TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Triết học Mác – Lênin
TIỂU LUẬN MƠN:…………………………………….
TÊN ĐỀ TÀI: Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, sự vận
dụng của Đảng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới
chính trị ở Việt Nam
Họ và tên sinh viên
: Phan Ngọc Diễm Quỳnh
Mã số sinh viên
: 030137210438
Lớp, hệ đào tạo
: MLM306_211_D37, Tài chính ngân hàng
CHẤM ĐIỂM
Bằng số
TP.HỒ CHÍ MINH - NĂM 2022
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...................................................................................................................... 1
NỘI DUNG................................................................................................................... 1
1. Cơ sở lý luận............................................................................................................. 1
1.1. Khái niệm............................................................................................................ 1
1.1.1. Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng........................................1
1.2. Nội dung.............................................................................................................. 2
1.2.1. Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng............................... 3
2. Thực trạng sự vận dụng của Đảng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa đối
mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam............................................................. 6
2.1. Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở nước ta.............................................................................................................. 6
2.2. Thực trạng tích cực trong việc đổi mới kinh tế và chính trị hiện nay của Việt
Nam............................................................................................................................ 7
2.3. Những hạn chế cần khắc phục........................................................................... 10
3. Kết luận.................................................................................................................. 10
TÀI LIỆU THAM KHẢO
i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1.Chủ nghĩa xã hội (CNXH)
2.Xã hội chủ nghĩa (XHCN)
MỞ ĐẦU
Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, xét cho cùng đều bị các
quan hệ của kinh tế quy định. Dù ở xã hội nào, triết học bao giờ cũng bao gồm hai yếu
tố: yếu tố nhận thức đã là sự hiểu biết về thế giới xung quanh trong đó con người là
yếu tố nhận định là sự đánh giá về mặt đạo lý.
Để phù hợp với trình độ phát triển thấp ở các giai đoạn đầu tiên của lịch sử loài
người, triết học ra đời với tính cách là một khoa học tổng hợp các tri thức của con
người về hiện thực xung quanh và bản thân mình. Sau đó, do sự phát triển của xã hội
triết học đã tách ra khỏi thành khoa học độc lập, triết học với tính cách là khoa học,
nên nó có đối tượng và nhậm vụ nhận thức riêng của mình, nó là hệ thống những quan
niệm, quan niệm có tính chất chính thể về thế giới, về các q trình vật chất, tính thần
và mối quan hệ giữa chúng, về nhận thức và cải biên chế thế giới. Do vậy, triết học
nghiên cứu về vấn đề: tư duy, xã hội và tự nhiên. Trong đó vấn đề xã hội là vấn đề
mang tính hình thái kinh tế, phản ánh động lực sự phát triển xã hội thông qua lực
lượng sản xuất. Để có cơ chế, cách thức trong sự phát triển xã hội thì cần phải có cơ sở
hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Do vậy, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là
một vấn đề đặc biệt phải quan tâm tới.
Cở sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là một trong những nội dung cơ bản của
học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa duy vật lịch sử, là cơ sở thế giới
quan và phương pháp luận khoa học trong nhận thức và cải tạo xã hội.
Vì thế em chọn đề tài: “Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng,
sự vận dụng của Đảng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi
mới chính trị ở Việt Nam” để nghiên cứu sâu thêm về mối quan hệ biện chứng cơ sở
hạ tầng và kiến trúc thượng tầng vào phát triển kinh tế và khoa học ở nước ta hiện nay.
NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
1.1. Khái niệm
1.1.1. Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
1.1.1.1. Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của
một xã hội nhất định.
Cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể bao gồm quan hệ sản xuất thống trị,quan hệ
sản xuất tàn dư của xã hội cũ và quan hệ sản xuất mầm mống của xã hội tương lai.
Trong đó, quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo, chi phối các
quan hệ sản xuất khác, nó quy định xu hướng chung của đời sống kinh tế - xã hội. Bởi
vậy, cơ sở hạ tầng củamột xã hội cụ thể được đặc trưng bởi quan hệ sản xuất thống trị
trong xã hội đó. Tuy nhiên, quan hệ sản xuất tàn dư và quan hệ sản xuất mầm mống
cũng có vai trị nhất định.
Như vậy, xét trong nội bộ phương thức sản xuất thì quan hệ sản xuất là hình
thức phát triển của lực lượng sản xuất, nhưng xét trong tổng thể các quan hệ xã hội thì
các quan hệ sản xuất "hợp thành" cơ sở kinh tế của xã hội, tức là cơ sở hiện thực, trên
đó hình thành nên kiến trúc thượng tầng tương ứng.
1.1.1.2. Kiến trúc thượng tầng
Kiến trúc thượng tầng là tồn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền, triết
học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật,... cùng với những thiết chế xã hội tương ứng như
nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đồn thể xã hội,... được hình thành trên cơ sở hạ
tầng nhất định. Mỗi yếu tố của kiến trúc thượng tầng có đặc điểm riêng, có quy luật
vận động phát triển riêng, nhưng chúng liên hệ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và
đều hình thành trên cơ sở hạ tầng. Song, mỗi yếu tố khác nhau có quan hệ khác nhau
đối với cơ sở hạ tầng. Có những yếu tố như chính trị, pháp luật có quan hệ trực tiếp với
cơ sở hạ tầng; còn những yếu tố như triết học, tôn giáo, nghệ thuật chỉ quan hệ gián
tiếp với nó. Trong xã hội có giai cấp, kiến trúc thượng tầng mang tính giai cấp. Đó
chính là cuộc đấu tranh về mặt chính trị - tư tưởng của các giai cấp đối kháng, trong
đó, đặc trưng là sự thống trị về mặt chính trị - tư tưởng của giai cấp thống trị.
Trong kiến trúc thượng tầng của xã hội có giai cấp, nhà nước có vai trị đặc biệt
quan trọng. Nó tiêu biểu cho chế độ chính trị của một xã hội nhất định. Nhờ có nhà
nước, giai cấp thống trị mới thực hiện được sự thống trị của mình về tất cả các mặt của
đời sống xã hội
1.2. Nội dung
1.2.1. Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Theo như quan điểm của chủ nghĩa duy tâm thì nhà nước và pháp luật quyết
định quan hệ kinh tế, ý thức tư tưởng quyết định tiến trình phát triển của xã hội. Theo
chủ nghĩa duy vật, kinh tế là yếu tố duy nhất quyết định còn ý thức tư tưởng, chính trị
khơng có vai trị gì đối với tiến bộ xã hội.
Nhưng theo chủ nghĩa Mác-Lê nin khẳng định: Cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng có quan hệ biện chứng khơng tách rời nhau, trong đó có cơ sở hạ tầng giữ
vai trị quyết định kiến trúc thượng tầng. Còn kiến trúc thượng tầng là phản ánh cơ sở
hạ tầng, nhưng nó có vai trị tác động trở lại to lớn với cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó.
Trong sự thống nhất biện chứng này, sự phát triển của cơ sở hạ tầng đóng một
vai trò với kiến trúc thượng tầng. Kiến trúc thượng tầng phải phủ hợp với tính chất
trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng hay cơ sở hạ tầng nào thì kiến trúc thượng tầng
ấy.
Sự biến đổi giữa hai yếu tố này cũng tuân theo mối quan hệ biện chứng giữa
chất và lượng diễn ra theo hai hướng:
Một là: sự phát triển hoạc giảm đi về lượng dẫn đến sự biến đổi ngay về chất.
Hai là: sự tăng hay giảm về lượng không làm cho chất thay đổi ngay mà thay
đổi dần dần từng phần từng bước .
Theo quy luật này thì quá trình biến đổi giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng
tầng diễn ra như sau:
Khi cơ sở hạ tầng phát triển đến một mức độ giới hạn nào đó gọi là “điểm nút”,
thì nó địi hỏi kéo theo sự thay đổi về kiến trúc thượng tầng. Q trình này khơng chỉ
đơn thuần là sự biến đổi một hay nhiều bộ phận, mà còn là sự chuyển đổi cả một hình
thái kinh tế chính trị ưu thế, sẽ chiếm giữ cả giai đoạn lịch sử này: trong giai đoạn hình
thái kinh tế chính trị đó chiếm giữ thì cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng có sự
dung hồ với nhau hay đạt được giới hạn độ. Tại đây cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng
tầng tác động biện chứng với nhau theo cách thức bắt đầu sự thay đổi một cách có tuần
tự về cơ sở hạ tầng (là tăng hoặc giảm dần), nhưng tại đây kiến trúc thượng tầng chưa
có sự thay đổi.
Cơ sở hạ tầng ở mỗi giai đoạn lịch sử lại mâu thuẫn, phủ định lẫn nhau, từ đó
dẫn đến q tình đào thải. Mác nói: “Nếu khơng có phủ định những hình thức tồn tại
đã có trước thì khơng thể có sự phát triển trong bất cử lĩnh vực nào”. Chính vì cơ sở hạ
tầng cũ được thay thế bằng cơ sở hạ thầng mới, bao hãm những mặt tích cực tiến bộ
của cái cũ được được thay thế. Chính vì cơ sở hạ tầng thường xuyên vận động như vậy
nên kiến trúc thượng tầng luôn luôn thay đổi nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của cơ
sở hạ tầng.
a) Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng:
Mỗi hình thái kinh tế xã hội có cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng riêng của
nó. Do đó, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng ln mang tính lịch sử cụ thể, đồng
thời giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau, cơ sở hạ tầng giữ vai trò quyết
định đối với kiến trúc thượng tầng.
Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng thể hiện trước hết ở chỗ: Cơ sở hạ tầng là
những quan hệ vật chất khách quan quy định mọi quan hệ khác: về chính trị, tinh thần,
tư tưởng của xã hội. Cơ sở hạ tầng nào sinh ra kiến trúc thượng tầng ấy, nói cách khác
cơ sở hạ tầng sinh ra kiến trúc thượng tầng và kiến trúc thượng tầng bao giờ cũng phản
ánh một cơ sở hạ tầng nhất định, khơng có kiến trúc thượng tầng chung cho mọi xã
hội.
Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng về tính chất, nội dung và kết cấu:
Tính chất của kiến trúc thượng tầng đối kháng hay không đối kháng, nội dung của kiến
trúc thượng tầng nghèo nàn hay đa dạng, phong phú và hình thức của kiến trúc thượng
tầng gọn nhẹ hay phức tạp do cơ sở hạ tầng quyết định.
Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng còn thể hiện ở
chỗ những biến đổi căn bản trong cơ sở hạ tầng dẫn đến sự biến đổi căn bản trong kiến
trúc thượng tầng. Mác viết: “Cơ sở kinh tế thay đổi thì tất cả các kiến trúc thượng tầng
đồ sộ cũng bị thay đổi ít nhiều nhanh chóng”.
Sự biến đổi của kiến trúc thượng tầng diễn ra rõ rệt khi cơ sở hạ tầng này thay thế
cơ sở hạ tầng khác. Nghĩa là, khi cách mạng xã hội đưa đến sự thủ tiêu cơ sở hạ tầng
cũ, bị thay thế bởi cơ sở hạ tầng mới thì sự thống trị cũ cũng bị xoá bỏ và được thay
thế bằng sự thống trị của giai cấp lãnh đạo mới. Qua đó khi chính trị của giai cấp thay
đổi, bộ máy nhà nước mới thành lập thay thế nhà nước cũ, ý thức xã hội cũng biến đổi.
Như vậy, chúng ta có thể thấy cơ sở hạ tầng có tác động lớn, mang tính quyết
định đối với kiến trúc thượng tầng. Do đó trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, việc xây
dựng cơ sở chủ nghĩa có tác động vơ cùng to lớn đối với cuộc sống xã hội. Chính vì
tầm quan trọng của nó mà khi xem xét, dự định cải tạo một bộ phận nào của kiến trúc
thượng tầng phải xem xét cải tại cẩn thận từ cơ sở hạ tầng xã hội, tính quyết định của
cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng diễn ra rất phức tạp trong quá trình chuyển
đổi từ một hình thái kinh tế - xã hội này sang một hình thái kinh tế - xã hội khác.
Tuy vậy những quan hệ tinh thần, tư tưởng của xã hội là kiến trúc thượng tầng
cũng khơng hồn tồn thụ động, nó cũng mang một vai trò tác động trở lại to lớn đối
với cơ sở hạ tầng sinh ra nó.
b) Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng
Trong mối quan hệ với cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng phản ánh cơ sở hạ
tầng biểu hiện tập trung trong đời sống tinh thần xã hội, do đó có tác động to lớn trở lại
với cơ sở hạ tầng.
Là một bộ phận cấu thành hình thái kinh tế xã hội, được sinh ra và phát triển trên
một cơ sở hạ tầng nhất định, cho nên sự tác động tích cực của kiến trúc thượng tầng
đối với cơ sở hạ tầng được thể hiên ở chức năng xã hội của kiến trúc thượng tầng là
ln được bảo vệ và duy trì, củng cố và hồn thiện cở sở hạ tầng sinh ra nó, đồng thời
đấu tranh xoá bỏ cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng đã lỗi thời lạc hậu, khơng có
thích hợp.
Trong các yếu tố cấu thành nên kiến trúc thượng tầng, nhà nước giữ một vai trò
đặc biệt quan trọng và có tác động mạnh mẽ đối với cơ sở hạ tầng vì: nó là một lượng
vật chất tập trung sức mạnh kinh tế và chính trị của giai cấp thống trị. Nhà nước không
chỉ dựa trên hệ tưởng mà cịn dựa trên những hình thức nhất định của việc kiểm sốt
xã hội, sử dụng bạo lực, khơng chế, bao gồm các yếu tố vật chất: quân đội, cảnh sát,
toà án, nhà tù… nhằm tăng cương sức mạnh của giai cấp thống trị (sức mạnh kinh tế),
củng cố địa vị trong quan hệ sản xuất thống trị.
Cùng với nhà nước, các yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng cũng đã tác động
đến cơ sở hạ tầng bằng nhiều hình thức khác nhau. Các yếu tố của kiến trúc thượng
tầng khơng những chỉ có tác động lẫn nhau. Song thường những sự tác động đó phải
thơng qua nhà nước, phát luật hoặc các thể chế tương ứng, chỉ qua đó chúng mới có
thể phát huy được hết hiệu lực đối với cơ sở hạ tầng, đối với toàn xã hội.
Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng cùng chiều với quy
luật vận động của cơ sở hạ tầng. Trái lại, khi nó tác động ngược chiều với qui luật kinh
tế khách quan, nó sẽ cản trợ sự phát triển của cơ sở hạ tầng.
Hiệu quả tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng phụ thuộc vào
sự chủ quan trong nhận thức và việc vận dụng những quy luật kinh tế - xã hội vào hoạt
động thực tiễn của con người. Kiến trúc thượng tầng có vai trò to lớn, định hướng
những hoạt động thực tiễn đưa lại phương án phát triển tối ưu cho kinh tế - xã hội. Tuy
nhiên nếu nhấn mạnh, tuyệt đối hố, phủ nhận tính tất yếu kinh tế của xã hội sẽ phạm
sai lầm của chủ nghĩa duy tâm chủ quan dưới những hình thức khác nhau.
Nói tóm lại, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng có quan hệ biện chứng với
nhau. Do đó khi xem xét, cải tạo hình thức xã hội mới phải thấy rõ vai trò quyết định
của cơ sở hạ tầng và sự tác động trở lại cảu kiến trúc thượng tầng, không được phép
tuyệt đối hố hoặc hạ thấp bất kì yếu tố nào.
Trung thành với lý luận Mác – Lê nin và sự vận dụng sáng tạo của nó vào tình
hình thực tiễn ở Việt Nam, Đảng chủ trương tập chung đổi mới nền kinh tế, nhằm đáp
ứng những đòi hỏi cấp bách của nhân dân về các yếu tố đời sống, việc làm và các nhu
cầu xã hội khác, coi đó là nhiệm vụ quan trọng để tiến hành thuận lợi đổi mới trên lĩnh
vực chính trị: “Nhà nước phải thực hiện tốt vai trò quản lý về kinh tế - xã hội bằng
pháp luật, kế hoạch, chính trị, thơng tin, tun truyền giáo dục và cơng cụ khác”.
2.
Thực trạng tích cực trong sự vận dụng của Đảng trong việc giải quyết mối
quan hệ giữa đối mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam
2.1. Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của chủ nghĩa xã hội (CNXH) khác so
với cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội giai cấp đối kháng. Dưới
CNXH, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là thuần nhất và thống nhất. Hình thức
sở hữu bao trùm là sở hữu toàn dân và tập thể, hợp tác tương trợ trong việc sản xuất,
phân phối sản phẩm theo lao động.
Kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa (XHCN) phản ánh cơ sở hạ tầng của
chủ nghĩa xã hội nên có sự thống trị về mặt chính trị và tinh thần. Nhà nước XHCN là
nhà nước của dân, do dân và vì dân. Pháp luật của xã hội chủ nghĩa là công cụ để cải
tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội chủ nghĩa tiến bộ, khoa học để trở thành động lực cho
xã hội phát triển.
Thời kỳ quá độ từ tư bản chủ nghĩa lên xã hội chủ nghĩa là thời kỳ cải biến cách
mạng một cách sâu sắc và triệt để, là giai đoạn lịch sử chuyển tiếp. Do đó, cơ sở hạ
tầng và kiến trúc thượng tầng mang đầy đủ đặc trưng của nó.
Khi nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đi lên xã hội chủ nghĩa đã
gặp rất nhiều khó khăn trong xây dựng CNXH. Cơ sở hạ tầng thời kỳ quá độ gồm
nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế hợp tác,…tạo nên
một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Để định hướng XHCN với các thành phần kinh tế, nhà nước cần sử dụng tổng
thể các biện pháp kinh tế hành chính và giáo dục. Trong đó, biện pháp kinh tế giữ vai
trị quan trọng nhất để từng bước xã hội hóa nền sản xuất với hình thức và bước đi
thích hợp.
Về kiến trúc thượng tầng, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
làm kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và toàn dân ta. Nội dung cốt lõi là tư
tưởng về sự giải phóng con người khỏi chế độ bóc lột, thốt khỏi nỗi nhục là đi làm
th bị đánh đập, lượng thấp. Trong sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa, việc giáo
dục truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành tư tưởng chủ
đạo trong đời sống tinh thần của xã hội là việc làm thường xuyên và cần liên tục.
Xây dựng hệ thống chính trị, xã hội mang bản chất giai cấp công nhân do đảng
cộng sản lãnh đạo đảm bảo cho nhân dân là người chủ thực sự của xã hội, toàn bộ
quyền lực của xã hội thuộc về nhân dân.
Mỗi bước phát triển của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là một bước để
giải quyết mâu thuẫn giữa chúng. Việc phát triển và củng cố cơ sở hạ tầng giúp điều
chỉnh và củng cố các bộ phận của kiến trúc thượng tầng là một quá trình ln diễn ra
trong suốt thời kỳ q độ.
2.2. Thực trạng đổi mới kinh tế và chính trị hiện nay của Việt Nam
Sau hơn 35 năm đổi mới cho thấy, mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới
chính trị được Đảng ta đặc biệt quan tâm nhận thức và giải quyết đúng đắn, phù hợp
với từng giai đoạn cách mạng. Việc nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ này
cũng là khâu đột phá trong đổi mới tư duy và thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp đổi mới của
Đảng.
Điều quan trọng đầu tiên là “Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội
chủ nghĩa mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan
niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp”.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn này, Đảng từng bước hoàn thiện nhận thức về đổi mới
kinh tế và đổi mới chính trị. Theo đó, “đổi mới kinh tế” là quá trình chuyển đổi nền
kinh tế từ cơ chế tập trung, bao cấp, chủ yếu dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và tập
thể sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước, sự lãnh đạo của Đảng theo định hướng XHCN; là bước chuyển
từ nền kinh tế cơ bản là “khép kín” sang nền kinh tế “mở”, hội nhập, kết hợp tăng
trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, cơng bằng xã hội, bảo vệ môi
trường sinh thái. Đồng thời đổi mới từ việc chỉ có hai thành phần kinh tế: nhà nước và
tập thể, với duy nhất hai hình thức kinh doanh, tổ chức sản xuất là doanh nghiệp nhà
nước và hợp tác xã kiểu cũ. Hiện nay nền kinh tế nước ta đã bao gồm 5 thành phần:
kinh tế nhà nước, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tập thể, kinh thế có vơ đầu tư nước
ngồi, kinh tế tư nhân, thậm chí với nhiều loại hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh
vô cùng đa dạng, phong phú cả về quy mơ và trình độ sản xuất. Riêng mỗi loại hình tổ
chức sản xuất, kinh doanh và mỗi thành phần kinh tế thích với những đối tượng, điều
kiện và hoàn cảnh cụ thể, cùng phát triển và đều góp phần phát triển nền kinh tế cũng
như đẩy mạnh sản xuất, phát huy mọi nguồn lực trong nước và cả nước ngoài, làm
sống động nền kinh tế Việt Nam, tăng tốc độ tăng trưởng, xố đói giảm nghèo.
Liên tục được đổi mới và phát huy vai trò chủ đạo của mình, nền kinh tế nhà
nước là lực lượng vật chất quan trong nhằm giúp nhà nước xác định, định hướng điều
tiết nền kinh tế, đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế nước ta. Có
thể nói trong q trình liên tục đổi mới và phát triển đất nước, thành công lớn nhất ở
việc Đảng đã đề ra chủ trương, tiến hành luật hố và thực hiện triển khai chính sách
phát triển kinh tế tư nhân. Tức theo đó mọi cơng dân đều có quyền kinh doanh, tự đầu
tư trong tất cả lĩnh vực, ngành nghề mà phát luật không cấm; pháp luật bảo hộ các
quyền sở hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh; kinh tế tư nhân được đối xử bình
đẳng, được cơng nhận cả về pháp lý lẫn điều kiện sản xuất và kinh doanh. Kinh tế tư
nhân đã đóng góp 38,86% GDP (Năm 2005), trong đó kinh tế doanh nghiệp tư nhân
đóng góp 8,91% GDP, kinh tế cá thể góp 29.95%. Vượt qua và cao hơn so với tất cả
các thành phần kinh tế khác và bình quân chung của cả nước, tốc độ gia tăng GDP của
thành phần kinh tế nói trên ln cao nhất.
Khơng chỉ riêng kinh tế tư nhân mà các thành phần kinh tế khác cũng đều được
coi trọng, được bảo hộ và khuyến khích phát triển, đối xử bình đẳng theo quy định của
pháp luật. Nhiều loại hình tổ chức sản xuất và kinh doanh đã, đang và sẽ tiếp tục được
tạo điều kiện để hình thành, đi vào các hoạt động phù hợp với từng loại đối tượng, điều
kiện và hoàn cảnh cụ thể. Bản chất kinh tế giữa các thành phần kinh tế là khác nhau, vì
thế nên có những quy luật kinh tế cụ thể riêng biệt nhằm cùng tác động lên cơ sở hạ
tầng ở nước ta. Nhà nước cần phải làm tốt chức năng quản lý của nhà nước về kinh tế,
không ngừng cải thiện phát triển môi trường kinh doanh, liên tục tạo điều kiện tối đa
cho các thành phần kinh tế, các tổ chức sản xuất kinh doanh nhằm giúp chúng hợp tác,
cạnh tranh cùng phát triển.
“Đổi mới chính trị” là đổi mới tư duy chính trị về CNXH và con đường đi lên
CNXH; đổi mới cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị, trước hết là
đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà
nước XHCN nhằm giữ vững ổn định chính trị để xây dựng chế độ XHCN ngày càng
vững mạnh; thực hiện tốt nền dân chủ XHCN nhằm phát huy đầy đủ quyền làm chủ
của nhân dân do Đảng lãnh đạo. Ngay từ Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (3/1989),
Đảng ta đã khẳng định “Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính
trị khơng phải là hạ thấp hoặc thay đổi bản chất của nó, mà là nhằm tăng cường vai trò
lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân
dân, có nghĩa là tăng cường sức mạnh và hiệu lực của chun chính vơ sản; là làm cho
các tổ chức trong hệ thống chính trị hoạt động năng động hơn, có hiệu quả hơn”; đồng
thời nhấn mạnh “Trong quá trình mở rộng dân chủ phải ngăn ngừa đấu tranh khắc
phục khuynh hướng dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan, dân chủ tư sản, phải tỉnh
táo, đấu tranh chống lại những lực lượng lợi dụng việc mở rộng dân chủ để chống chế
độ ta. Phải lắng nghe ý kiến rộng rãi của nhân dân, nhưng không “theo đuôi” quần
chúng”. Đây là những nguyên tắc chỉ đạo rất quan trọng, làm tiền đề để Đảng nhận
thức và giải quyết tốt quan hệ giữa việc đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong suốt
q trình khơng ngừng đổi mới và phát triển đất nước. Tất cả những quyết định trên
đều là sự vận dụng của Đảng về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến
trúc thượng tầng.
2.3. Những hạn chế cần khắc phục
Song các hiện tượng tiêu cực vẫn còn phát triển trong xã hội do các vấn đề kỷ
cương, pháp luật được áp dụng chưa nghiêm dẫn đến tình trạng một số cán bộ nhân
viên chức lộng quyền, tham nhũng hay làm ăn, kinh doanh phi pháp gây ảnh hưởng,
một mặt gây thất thoát tài sản của nhà nước, tác động xấu đến tâm lý, sự tin cậy của
nhân dân. Nguyên nhân then chốt của những vấn đề nói trên là do mối quan hệ giữa cơ
sở hạ tầng và kiến trúc thượng dẫn đến (mặt khác còn do các nguyên nhân giữa quan
hệ sản xuất và lực lượng sản xuất).
Muốn giải quyết mối quan hệ then chốt giữa cơ sở hạ tầng và kiến trước thượng
tầng, Đảng và nhà nước ta phải không ngừng phân tích, tìm hiểu từng mặt cụ thể, tìm
ra được bản chất và nhận thức được chúng, sự phát triển của các sự vật hiện tượng
thơng qua các tình hình thực tiễn của đất nước. Từ đó đề ra những biện pháp cụ thể
riêng biệt nhằm giải quyết các mối quan hệ đó. Việc xây dựng và phát triển đất nước
bắt buộc phải đi cụ thể từ đầu, tự gốc đến cả ngọn, từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc
thượng tầng. Nắm rõ, nhận thức sâu sắc được mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến
trúc thượng tầng, giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là những yếu tố tất yếu để
giải quyết những mặt hạn chế còn tồn tại khi vận dụng chúng trong con đường phát
triển đất nước, thực hiện đường lối của Đảng ta.
3. Kết luận
Đổi mới kinh tế phải gắn liền với đổi mới chính trị: Kinh tế và chính trị là hai
mặt cốt lõi của mối quan hệ của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Trong mối
quan hệ này, kinh tế giữ vai trò quyết định chính trị.
Đổi mới chính trị tạo điều kiện để đổi mới kinh tế: Khi đường lối về chính trị, các
thiết chế chính trị được đổi mới phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thì chính trị trở
thành định hướng cho kinh tế phát triển. Điều này cũng tạo môi trường phát triển về an
ninh trật tự để phát triển kinh tế và chính trị đóng vai trị can thiệp điều tiết, khắc phục
các mặt trái do đổi mới kinh tế.
Tóm lại, nắm vững phép biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng,
giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, Đảng đã sang suốt khi đề ra bước đầu thực
hiện đường lối đổi mới toàn diện bằng cách kết hợp chặt chẽ đổi mới cơ sở hạ tầng và
kiến trúc thượng tầng. Em tin rằng với nhận thức đúng đắn, sang tạo của mình cùng
với sự đồng long nhất trí, ra sức phấn đấu của tồn Đảng, tồn dân, tồn qn, cơng
cuộc đổi mới Đảng lãnh đạo sẽ đưa nước ta lên ngang tầm với các nước đang phát
triển trong khu vực và thế giới.
Trong quá trình thực hiện bài tiểu luận , do cịn nhiều khó khăn trong việc tiếp
cận với nguồn tài liệu tham khảo, thời gian nghiên cứu đề tài khá ngắn cùng với kiến
thức, hiểu biết của bản thân cịn hạn chế nên khơng tránh khỏi những sai sót, em hy
vọng nhận được những nhận xét, góp ý để bài tiểu luận ngày một hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Triết học Mác – Lênin, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia Sự thật, Hà Nội, năm 2006;
2. Học viện chính trị Khu vực I, Triết học Mác – Lênin, Những vấn đề lý luận cơ bản,
Nhà xuất bản Văn hố – Thơng tin, Hà nội 2014;
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016;
4. dam.aspx?
CateID=272&ItemID=11234, ngày truy cập: 13/01/2022;
5. />
giua-doi-moi-kinh-te-va-doi-moi-chinh-tri-40662.html, ngày truy cập: 13/01/2022;
6. />
voi-doi-moi-kinh-te-post915361.vov, ngày truy cập: 13/01/2022.