữa thì chúng cũng chỉ
là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất của một thế giới vật chất.
Xét dưới góc độ nhận thức lí luận, nó là cơ sở của quan điểm toàn diện. Với tư
cách là một nguyên tắc phương pháp luận trong việc nhận thức các sự vật, hiện
tượng, quan điểm tồn diện địi hỏi để có nhân thức đúng về sự vật chúng ta cần
xem xét nó: một là: trong mối liên hệ giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các
thuộc tính khác nhau của chính sự vật đó, hai là: trong mối liên hệ qua lại giữa
các sự vật đó với các sự vật khác, kể cả trực tiếp lẫn gián tiếp. Hơn thế nữa qn
điểm tồn diện địi hỏi để nhận thức đúng sự vật chúng ta cần xem xét nó trong
mối quan hệ với nhu cầu thực tiễn của con người. Quan điểm tồn diện địi hỏi
chúng ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đến chỗ
khái quát rút ra bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật hiện tượng
đó. Nhưng quan điểm tồn diện khơng đồng nhất với cách xem xét dàn trải, liệt
kê những quy định khác nhau của sự vật hiện tượng đó,nó đòi hỏi phải làm nổi
bật cái cơ bản nhất, cái quan trọng nhất của sự vật hay hiện tượng đó. Với tư
cách là nguyên tắc phương pháp luận trong hoạt động thực tiễn, nguyên lí về
6
mối liên hệ phổ biến đòi hỏi để cải tạo được sự vật, chúng ta phải bằng hoạt
động thực tiễn của mình biến đổi những mối liên hệ nội tại của sự vật cũng như
mối liên hệ qua lại giữa các sự vật khác. Muốn như vậy phải sử dụng đồng bộ
nhiều phương pháp, nhiều phương tiện khác nhau để tác động nhằm thay đổi
những liên hệ tương ứng. Để tránh những phương pháp luận sai lầm trong việc
xem xét sự vật, hoạt động cần tránh chủ nghĩa chiết trung, thuật ngụy biện. Mọi
sự vật hiện tượng đều tồn tại trong không gian thời gian nhất định và mang dấu
ấn của khơng gian thời gian đó. Do đó chúng ta cần có quan điểm lịch sử cụ thể
khi xem xét và giải quyết mọi vấn đề thực tiễn đặt đặt ra.
II. Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở Việt Nam
1. Mối liên hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ mơi trường
Mơi trường sinh thái là tồn bộ các điều kiện vô cơ, hữu cơ của các hệ
sinh thái ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và mọi hoạt động khác của xã hội
lồi người. Nó là những điều kiện tự nhiên, xã hội trong đó con người hay một
sinh vật tồn tại, phát triển trong quan hệ với con người. Còn tăng trưởng kinh tế
nhằm cải thiện và phát triển đời sống của con người.Vì vậy,giữa mơi trường sinh
thái và tăng trưởng kinh tế có mối liên hệ biện chứng chặt chẽ. Như chúng ta đã
biết môi trường sống được sinh ra và tồn tại một cách khách quan độc lập với ý
thức con người. Tuy nhiên, sự phát triển của mơi trường lại hồn tồn phụ thuộc
vào ý thức của con người,con người có thể tác động làm cho môi trường tốt lên
hoặc xấu đi. Tăng trưởng kinh tế lại được sinh ra, tồn tại và phát triển hồn tồn
phụ thuộc vào con người nên nó tồn tại chủ quan. Môi trường chịu tác động trực
tiếp của con người, tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào con người từ đó ta có thể
thấy mơi trường cũng chịu tác động của tăng trưởng kinh tế và ngược lại, mối
quan hệ giữa chúng được thơng qua một thực thể đó là con người. Môi trường là
địa bàn để tăng trưởng kinh tế diễn ra trên diện rộng và cần khai thác tài nguyên
thiên nhiên nhằm phục vụ lợi ích của con người. Nếu chỉ tăng trưởng kinh tế mà
không nghĩ đến việc cải tạo mơi trường thì một ngày nào đó tăng trưởng kinh tế
tăng trưởng kinh tế phải dừng lại do mơi trường suy thối. Lúc đó con người
phải gánh chịu tác động trực tiếp vì con người khơng thể sống mà không chịu sự
7
tác động của môi trường. Ngược lại, nếu tăng trưởng kinh tế gắn với việc bảo vệ
mơi trường thì khơng những nó làm cho đời sống của con người ngày cang được
cải thiện mà nó cịn làm cải thiện cả mơi trường do kinh tế phát triển nhà nước
có ngân sách cho những dự án bảo vệ môi trường, nguồn tài nguyên bị khai thác
được thay thế dần bởi các nguồn tài nguyên tự tạo.
2. Môi trường đang bị hủy hoại do chính sách tăng trưởng kinh tế ở Việt
Nam
a. Trong công nghiệp
Việt Nam vốn là nước nông nghiệp nhưng sau thời kì Đổi mới nước ta
đang dần chuyển sang nền kinh tế công nghiệp. Cụ thể, Việt Nam chuyển từ nền
kinh tế chỉ huy, tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần,vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Trong gần hai thập kỉ qua, thực hiện chủ trương và
đường lối đổi mới nền kinh tế Việt Nam đã đạt được một số thành tựu nhất định.
Chính sách đổi mới đã mang lại những thay đổi, tạo ra một nền kinh tế năng
động, một xã hội văn minh, công bằng và dân chủ. Tổng sản phẩm quốc nội
(GDP) tăng trung bình hơn 7%/năm. Đặc biệt trong công nghiệp, tăng trưởng
công nghiệp từ xuất phát điểm chỉ có 0,6% năm 1980 tăng lên đến 6,07% năm
1990 và giai đoạn 1991-2000 tăng lên trung bình 12,9%/năm, trong đó thời kì
1991-1995 có tốc độ tăng trưởng cao nhất đạt 17%/năm. Tỷ trọng công nghiệp
đã có sự chuyển dịch đáng kể theo hướng cơng nghiệp hóa từ mức 22,7% GDP
năm 1991 tăng lên 36,6% năm 2000. Sự phát triển của q trình cơng nghiệp
hóa trong những năm qua một mặt là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế,giải
quyết được nạn thất nghiệp hay thất nghiệp tạm thời của người dân Việt Nam
song đồng thời nó cũng bộc lộ khơng ít mặt trái do phát triển kinh tế không gắn
liền với bảo vệ môi trường để lại hậu quả lâu dài.
Phát triển kinh tế với hàng loạt các nhà máy xí nghiệp lần lượt ra đời và
tất yếu sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường. Hiện nay trên cả nước tổng lượng chất
thải rắn ước tính khoảng 49.000 tấn/ngày, trong đó chất thải rắn cơng nghiệp
chiếm khoảng 27.000 tấn/ngày. Việc quản lí chặt chẽ chất thải rắn nguy hại đang
8
gặp nhiều khó khăn, khơng có đủ kho chứa đủ tiêu chuẩn để lưu giữ các chất
độc hại trước khi xử lí, khơng có nhà máy xử lí chất thải độc. Phần lớn chất thải
rắn nguy hại này thuần túy chỉ được chôn chung lẫn lộn với rác thải sinh hoạt
hay thậm chí đổ tại nhà máy gây mối nguy hại rất lớn đối với mơi trường sống.
Ngồi ra, trong quá trình sản xuất,kinh doanh,các cơ sở doanh nghiệp
thường thải ra một lượng nước thải khá lớn. Đặc biệt là khoảng hơn 90% cơ sở
sản xuất cũ chưa có thiết bị xử lí nước thải. Phần lớn các nhà máy xí nghiệp nếu
co tiến hành xử lí thì chỉ xử lí sơ bộ rồi thải thẳng ra nguồn nước mặt, gây ơ
nhiễm trầm trọng đối với nhiều dịng sơng. Trong nhiều trường hợp,nước thải ứ
đọng rất lâu ngày còn gây ô nhiễm không khí, mất mĩ quan, lan truyền bệnh dịch
và nhiều tác động tiêu cực khác. Nước thải công nghiệp chính là một trong
những ngun nhân gây ơ nhiễm cho mơi trường đơ thị.
Khí thải của các cơ sở doanh nghiệp sản xuất cũng là vấn đề cần bàn tới.
Ơ nhiễm mơi trường khơng khí chủ yếu do các ngành nhiệt điện,cơng nghiệp
hóa chất gây nên. Ví dụ nhà máy nhiệt điện Phả Lại, nồng độ bụi trung bình tại
các điểm đo đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1 đến 6 lần. Tại nhà máy nhiệt điện
ng Bí, nồng độ bụi đo trong 1 giờ từ 4 đến 4,7mg/m 3, gấp 13 đến 16 lần trị số
cho phép. Nồng độ các chất khí độc hại khác như CO2, NO2, SO2,... trong khơng
khí xung quanh nhiều nhà máy và khu công nghiệp đều vượt tiêu chuẩn cho
phép từ 1,5 đến 2,5 lần. Điều này đã gây tác động rất xấu đối với mùa màng và
sức khỏe của nhân dân của cả một vùng rộng lớn xung quanh các khu vực nhà
máy. Tuy trong trong thời gian,phần lớn các nhà máy đã trang bị thiết bị thiết bị
9
xử lí bụi nhưng số lượng các nhà máy có thiết bị xử lí khí độc hại cịn rất ít mà
chủ yếu được thải thẳng ra ngồi khơng khí, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe
con người.
Còn nhiều vấn đề ô nhiễm do công nghiệp gây ra như việc nhập
khẩu các thiết bị lạc hậu từ nước ngoài, hay tiếng ồn từ các cơ sở sản xuất...mà
trong phạm vi bài tiểu luận em khơng thể trình bày hết được, trên đây là những
vấn đề mà theo em là cấp thiết và cần có hướng giải quyết kịp thời.
b. Trong nơng nghiệp
Là nước có xuất phát điểm là nơng nghiệp nên nước ta có lợi thế nhất
định về nơng nghiệp bằng chứng là hiện nay tổng kim nghạch xuất khẩu nông
nghiệp nước ta vẫn chiếm trên 50%. Điều này,cũng là lợi thế của nước ta trong
thời kì hội nhập kinh tế. Tuy nhiên đi đôi với sự gia tăng này của các hoạt động
sản xuất là khả năng gây ô nhiễm môi trường và hủy hoại môi trường ngày càng
lớn. Các nghành nơng nghiệp, trồng trọt, chăn ni cũng có nhiều cơ hội để
thâm canh, gia tăng lượng đẫn đến việc phá hủy tài nguyên thiên nhiên do khai
thác,trồng trọt và chăn ni khơng hợp lí. Để tăng sản lượng các loại rau củ
quả...người nông dân thường phun các loại chất kích thích, phân bón thuốc trừ
sâu...Trình độ nhận thức và chun mơn của người dân cịn thấp, thêm vào đó
đội ngũ cán bộ nơng nghiệp cịn chưa nhiều nên người nơng dân chưa có ý thức
được hành động của họ sẽ dẫn đến hậu quả gì. Viêc sử dụng các loại hóa chất và
sau đó vứt ngay các loại vỏ, bao đựng trên ruộng trước tiên gây ô nhiễm nguồn
nước sau là nguy hiểm cho những người sử dụng các loại ra quả đó.
10
Thực tế là trong năm 2002, ở miền bắc, giá nhãn và vải đã mất giá nghiêm
trọng do Trung Quốc khơng nhập khẩu vì hàng chưa đảm bảo tiêu chuẩn chất
lượng...Sử dụng hóa chất khơng được cho phép trước tiên là gây ô nhiễm nguồn
nước, không tiêu thụ được hàng hóa, sau cùng là gây ra thối hóa đất –một sự
mất mát lớn. Môi trường đang kêu cứu.
c. Trong du lịch biển
Sau khi hội nhập kinh tế WTO, nước ta từng bước phát triển về mọi mặt
của kinh tế: công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải và đặc biệt là du
lịch..Năm 2001, tồn ngành đón 2,33 triệu lượt khách quốc tế, tăng gần 9%,vượt
kế hoạch 6% so với năm 2000. Du lịch phát triển tạo nhiều công ăn việc làm cho
dân cư và thu được một lượng ngoại tệ lớn cho ngân sách quốc gia. Tuy nhiên
cũn như sự phát triển trong công nghiệp và nông nghiệp, hoạt động du lịch cũng
đang tác động đến môi trường về nhiều mặt.
Do nhu cầu phát triển du lịch, nhiều diện tích đất đai bị khai phá để xây
dựng cơ sở hạ tầng như làm đường giao thơng khách sạn,các cơng trình thể
thao,các khu vui chơi giải trí. Điều đó gây phá hoại hoặc tổn thất tới cảnh quan
thiên nhiên, các hệ sinh thái.
Sự phát triển du lịch còn tạo nên mối đe dọa tới các hệ sinh thái như phá
những khu rừng ngập mặn để xây dựng cơ sở hạ tầng, làm mất hoặc chia cắt nơi
cư trú của các loài sinh vật, khai thác bừa bãi các tài nguyên rừng, biển để sản
xuất các sản phẩm phục vụ khách du lịch như tiêu bản các loại thú rừng,hoa lan
rừng, tắc kè, đồi mồi, san hô....tại nhiều điểm du lịch của nước tra. Ngoài ra việc
khai thác hải sản biển cũng đang ở mức báo động. Đánh cá ven bờ giảm một
11
cách đáng kể và số thuyền đánh cá đã tăng lên một cách nhanh chóng do có sự
khuyến khích của chính phủ. Việc khai thác dầu khơng hợp lí cũng là một trong
những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường.
d. Gia tăng mức tiêu thụ
Sau thời kì đổi mới cùng các chính sách kinh tế đúng đắn,nước ta đang
từng bước đi lên đặc biệt là mức thu nhập của người dân. Con người ngày càng
đòi hỏi nhiều hơn các hàng hóa,dịch vụ phục vụ bản thân. Hậu quả là sẽ có
nhiều rác thải sinh hoạt được thải ra nếu khơng có biện pháp xử lí, thu gom sẽ
tạo ra nhiều bãi rác nhanh chóng.
Hơn nữa, nước ta đang trong tình trạng đơng dân số do ý thức người dân
cịn thấp. Dân số đông, kinh tế phát triển, nhu cầu đi lại cũng tăng, hằng ngày
lượng khí thải từ các phương tiện giao thơng như ơ tơ, xe máy... đang góp phần
vào ơ nhiễm khơng khí. Dân số đơng, người ta lấp ao hồ để lấy đất ở. Rừng ngày
càng bị thu hẹp do nhu cầu khai thác gỗ mạnh để sản xuất ra đồ dùng phục vụ
cho con người. Các lồi động vật q hiếm có nguy cơ tuyệt chủng trước tình
trạng săn bắt tràn lan để làm vật chưng bày hoặc làm thịt cho các thực khách...
Hệ sinh thái đang mất dần đi sự cân bằng trước sự phá hoại như vũ bão của con
người.
3. Hậu quả của ô nhiễm mơi trường
Có người đã nói “Nếu chúng ta bắn vào thiên nhiên một phát đạn, thì
thiên nhiên sẽ bắn trả lại ta bằng đại bác”. Thật vậy, trong vòng 7 năm trở lại
đây, các thảm họa tự nhiên như bão xoáy, lụt lội, hạn hán,... ngày càng tăng
nhanh cả về tần suất lẫn cường độ như hạn hán ở miền Trung, bão lụt ở đồng
bằng sông Cửu Long, cháy rừng ở U Minh.... đã cướp đi sinh mạng của nhiều
12
người, thâm hụt ngân sách nhà nước hàng trăm tỷ đồng- một con số không nhỏ
đối với một quốc gia nghèo như Việt Nam. Ngồi ra, đi đơi với sự suy giảm của
môi trường, các bệnh về thời tiết cũng gia tăng, thiệt hại người do các bệnh về
đường nước tăng như sốt rét, tiêu chảy... Các bệnh liên quan đến đường ruột
bệnh giun,bệnh sán máng,giun trong máu... các bệnh về hô hấp như ung thư
phổi, viêm phổi.... Cuộc sống của con người đang bị đe dọa.
4. Giải pháp giải quyết vấn đề
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang tăng cường
quan hệ thương mại song phương với các nước trên thế giới và tiến hành thủ tục
đàm phán để gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) tham gia tích cực
vào các định chế kinh tế khu vực như ASEAN, APEC, ASEM,...đặc biệt là hiệp
định thương mại Việt-Mỹ. Để hàng Việt Nam có chỗ đứng và khả năng cạnh
tranh với các nước khác chúng ta cần:
- Tăng cường kiểm tra, giám sát sự tuân thủ về pháp luật của các cơ sở
công nghiệp
- Khuyến khích sử dụng cơng nghệ và dây chuyền sản xuất tiết kiệm năng
lượng,nguyên liệu phát triển nguồn năng lượng sách, ít khí thải.
-Bắt buộc các nhà máy mối đầu tư áp dụng công nghệ tiên tiến, xây dựng
và vận hành hệ thống xử lí nước thải đạt tiêu chuẩn mơi trường.
-Lập quy hoạch môi trường song song với việc quy hoạch và phát triển
công nghiệp trước khi thải ra môi trường.
- Tổ chức và quản lí kịp thời đún quy các loại chất thải công nghiệp,chất
thải y tế và các loại chất thải khác.
- Thực hiện chủ trương xanh hóa đo thị và khu công nghiệp, xây dựng
hành lang xanh và vùng chuyển tiếp giưã khu công nghiệp và khu dân cư.
-Tăng cường vai trò của nhà nước trong khâu thẩm định, kiểm tra các mặt
hàng nhập khẩu vào nước ta như máy móc, thiết bị vật tư, nguyên vật liệu, các
giống mới...
- Cần bảo vệ, tôn tạo, khai thác và sử dụng tài nguyên hợp lí, đảm bảo sự
phát triển bền vững
13
- Các sản phẩm về nông nghiệp cần hạn chế các loại thuốc gây hại cho
người sử dụng cũng như cho đất trồng
- Có chính sách ưu đãi đối với các sản phẩm có nhãn sinh thái
Ngồi ra để đảm bảo sự phát triển bền vững nhà nước của chúng ta cần:
- Có chính sách ưu đãi đối với các hộ nhận khốn rừng
- Có hình thức phạt nặng hơn nữa đối với những kẻ chặt phá rừng trái
phép
- Thành lập các khu bảo tồn động vât,thực vật
- Khai thác gỗ hợp lí
- Cán bộ kiểm lâm có chức vụ và quyền hạn cao hơn nữa để công tác
kiểm lâm được chặt chẽ hơn,ngoài ra các bộ kiểm lâm cần có chính sách ưu đãi
hơn
- Khai thác dầu hợp lí
- Bảo vệ nguồn sinh vật biển,đặc biệt là những loại quý hiếm
- Nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường
IV. Lời kết
Việt nam đang trên con đường cơng nghiệp hóa hiện đại đất nước với nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng ta phải đi từ mục tiêu cơ bản
nhất của mọi sự phát triển để cải thiện nâng cao chất lượng cuộc sống và vì sự
sống trường tồn bền vững. Đây là vấn đề quan trọng trong công cuộc công
nghiệp hóa hiện hóa đất nước hiện nay cũng như về lâu dài. Tất cả các bài học
kinh nghiệm đã rút ra trong quá trình quy hoạch phát triển trước đây cần phải
được vận dụng triệt để cho quá trình phát triển của tương lai sao cho tránh được
những hậu quả có hậu quả có thể xảy ra và đảm bảo hiệu quả cao nhất cho quá
trình phát triển kinh tế. Chúng ta bảo vệ môi trường không phải nhằm mục đích
hạn chế q trình phát triển kinh tế mà nhằm mục đích đảm bảo hiệu quả kinh tế
cao hơn cho quá trình phát triển tất yếu này, đồng thời nhằm nhằm bảo vệ chất
lượng cuộc sống của mỗi con người chúng ta. Do đó, bảo vệ mơi trường và tăng
trưởng kinh tế có sự thống nhất. Có phát triển mới có kinh phí đầy đủ dành cho
14
việc bảo vệ mơi trường và có bảo vệ mơi trường mới đảm bảo sự phát triển lâu
dài và ổn định.
15
Tài liệu tham khảo
1. G.S Lê Quý An, Du lịch và mơi trường, Tạp chí Du lịch, số 12, 1999
2.Nguyễn Anh, Hội thảo khoa học môi trường chuyên ngành mỏ luyện kim, hóa
chất, Tạp chí Cơng nghiệp, số 19, 1999
3. Craig Leisher, Môi trường Việt Nam những điều cần làm, Tạp chí Bỏa vệ mơi
trường, số 7, 2001
4. Lê Minh Đức, Bảo vệ môi trường và vấn đề phát triển bền vững ở Việt Nam,
con số và sự kiện, số 12, 1999
5. T.S Trần Thanh Lâm, Một tiếp cận mới trong quản lí thương mại và bảo vệ
mơi trường ở Việt Nam,Tạp chí Xây dựng, số 3, 2002
6. www.tailieu.vn
7. www.dantri.com
16