BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KHÁCH SẠN – DU LỊCH
BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG VIỆT NAM
ĐỀ TÀI: TỔNG KẾT THÀNH TỰU KINH TẾ SAU 30 NĂM ĐỔI
MỚI ĐẤT NƯỚC DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM
HÀ NỘI 2021
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..............................................................................................................1
I. GIỚI THIỆU CHUNG.............................................................................................2
1.1. Đảng Cộng sản Việt Nam...............................................................................................................2
1.1.1. Quá trình cách mạng của Đảng.....................................................................2
1.1.2. Bản chất, mục đích và nền tảng tư tưởng của Đảng......................................2
1.1.3. Nguyên tắc tổ chức và phương thức hoạt động của Đảng.............................3
1.2. Khái quát tình hình nền kinh tế Việt Nam giai đoạn trước thời kì đổi mới
(1976 - 1985)..................................................................................................................................................3
II.
THÀNH TỰU VỀ KINH TẾ SAU 30 NĂM ĐỔI MỚI...................................4
2.1. Lãnh đạo đổi mới toàn diện, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng KT-XH
(1986-1996).....................................................................................................................................................4
2.1.1. Giai đoạn 1986-1991....................................................................................4
2.1.2. Giai đoạn 1991-1996....................................................................................5
2.2 Tiếp tục công cuộc đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế
(1996-2016).....................................................................................................................................................7
2.2.1 Giai đoạn 1996 – 2001..................................................................................7
2.2.2 Giai đoạn 2001 – 2006..................................................................................8
2.2.3 Giai đoạn 2006 – 2011................................................................................10
2.2.4 Giai đoạn 2011 – 2016................................................................................12
2.3 Đánh giá chung................................................................................................................................13
III.
HẠN CHẾ VÀ BÀI HỌC................................................................................15
3.1 Hạn chế:..............................................................................................................................................15
3.2 Bài học:................................................................................................................................................15
LỜI KẾT....................................................................................................................17
LỜI MỞ ĐẦU
Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo từ năm
1986 đến nay đã trải qua hơn 30 năm. Đó là một cơng trình vĩ đại của Đảng và nhân
dân ta trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Công cuộc đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta từng bước thu được những
thành tựu ngày càng to lớn. Qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã vượt qua khủng hoảng
kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Kinh tế
tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình
thành, phát triển. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường;
Văn hố - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có
nhiều thay đổi. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại
đoàn kết tồn dân tộc được củng cố và tăng cường. Cơng tác xây dựng Đảng, xây dựng
Nhà nước pháp quyền và cả hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt
của đất nước được nâng lên; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế
độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào
chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.
Chính vì vậy, 30 năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp
phát triển của đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được những
thành tựu to lớn trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa - đánh
dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Để làm rõ hơn
những thành tựu to lớn về kinh tế, chúng em đã chọn đề tài: “Tổng kết thành tựu kinh
tế sau 30 năm đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”.
Qua đề tài này để thấy được việc đổi mới mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng, là q
trình cải biến sâu sắc, triệt để, là sự nghiệp cách mạng to lớn của tồn Đảng, tồn dân
vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đồng thời nhìn
nhận lĩnh vực kinh tế cũng cịn nhiều vấn đề lớn, phức tạp, nhiều hạn chế, yếu kém cần
phải tập trung giải quyết, khắc phục để đưa đất nước tiếp tục phát triển nhanh và bền
vững.
1
I. GIỚI THIỆU CHUNG
1.1. Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền và là chính đảng duy nhất được
phép hoạt động tại Việt Nam theo Hiến pháp. Đảng là đại diện của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Mác - Lenin và Tư tưởng
Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động.
1.1.1. Quá trình cách mạng của Đảng
Từ ngày thành lập (3/2/1930) đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ
Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc đấu
tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua mn vàn khó khăn, thử thách và giành
được những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cánh mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan
ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay
là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam
Á, đưa dân tộc Việt Nam tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc
kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, năm
1954, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, hoàn thành sự nghiệp giải
phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế;
thắng lợi của công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, đưa đất nước tiếp tục quá độ lên
chủ nghĩa xã hội.
Những thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã giành được trong hơn 91 năm qua
đều gắn liền với quá trình xây dựng, trưởng thành và phát triển của Đảng. Dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong
kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tư do, phát triển theo con đường xã hội chủ
nghĩa; đất nước đã thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đang đẩy mạnh sự nghiệp cơng
nghiệp hố, hiện đại hố đất nước; có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng
quan trọng trong khu vực và trên thế giới.
1.1.2. Bản chất, mục đích và nền tảng tư tưởng của Đảng
Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng đã xác định như sau:
- Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp cơng nhân, đại biểu
trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam.
- Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam hồ bình, độc lập, dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và
cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản.
2
- Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
tưởng, kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu
tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực
tiễn của đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù
hợp với nguyện vọng của nhân dân.
1.1.3. Nguyên tắc tổ chức và phương thức hoạt động của Đảng
- Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành
động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Đảng hoạt động trong
khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
- Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng Cương lĩnh, chiến
lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền,
giáo dục, thuyết phục; bằng công tác tổ chức và kiểm tra; bằng tổ chức của đảng trong
các tổ chức của hệ thống chính trị và sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên.
- Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ của hệ
thống chính trị; Đảng tôn trọng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; chịu sự kiểm
tra, giám sát của nhân dân và dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng..
1.2. Khái quát tình hình nền kinh tế Việt Nam giai đoạn trước thời kì đổi mới
(1976 - 1985)
Sau ngày giải phóng đất nước, nhân dân Việt Nam đứng trước một cơ hội để phát
triển kinh tế. Tuy nhiên, do xuất phát điểm của nền kinh tế thấp kém lại bị chiến tranh
tàn phá nặng nề, cùng với những vấp váp, sai lầm trong các chính sách kinh tế nên
kinh tế Việt Nam đã hồn tồn rơi vào khủng hoảng và vịng xốy của lạm phát, biểu
hiện:
1.2.1. Kinh tế tăng trưởng thấp và thực chất khơng có phát triển
Nếu tính chung từ năm 1976 đến năm 1985 tổng sản phẩm xã hội tăng 50%, tức
là bình quân mỗi năm trong giai đoạn 1976 - 1985 chỉ tăng 4,6%. Sản xuất kinh doanh
kém hiệu quả nên chi phí vật chất cao và khơng ngừng tăng lên. Năm 1980 chi phí vật
chất chiếm 44,1%, thu nhập quốc dân 5 năm tăng 38,8%.
1.2.2. Làm không đủ ăn và dựa vào nguồn bên ngoài ngày càng lớn
Năm 1985, dân số cả nước gần 59,9 triệu người, tăng 25,7% so với năm 1975,
trung bình mỗi năm tăng 2,3%. Để đảm bảo đầy đủ việc làm và thu nhập của dân cư
thì ít nhất nền kinh tế phải tăng 7% mỗi năm.
Thu nhập quốc dân sản xuất trong nước chỉ bằng 80 - 90% thu nhập quốc dân sử
dụng. Tích lũy tuy nhỏ bé, nhưng tồn bộ tích lũy và một phần quỹ tiêu dùng phải dựa
3
vào nguồn nước ngoài. Trong những năm 1976 - 1986, thu vay nợ và viện trợ nước
ngoài bằng 38,2% tổng ngân sách và bằng 62,9% tổng số thu trong nước.
Nếu so với tổng số chi ngân sách thì bằng 37,3%. Ba chỉ tiêu tương ứng của thời
kỳ 1981 - 1985 lần lượt là 22,4%; 28,9%; 18,6%, Tính đến năm 1985 nợ nước ngoài
đã lên tới 8,5 tỷ rúp và 1,9 tỷ USD. Tuy nguồn từ nước ngoài là lớn như vậy nhưng
ngân sách vẫn trong tình trạng thâm hụt và phải bù đắp.
Trị giá xuất khẩu hàng năm có tăng lên nhưng vẫn còn thấp so với giá trị xuất
khẩu. Tỷ lệ xuất khẩu thường bằng 20 - 40% nhập khẩu. Hầu hết các loại hàng hóa
thiết yếu phục vụ cho sản xuất và đời sống đều phải phải nhập khẩu toàn bộ hay một
phần do sản xuất trong nước không đảm bảo được tiêu dùng những năm 1976 - 1980,
phải nhập 60 triệu mét vải các loại và 1,5 triệu tấn lượng thực quý, gạo. Sau 10 năm
thống nhất, việc xây dựng và phát triển kinh tế cơ bản trong bối cảnh hịa bình mà cái
gì cũng thiếu nên cái gì cũng q.
1.2.3. Siêu lạm phát hồnh hành và giá cả đuổi bắt cấp số nhân
Năm 1985, cuộc cải cách giá - lương - tiền đã thất bại làm cho cơn sốt lạm phát
vụt lớn nhanh, hoành hành trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Giá cả leo
thang từng ngày đã vơ hiệu hóa tác dụng đổi tiền chỉ mới tiền hành vài tháng trước đó,
làm rối loạn điều hành kinh tế vĩ mơ. Giá cả không chỉ tăng ở kinh tế thị trường mà
còn tăng rất nhanh trong thị trường tổ chức. Siêu lạm phát đạt đỉnh cao vào năm 1986.
II. THÀNH TỰU VỀ KINH TẾ SAU 30 NĂM ĐỔI MỚI
II.1. Lãnh đạo đổi mới toàn diện, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng KT-XH
(1986-1996)
II.1.1. Giai đoạn 1986-1991
Công cuộc đổi mới là sự nghiệp vĩ đại, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Nhà
nước, sau Đại hội VI của Đảng diễn ra tại Hà Nội, từ ngày 15 đến ngày 18/12/1986
trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật đang phát triển mạnh, xu thế đối
thoại trên thế giới đang dần thay thế xu thế đối đầu. Đổi mới đã trở thành xu thế của
thời đại.
Chủ trương, chính sách đổi mới lãnh đạo của Đảng
Trong lĩnh vực kinh tế, Đại hội cũng đã đánh giá thành tựu, nghiêm túc kiểm
điểm và chỉ rõ những khuyết điểm trong thời kỳ 1975-1986. Nguyên nhân chủ yếu do
bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động đơn giản, nóng vội, chạy theo
nguyện vọng chủ quan. Nhận thấy những sai lầm trong các chiến lược kinh tế đó,
thơng qua Đại hội VI, Đảng ta đã xây dựng những chủ trương, chính sách mới nhằm
ổn định tình hình, đưa đất nước tiến lên:
- Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nhiều thành phần kinh tế. Đổi mới cơ
chế quản lý, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, chuyển sang hạch toán, kinh doanh, kết
hợp kế hoạch với thị trường. Nhiệm vụ bao trùm trong những năm còn lại của chặng
4
đường đầu tiên là: Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy; bước đầu tạo ra một cơ cấu
kinh tế hợp lý, trong đó đặc biệt chú trọng ba chương trình kinh tế lớn là lương thực –
thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.
- Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, giải quyết cho được những vấn đề cấp bách về
phân phối, lưu thông. Năm phương hướng lớn phát triển kinh tế là: Bố trí lại cơ cấu
sản xuất; điều chỉnh cơ cấu đầu tư xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa; sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế; đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế, phát huy mạnh mẽ động lực khoa học kỹ thuật; mở rộng và nâng cao hiệu quả
kinh tế đối ngoại.
Những năm 1987-1988, khủng hoảng kinh tế - xã hội vẫn diễn ra nghiêm trọng,
lạm phát ở mức cao, thiên tai, mất mùa thường xun. Trước tình hình đó, Hội nghị
Trung ương 2 (04/1987) đề ra chủ trương thực hiện bốn giảm: Giảm bội chi ngân sách,
giảm nhịp độ tăng giá, giảm lạm phát, giảm khó khăn về đời sống nhân dân; mở rộng
giao lưu hàng hóa; thực hiện cơ chế mọt giá và chế độ lương thống nhất cả nước; giảm
tỷ lệ bội chi ngân sách và bội chi tiền mặt, tiết kiệm chi tiêu, chống tiêu cực, chuyển
hoạt động của các đơn vị kinh tế quốc doanh sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ
nghĩa; đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế.
Thành tựu kinh tế
Các chủ trương trên thể hiện tư duy đổi mới quan trọng về kinh tế của Đảng và
đã có kết quả nhanh chóng. Lương thực từ chỗ thiếu triền miên, năm 1988 phải nhập
hơn 45 vạn tấn gạo, đến năm 1989 đã đáp ứng được nhu cầu, có dự trữ và xuất khẩu.
Cuối năm 1988, chế độ phân phổi theo tem phiếu đã được xóa bỏ. Kết thúc kế hoạch 6
năm (1986-1991), GDP tăng 4,4%/năm; tổng giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình
qn 3,8-4%/năm; cơng nghiệp tăng bình qn 7,4%/năm, trong đó sản xuất hàng tiêu
dùng tăng 13-14%/năm, giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng 28%/năm. Đến năm 1991
lạm phát từ 774,7% năm 1986 giảm còn 67,1%. Hàng tiêu dùng đa dạng, lưu thông
tương đối thuận lợi. Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước bước đầu hình thành. Kinh tế đối ngoại phát triển
nhanh hơn trước.
Việc thực hiện tốt ba chương trình mục tiêu phát triển về lương thực - thực phẩm,
hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu đã phục hồi được sản xuất, tăng trưởng kinh tế, kiềm
chế lạm phát... Đây được xem là thành công bước đầu cụ thể hóa nội dung của cơng
nghiệp hóa XHCN trong chặng đường đổi mới. Đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ
chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước quá trình đổi mới đời
sống kinh tế - xã hội. Đại hội VI của Đảng đã tìm ra lối thốt cho cuộc khủng hoảng
kinh tế - xã hội, thể hiện quan điểm đổi mới tồn diện, đặt nền tảng cho việc tìm ra con
đường thích hợp đi lên chủ nghĩa xã hội, đánh dấu sự đổi mới của cách mạng Việt
5
Nam. Những chủ trương, chính sách mới đã gợi mở, khuyến khích các thành phần
kinh tế, giải phóng năng lực sản xuất của xã hội để mở đường cho phát triển sản xuất.
II.1.2. Giai đoạn 1991-1996
Đất nước sau hơn 4 năm đổi mới cơ bản ổn định nhưng chưa ra khỏi khủng
hoảng kinh tế - xã hội, công cuộc đổi mới còn nhiều hạn chế, còn nhiều vấn đề chưa
được giải quyết. Đại hội VII của Đảng họp tại Hà Nội, từ ngày 24 đến ngày
27/06/1991, khẳng định nền kinh tế bước đầu chuyển biến tích cực. Điểm mới nổi bật
của Đại hội VII là thông qua hai văn kiện quan trọng: Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000.
Chủ trương, chính sách đổi mới lãnh đạo của Đảng
Chiến lược đề ra mục tiêu tổng quát đến năm 2000 là ra khỏi khủng hoảng, ổn
định tình hình kinh tế - xã hội, phấn đấu vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát
triển.
Nông nghiệp được coi là mặt trận hàng đầu và có cách nhìn tồn diện. Trung
Ương xác định ba mục tiêu chủ yếu là: Xây dựng nơng thơn mới có kinh tế phát triển,
đời sống văn hóa phong phú, lành mạnh, có cơ sở hạ tầng vật chất và xã hội đáp ứng
được những nhu cầu cơ bản của nông dân. Điểm mới của chủ trương này của Đảng là
đề ra các quan điểm, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp tiếp tục đổi mới, xây dựng
và phát triển nơng nghiệp, nơng thơn tồn diện.
Đối với công nghiệp, Hội nghị Trung ương 7 (7-1994) đề ra chủ trương phát triển
công nghiệp, công nghệ và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới. Mục tiêu
lâu dài của cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa là cải biến nước ta thành một nước cơng
nghiệp có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất
tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của sức sản xuất.
Thành tựu kinh tế
Sau 5 năm 1991-1996, đất nước dần dần ra khỏi tình trạng trì trệ, suy thối, nền
kinh tế đạt được những thành tựu quan trọng: tốc độ tăng trưởng đạt tương đối cao,
liên tục và toàn diện, nhiều mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm đã hoàn thành vượt
mức, GDP đạt 8,2% (kế hoạch là 5,5-6,5%), giá trị sản xuất công nghiệp tăng
13,3%/năm; nông nghiệp tăng 4,5%/năm; lĩnh vực dịch vụ tăng 12%/năm; tổng sản
lượng lương thực 5 năm (1991-1996) đạt 125,4 triệu tấn, tăng 27% so với giai đoạn
1986 - 1991. Hầu hết các lĩnh vực kinh tế đều đạt nhịp độ tăng trưởng tương đối khá.
Đã bắt đầu tích lũy nội bộ kinh tế, lạm phát từ mức 67,1% năm 1991 giảm xuống còn
12.7% năm 1995. Tăng trưởng kinh tế của thời kỳ 1992-1996 cao gấp hơn hai lần giai
đoạn 1977-1991, GDP tăng gấp đôi sau 10 năm đổi mới, lạm phát giảm về dưới 10%
những năm đầu thập niên 90. Năm 1996, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã lần đầu
6
vượt mốc 10 tỷ USD. Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được
xây dựng.
Ở giai đoạn này, nước ta đã thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội
nghiêm trọng kéo dài hơn 15 năm, tuy còn một số mặt chưa vững chắc, song đã tạo
được tiền đề cần thiết để chuyển sang một thời kỳ phát triển mới, đẩy mạnh cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đó cũng nhờ sự chỉ đạo đúng đắn của Đảng ta khi
nhận thức rõ kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường là phương thức, điều kiện tất yếu để
xây dựng chủ nghĩa xã hội, đưa ra những quan điểm sáng suốt, từng bước cụ thể hóa
mơ hình và thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.
2.2 Tiếp tục công cuộc đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế
(1996-2016)
2.2.1 Giai đoạn 1996 – 2001
Chủ trương, chính sách đổi mới lãnh đạo của Đảng
Đại hội Đảng lần thứ VIII (6/1996): Nhiệm vụ của nhân dân ta là tập trung mọi
lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một
cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
phấn đấu đạt và vượt mục tiêu đề ra trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã
hội đến năm 2000.
Từ mục tiêu trên, Đại hội đề ra định hướng phát triển các lĩnh vực chủ yếu:
- Phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, quán triệt các quan điểm và nội dung cơ bản của cơng nghiệp hố hiện đại hố.
- Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế bao gồm việc tạo lập đồng bộ các yếu tố
thị trường; hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về kinh tế; đổi mới cơng tác kế hoạch hố;
đổi mới các chính sách tài chính, tiền tệ, giá cả; nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý
kinh tế của Nhà nước.
- Giải quyết một số vấn đề xã hội, trước mắt là tập trung sức tạo việc làm, thực
hiện xố đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, đẩy mạnh
cơng tác dân số, kế hoạch hố gia đình, đẩy lùi tệ nạn xã hội.
- Đảng ta chủ trương mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt song phương
và đa phương với các quốc gia, tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc chỉ đạo là
tơn trọng độc lập, chủ quyền, và tồn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công
việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi, giải quyết các vấn đề tồn tại và tranh
chấp bằng thương lượng hồ bình.
Thành tựu kinh tế
7
Sản lượng lương thực bình quân đầu người từ 370kg (1995) và 435kg (2000),
nhiều loại hàng tiêu dùng, có dự trữ và xuất khẩu ngày càng tăng. Tích lũy nội bộ kinh
tế của nề kinh tế từ mức không đáng kể đã đạt 25% GDP, đầu tư phát triển tăng từ
1,2% (1990) lên 2,8% (2000) trong GDP.
Trong giai đoạn này, kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh gấp 3 tốc độ tăng trưởng
GDP, một số sản phẩm như gạo, cà phê, thủy sản đã giành được thị phần đáng kể trên
thị trường thế giới, đầu tư trực tiếp của nước ngoài đã thực hiện trong 10 năm khoảng
15 tỷ USD, chiếm ¼ tổng đầu tư trong xã hội, thu hút trên 30 vạn lao đọng trực tiếp,
năm 2000 tạo 22% kim ngạch xuât khẩu.
Năm 1999, cả nước có khoảng 113.000 trang trại, khai thác gần 30.000.000 ha
đất trống đồi trọc và hoang hóa. Số vốn các trang trại đầu tư lên đến 20000 tỷ đồng,
giải quyết việc làm hơn 40.000 lao động, kinh tế trang trại hàng năm tạo ra giá trị tổng
sản phẩm gần 12000 tỷ đồng, chiếm 10% sản lượng nông nghiệp. Tốc độ phát triển
chung nông – lâm – ngư nghiệp tăng 4,1% trong đó nơng nghiệp 5,6%; lâm nghiệp
0,4% , ngư nghiệp 8,4%.
Trong giai đoạn 1996 - 2000, thành tựu đạt được trong công nghiệp, xây dựng đã
đạt được nhiều tiến bộ. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình qn hàng năm 13,5%,
trong đó: cơng nghiệp quốc doanh tăng 9,5%; ngoài quốc doanh tăng 11,5%; khu vực
vốn đầu tư nước ngoài tăng 21,8%.
Các ngành dịch vụ tiếp tục phát triển góp phần tích cực cho tăng trưởng kinh tế
và phục vụ đời sống. Thương mại tăng trưởng khá, đảm bảo lưu chuyển cung ứng vật
tư hàng hóa trong cả nước và trên từng vùng.
Giá trị hàng hóa bán ra trên thị trường đến năm 2000 gấp 2,5 lần năm 1995, bình
qn tăng hàng năm 20% (tính theo mặt bằng giá năm 1995).
Sau 5 năm thực hiện kế hoạch (1996-2000), nền kinh tế vẫn giữ được nhịp độ
tăng trưởng khá, tổng sản phẩm trong nước tăng bình qn hàng năm. Nơng nghiệp
phát triển liên tục, góp phần quan trọng vào mức tăng trưởng chung và giữ vững ổn
định kinh tế xã hội
Kinh tế đối ngoại tiếp tục phát triển. Trong 5 năm, xuất khẩu đạt 51,6 tỉ USD,
tăng bình quân hàng năm 21%, nhập khẩu đạt 61 tỉ USD, tăng bình quân hàng năm
13,3%; vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài đưa vào thực hiện đạt 10 tỉ USD, gấp 1,5
lần so với 5 năm trước.
Tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong cơ cấu GDP giảm nhanh, từ 47% năm 1988
còn 18-20% năm 2000. Ngược lại, tỉ trọng công nghiệp tăng lên khoảng từ 23%.
2.2.2 Giai đoạn 2001 – 2006
Chủ trương, chính sách đổi mới lãnh đạo của Đảng
8
Trên cơ sở đổi mới, phát triển tư duy lý luận và thực tiễn của Ðảng ta về CNH,
HÐH đất nước, một hệ thống các quan điểm chỉ đạo về đẩy mạnh CNH, HÐH đã hình
thành:
- Coi trọng việc đẩy nhanh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa nơng nghiệp và nông
thôn với những nội dung chủ yếu như: chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp
và nông thôn hướng tới một nền nơng nghiệp hàng hóa đa dạng, có sức cạnh tranh cao
và tạo giá trị gia tăng ngày càng lớn gắn với công nghiệp chế biến hiện... Ðồng thời,
tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ trong nông nghiệp, nhất là công nghệ sinh
học, công nghệ thông tin, công nghệ sạch…
- Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh
tế quốc tế; nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng, kết hợp tốt nội lực và ngoại
lực trở thành nguồn lực tổng hợp của quốc gia để đẩy mạnh CNH, HÐH đất nước. Ðộc
lập tự chủ về kinh tế tạo cơ sở cho hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả, từ đó tạo ra
những điều kiện cần thiết cho việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ.
Thành tựu kinh tế
Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, năm sau cao hơn năm trước
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 5 năm (2001 - 2005) tăng bình quân
7,5%/năm (đạt kế hoạch đề ra). Năm 2005, GDP theo giá hiện hành ước đạt 838 nghìn
tỉ đồng, bình quân đầu người trên 10,0 triệu đồng (tương đương khoảng 640 USD).
Nông nghiệp tiếp tục phát triển khá; giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
tăng 5,4%/năm (kế hoạch 4,8%), giá trị tăng thêm tăng khoảng 3,8%/năm.
Công nghiệp và xây dựng liên tục tăng trưởng cao, giá trị tăng thêm tăng
10,2%/năm. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 16%/năm (kế hoạch 13,1%), cao hơn
1,9%/năm so với 5 năm trước. Cả nước đã có trên 100 khu công nghiệp, khu chế xuất,
nhiều khu hoạt động có hiệu quả; tỉ lệ cơng nghiệp chế tác, cơ khí chế tạo và nội địa
hố sản phẩm tăng.
Dịch vụ có bước phát triển cả về quy mơ, ngành nghề, thị trường và có tiến bộ về
hiệu quả với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế.Giá trị sản xuất của các ngành
dịch vụ tăng 7,6%/năm (kế hoạch 7,5%); giá trị tăng thêm tăng gần 7%/năm (kế hoạch
6,8%). Riêng năm 2005, giá trị tăng thêm tăng 8,5%, cao hơn mức tăng GDP.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng cơng nghiệp hố, hiện đại hố
Về cơ cấu ngành, tỉ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP tăng từ 36,7%
năm 2000 lên 41% năm 2005 (kế hoạch 38 - 39%); tỉ trọng nông, lâm nghiệp và thủy
sản đã giảm từ 24,5% xuống còn 20,9% (kế hoạch 20 - 21%); tỉ trọng dịch vụ ở mức
38,1% (kế hoạch 41 - 42%).
Cơ cấu kinh tế vùng đã có bước điều chỉnh theo hướng phát huy lợi thế so sánh
của từng vùng; các vùng kinh tế trọng điểm, khu công nghiệp, khu kinh tế và vùng sản
9
xuất chun mơn hố cây trồng, vật ni đang phát triển khá nhanh, đóng góp quan
trọng vào sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Cơ cấu lao động đã có sự chuyển đổi tích cực gắn liền với q trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế. Tỉ trọng lao động của ngành công nghiệp và xây dựng trong tổng số lao
động xã hội tăng từ 12,1% năm 2000 lên 17,9% năm 2005; lao động trong các ngành
dịch vụ tăng từ 19,7% lên 25,3%; lao động trong các ngành nông, lâm nghiệp và thủy
sản giảm từ 68,2% xuống còn 56,8%. Tỉ trọng lao động đã qua đào tạo tăng từ 20%
năm 2000 lên 25% năm 2005.
Vốn đầu tư toàn xã hội tăng khá nhanh
Vốn đầu tư toàn xã hội tăng khá nhanh, vượt mức dự kiến trên 30% so với kế
hoạch (gấp 2 lần so với 5 năm trước). Vốn đầu tư của dân tăng nhanh; tỉ lệ vốn đầu tư
phát triển so với GDP tăng từ 35,4% năm 2001 lên gần 39% năm 2005. Vốn đầu tư
trong nước chiếm 72% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Đầu tư đã tập trung hơn cho những mục tiêu quan trọng. Lĩnh vực kinh tế chiếm
70% tổng vốn đầu tư tồn xã hội (nơng, lâm nghiệp và thủy sản trên 13%, công nghiệp
và xây dựng trên 44%, giao thông, bưu điện trên 12%); lĩnh vực xã hội chiếm gần 27%
(nhà ở, cấp thốt nước, cơng trình cơng cộng khác gần 14%, giáo dục, đào tạo gần 4%,
y tế - xã hội trên 2%, văn hoá, thể thao gần 2%, khoa học và công nghệ trên 1%). Quy
mô vốn đầu tư ở các vùng đều tăng; vùng nghèo, xã nghèo được Nhà nước quan tâm
đầu tư nhiều hơn.
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng bước
đầu, kinh tế vĩ mơ cơ bản ổn định
Tiềm lực tài chính nhà nước ngày càng được tăng cường; thu ngân sách tăng trên
18%/năm, tỉ lệ GDP huy động vào ngân sách bình quân hàng năm đạt 23,8%, vượt kế
hoạch. Tổng chi ngân sách nhà nước tăng trên 18%/năm; chi đầu tư phát triển chiếm
bình quân khoảng 30% tổng chi ngân sách; bội chi ngân sách hàng năm gần 4,9%
GDP.
Chính sách tiền tệ được điều hành linh hoạt hơn, giá trị đồng tiền cơ bản ổn định;
cán cân thanh toán quốc tế giữ được cân bằng, dự trữ ngoại tệ tăng dần, giảm được tỉ lệ
nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng; nợ Chính phủ và nợ quốc gia vẫn trong giới hạn an
toàn.
Hội nhập kinh tế quốc tế và kinh tế đối ngoại có bước tiến mới rất quan trọng
Xuất khẩu, nhập khẩu tăng nhanh. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá 5 năm
đạt trên 110,6 tỉ USD, tăng 17,5%/năm, vượt mục tiêu đề ra (kế hoạch 16%/năm); năm
2005, xuất khẩu bình quân đầu người đạt 390 USD, gấp đôi năm 2000. Xuất khẩu dịch
vụ 5 năm đạt trên 21 tỉ USD, tăng 15,7%/năm, bằng 19% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Thị trường xuất khẩu được mở rộng sang một số nước và khu vực, nhất là Hoa Kỳ.
10
Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá 5 năm khoảng 130 tỉ USD, tăng khoảng
19%/năm.
Vốn đầu tư từ nước ngoài tăng khá, cả vốn ODA và vốn FDI.
2.2.3 Giai đoạn 2006 – 2011
Chủ trương, chính sách đổi mới lãnh đạo của Đảng
Rút ngắn q trình cơng nghiệp hố, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan
trọng của nền kinh tế và cơng nghiệp hố, hiện đại hố.
Đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hố nơng nghiệp và nơng thơn, giải quyết
đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân
Tăng cường các hoạt động khuyến nông, khuyến công, khuyến lâm, khuyến
ngư,...
Khẩn trương xây dựng các quy hoạch phát triển nơng thơn. Thực hiện chương
trình xây dựng nơng thơn mới. Xây dựng các làng, xã, ấp, bản có cuộc sống no đủ, văn
minh, môi trường lành mạnh. Chú trọng dạy nghề, giải quyết việc làm cho nông dân,
trước hết ở các vùng sử dụng đất nông nghiệp để xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch
vụ, giao thông, các khu đơ thị mới.
Khuyến khích phát triển cơng nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế tác, công
nghiệp phần mềm và cơng nghiệp bổ trợ có lợi thế cạnh tranh, tạo nhiều sản phẩm xuất
khẩu và thu hút nhiều lao động; phát triển một số khu kinh tế mở và đặc khu kinh tế,
nâng cao hiệu quả của các khu công nghiệp, khu chế xuất.
Thành tựu kinh tế
Nền kinh tế vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, kinh tế vĩ mơ cơ bản ổn định,
duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên, nước ta
đã ra khỏi tình trạng kém phát triển.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 7%. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội
gấp 2,5 lần so với giai đoạn 2001 - 2005, đạt 42,9% GDP. Mặc dù khủng hoảng tài
chính và suy thối kinh tế toàn cầu, nhưng thu hút vốn đầu tư nước ngồi vào nước ta
đạt cao. Quy mơ tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 tính theo giá thực tế đạt
101,6 tỉ USD, gấp 3,26 lần so với năm 2000; GDP bình quân đầu người đạt 1.168
USD. Hầu hết các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều có bước phát triển khá. Sự phát
triển ổn định trong ngành nông nghiệp, nhất là sản xuất lương thực đã bảo đảm an ninh
lương thực quốc gia. Kinh tế nông thôn và đời sống nông dân được cải thiện hơn
trước. Việc tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nơng thơn, đầu tư, phát triển
giống mới có năng suất, chất lượng cao, phát triển các cụm công nghiệp, làng nghề,
tiểu thủ cơng nghiệp... đã có tác động tích cực đến việc sản xuất, tạo việc làm và xố
đói, giảm nghèo.
11
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây dựng
và hồn thiện; mơi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện; các yếu tố thị trường và
các loại thị trường tiếp tục hình thành, phát triển; nền kinh tế nhiều thành phần có
bước phát triển mạnh. Việc kiện tồn các tổng cơng ty, thí điểm thành lập các tập đồn
kinh tế nhà nước đạt một số kết quả. Giai đoạn 2006 - 2010, doanh nghiệp nước ta
tăng hơn 2,3 lần về số doanh nghiệp và 7,3 lần về số vốn so với 5 năm trước. Doanh
nghiệp cổ phần trở thành hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh phổ biến.
Kết quả đạt được trong 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X đã góp phần quan
trọng vào việc thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 và
20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội. Mười năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 là giai
đoạn đất nước ta thực sự đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hoá, phát triển nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đã đạt được những
thành tựu to lớn và rất quan trọng. Kinh tế tăng trưởng nhanh, đạt tốc độ bình quân
7,26%/năm. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 so với năm 2000 theo giá
thực tế gấp 3,26 lần; thu ngân sách, kim ngạch xuất khẩu gấp 5 lần.
2.2.4 Giai đoạn 2011 – 2016
Chủ trương, chính sách đổi mới lãnh đạo của Đảng
Cơ cấu lại, xây dựng nền công nghiệp theo hướng phát triển mạnh những ngành
có tính nền tảng, có lợi thế so sánh và có ý nghĩa chiến. Ưu tiên phát triển và hồn
thành những cơng trình then chốt về cơ khí chế tạo, sản xuất máy móc, thiết bị thay thế
nhập khẩu cho công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng…
Phát triển công nghiệp và xây dựng theo hướng hiện đại, ưu tiên phát triển công
nghiệp phục vụ nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt là công nghiệp sản xuất trang thiết
bị, máy móc làm đất, thu hoạch, bảo quản, chế biến sản phẩm nông - lâm - thuỷ sản,
sản phẩm xuất khẩu; sản xuất phân bón, thức ăn cho chăn nuôi và thuốc bảo vệ động,
thực vật...
Phấn đấu giá trị gia tăng cơng nghiệp - xây dựng bình quân 5 năm tăng 7,8 8%/năm.
Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp tồn diện theo hướng cơng nghiệp hố, hiện
đại hố gắn với giải quyết tốt vấn đề nơng dân, nông thôn:
Phấn đấu giá trị gia tăng nông nghiệp bình quân 5 năm đạt 2,6 - 3%/năm. Tỉ
trọng lao động nông nghiệp năm 2015 chiếm 40 - 41% lao động xã hội. Thu nhập của
người dân nông thôn tăng 1,8 - 2 lần so với năm 2010.
Thành tựu kinh tế
Lạm phát được kiểm sốt, kinh tế vĩ mơ cơ bản ổn định. Tốc độ tăng giá tiêu
dùng giảm mạnh, từ 18,13% năm 2011 xuống còn 0,6% vào năm 2015. Mặt bằng lãi
12
suất giảm, năm 2015 chỉ bằng 40% so với năm 2011. Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng
khá cao, đạt bình quân 17,5%/năm; tỉ trọng sản phẩm chế biến trong cơ cấu hàng xuất
khẩu tăng mạnh. Cán cân thương mại được cải thiện.
Tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức hợp lý, từ năm 2013 dần phục hồi, năm
sau cao hơn năm trước; chất lượng tăng trưởng được nâng lên. Tốc độ tăng Tổng sản
phẩm trong nước (GDP) bình quân 5 năm đạt trên 5,9%/năm. Quy mô và tiềm lực của
nền kinh tế tiếp tục tăng lên; GDP năm 2015 đạt 193,4 tỉ USD, bình quân đầu người
khoảng 2.109 USD.
Sản xuất công nghiệp từng bước phục hồi; giá trị gia tăng ngành cơng nghiệp,
xây dựng tăng bình qn 6,9%/năm; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong cơ
cấu công nghiệp tăng. Khu vực nông nghiệp cơ bản phát triển ổn định, giá trị gia tăng
tăng bình quân 3,0%/năm; độ che phủ rừng đạt khoảng 40,7% vào năm 2015.Giá trị
gia tăng khu vực dịch vụ tăng khá, bình quân 6,3%/năm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và
doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng bình quân 14,1%/năm (loại trừ yếu tố giá tăng
khoảng 5,6%). Tổng doanh thu từ khách du lịch tăng bình quân 21%/năm; khách quốc
tế đạt 7,9 triệu lượt vào năm 2015.
Từ một nước nơng nghiệp thuộc nhóm nghèo nhất thế giới, với mức GDP bình
quân đầu người chỉ 98 USD, Việt Nam đã gia nhập nhóm các quốc gia có thu nhập
trung bình thấp năm 2011. GDP bình quân đầu người năm 2013 đạt mức 1.910 USD
(Dữ liệu WDI), bằng gần 7 lần năm 2000 và 9,5 lần năm 1986.
Điểm nổi bật trong thành tựu tăng trưởng của Việt Nam không chỉ nằm ở tốc độ
tăng trưởng cao, mà cả ở tính bao trùm (inclusive). Tỷ lệ nghèo từ mức trên 85% dân
số (theo chuẩn nghèo 2 USD/người, ngày) của năm 1993 giảm xuống còn khoảng 13%
năm 2013; tình trạng nghèo cùng cực (theo chuẩn 1,25 US$/ngày) gần như biến mất,
trong khi bất bình đẳng tăng khơng đáng kể và vẫn nằm trong mức trung bình của thế
giới.
2.3 Đánh giá chung
30 năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng có ý nghĩa trọng đại trong sự
nghiệp phát triển của nước ta, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà
nước và nhân dân ta, là q trình cải biến sâu sắc, tồn diện, triệt để, là sự nghiệp cách
mạng to lớn của toàn Đảng, tồn dân vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh". Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong cơng cuộc
cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với
90% dân số làm nông nghiệp, Việt Nam đã xây dựng được cơ sở vật chất - kỹ thuật, hạ
tầng kinh tế - xã hội từng bước đáp ứng cho sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa,
tạo ra mơi trường thu hút nguồn lực xã hội cho phát triển..
13
Biểu đồ thể hiện tăng trưởng kinh tế dài hạn của Việt Nam (1984-2013)
Qua 30 năm đổi mới, đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng
kém phát triển, trở thành nước phát triển có thu nhập trung bình, kinh tế tăng trưởng
khá, trong đó, giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990), mức tăng trưởng GDP bình qn
hằng năm chỉ đạt 4,4%. Sau đó, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua gần 20 năm với mức
tăng trưởng rất ấn tượng: giai đoạn 1991-1995, GDP bình qn tăng 8,2%/năm, gấp
đơi so với 5 năm trước đó; giai đoạn 5 năm tiếp theo 1996-2000, mặc dù cùng chịu tác
động của khủng hoảng tài chính khu vực (1997-1999), GDP vẫn duy trì bình quân tăng
7,6%/năm; giai đoạn 2001-2005, GDP tăng bình quân 7,34%; giai đoạn 2006-2010, do
suy giảm kinh tế thế giới, Việt Nam vẫn đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân
6,32%/năm. Trong các năm tiếp theo, do chịu tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính
tồn cầu 2008 và khủng hoảng nợ công 2010, tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 20112015 của Việt Nam tuy đã chậm lại nhưng vẫn đạt 5,9%/năm, là mức cao của khu vực
và thế giới.
14
Ba mươi năm đổi mới là một chặng đường hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trên
nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, theo nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn
cầu. Việt Nam đã thiết lập được nhiều quan hệ đối tác chiến lược về kinh tế. Cho đến
nay đã có 59 quốc gia cơng nhận nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường, trong
đó có các đối tác thương mại lớn của Việt Nam. Việt Nam đã ký kết mười Hiệp định
thương mại tự do khu vực và song phương. Việc tham gia ký kết và đàm phán tham gia
các FTA (Hiệp định thương mại tự do) có tác động tích cực tới phát triển kinh tế, nâng
cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm, nhất là đến nay Việt
Nam đã tham gia vào ba chuỗi giá trị có vai trị ngày càng quan trọng đối với nền kinh
tế tồn cầu đó là: Chuỗi giá trị lương thực và an ninh lương thực; chuỗi giá trị năng
lượng và an ninh năng lượng (dầu mỏ, khí, than) và chuỗi giá trị hàng dệt may và da
giày.
Nguyên nhân của những thành tựu đạt được nêu trên là nhờ có nhận thức đúng
đắn, đổi mới tư duy lý luận của Đảng về tính tất yếu của phát triển kinh tế thị trường;
quyết định chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định
hướng XHCN; xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, kiên trì lãnh đạo, chỉ
đạo thực hiện các quyết sách về kinh tế, được nhân dân đồng tình ủng hộ và tích cực
tham gia. Sự quản lý, điều hành của Nhà nước đối với kinh tế thị trường sát thực và
hiệu quả hơn. Mở rộng, phát huy dân chủ trong lĩnh vực kinh tế, thực hiện ngày càng
tốt vai trò làm chủ về kinh tế của nhân dân. Vai trò lãnh đạo cũng như nội dung và
phương thức lãnh đạo của Đảng đối với phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ngày càng rõ nét, theo đó đã xác định tiếp tục đổi mới tư duy kinh tế, nâng cao
năng lực lãnh đạo kinh tế của các tổ chức đảng, tăng cường lãnh đạo và kiểm tra về
phát triển kinh tế.
III. HẠN CHẾ VÀ BÀI HỌC
3.1 Hạn chế:
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác xây dựng 30 năm đổi mới (19862016) vẫn còn nhiều hạn chế, khuyết điểm. Cụ thể là:
- Kinh tế phát triển chưa bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng, yêu cầu và
thực tế nguồn lực được huy động. Trong 10 năm gần đây, kinh tế vĩ mô thiếu ổn định,
tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm, phục hồi chậm. Chất lượng, hiệu quả, năng suất
lao động xã hội và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. Phát triển thiếu bền
vững cả về kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường. Nhiều vấn đề bức xúc nảy sinh,
nhất là các vấn đề xã hội và quản lý xã hội chưa được nhận thức đầy đủ và giải quyết
có hiệu quả; cịn tiềm ẩn những nhân tố và nguy cơ mất ổn định xã hội. Trên một số
mặt, một số lĩnh vực, một bộ phận nhân dân chưa được thụ hưởng đầy đủ, công bằng
15
thành quả của cơng cuộc đổi mới. Đổi mới chính trị chưa đồng bộ với đổi mới kinh tế;
năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị chưa ngang tầm nhiệm vụ.
- Nhiều chỉ tiêu, tiêu chí trong mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản
trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại không đạt.
3.2 Bài học:
Những hạn chế, khuyết điểm trên đây địi hỏi tồn Đảng, tồn dân, tồn qn ta
phải nỗ lực phấn đấu không ngừng để khắc phục, tiếp tục đưa đất nước phát triển
nhanh, bền vững theo con đường xã hội chủ nghĩa, vì vậy nêu ra 5 bài học:
Một là, trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng vận dụng sáng tạo và
phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền
thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù
hợp với Việt Nam.
Hai là, đổi mới phải luôn ln qn triệt quan điểm "dân là gốc", vì lợi ích của
nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm và mọi nguồn lực của nhân
dân; phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc.
Ba là, đổi mới phải tồn diện, đồng bộ, có bước đi phù hợp; tôn trọng quy luật
khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn.
Bốn là, phải đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết; kiên định độc lập, tự chủ,
đồng thời chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi; kết
hợp phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để xây dựng và bảo vệ vững
chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Năm là, phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo
và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến
lược, đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt
động của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và của cả hệ
thống chính trị; tăng cường mối quan hệ mật thiết với nhân dân.
16
LỜI KẾT
Từ những thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của quá trình 30 năm
đổi mới, một lần nữa có thể khẳng định, đây là những thành tựu có được từ sự kiên trì
và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng Cộng
sản Việt Nam vào thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, mà cốt lõi từ biện
chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị làm cơ sở đưa đến thành tựu đổi mới
toàn diện đất nước. Thành tựu của sự nghiệp đổi mới đó cũng chính là cơ sở nền tảng
để Việt Nam thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
trong giai đoạn tiếp theo.
Sau gần 30 năm thực hiện đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn,
toàn diện. Cùng với tăng trưởng kinh tế, sự ổn định kinh tế vĩ mơ được duy trì, các
mặt: chính trị, xã hội, quốc phòng và an ninh được bảo đảm và ổn định. Trong đó có
những thành tựu rất đáng khích lệ về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội gắn bó chặt
chẽ với tăng trưởng kinh tế, phát triển nguồn lao động và chất lượng lao động, khoa
học và cơng nghệ. Thành tựu đó ngày càng khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng
là nhân tố quyết định thành cơng của đổi mới, khích lệ, động viên nhân dân tiếp tục
hưởng ứng, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tiếp tục
thúc đẩy sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước với những bước tiến cao hơn. Thành
tựu này được các nước trong khu vực cũng như các đối tác có quan hệ với Việt Nam
thừa nhận và xem đây là một thuận lợi trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế của Việt
Nam. Với niềm tin sâu sắc vào đường lối đúng đắn của Đảng, Nhà nước, Quốc hội và
Chính phủ, sự cố gắng vươn lên trong tổ chức thực hiện của các cấp, các ngành, các
địa phương và sự phấn đấu nỗ lực của toàn dân, toàn quân, chúng ta luôn tin tưởng vào
sự phát triển thịnh vượng của đất nước trên con đường hô iœ nhâ œp rơ œng mở phía trước.
17