BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
--------------------o0o---------------------
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC ĐẦU TƯ R&D ĐẾN KẾT QUẢ
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC NGÀNH CHẾ BIẾN
THỰC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHỐN
Nhóm sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Huyền
Đinh Thị Thùy Linh
Tạ Thị Hiền Lương
Lớp HC: K56D3
Khoa Kế toán – Kiểm toán
Giảng viên hướng dẫn: Thạc sĩ Nguyễn Đắc Thành
HÀ NỘI – 2022
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
--------------------o0o---------------------
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC ĐẦU TƯ R&D ĐẾN KẾT QUẢ
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC NGÀNH CHẾ BIẾN
THỰC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHỐN
Nhóm sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Huyền
Đinh Thị Thùy Linh
Tạ Thị Hiền Lương
Lớp HC: K56D3
Khoa Kế toán – Kiểm toán
Giảng viên hướng dẫn: Thạc sĩ Nguyễn Đắc Thành
HÀ NỘI - 2022
PHẦN MỞ ĐẦU
Nghiên cứu này nhằm phân tích ảnh hưởng của việc đầu tư R&D đến kết quả hoạt
động của các doanh nghiệp thuộc ngành chế biến thực phẩm niêm yết trên sàn chứng
khoán ở Việt Nam. Cụ thể chúng tôi lấy ngẫu nhiên 44 doanh nghiệp thuộc ngành chế
biến thực phẩm (bao gồm các doanh nghiệp chế biến và các sản phẩm từ thịt; từ thủy sản;
rau quả; sản xuất dầu, mỡ động/thực vật; xay xát và sản xuất bột và các sản phẩm
khác….) đã và đang niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam (sàn HOSE và HNX) trong
ít nhất 5 năm trở lại đây. Cụ thể chúng tôi dựa vào BCTC của các doanh nghiệp này trong
5 năm (từ năm 2016 đến năm 2020) để thu thập dữ liệu dùng cho việc chạy và phân tích
kết quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy đầu tư vào R&D và các hoạt động về sản phẩm ở
Việt Nam tại các doanh nghiệp chế biến thực phẩm còn ở mức tương đối khiêm tốn. Đồng
thời trong nghiên cứu này R&D được phát hiện có tác động tích cực đến hoạt động của
doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam. Từ đó chúng tơi đưa ra kết luận rằng
đầu tư vào R&D là rất cần thiết để cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tại một
thị trường mới nổi như Việt Nam. R&D có thể là một phương tiện hỗ trợ đắc lực giúp các
doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh và tăng lợi nhuận của họ. Hơn nữa, R&D cũng có
thể là tiền đề của các hoạt động đổi mới cho các doanh nghiệp, không những đổi mới về
sản phẩm, mẫu mã, kiểu dáng mà cịn thay đổi cả về năng lực, trình độ chun môn của
các nguồn lao động tiềm năng của doanh nghiệp.
Từ những bằng chứng của nghiên cứu này và các công trình nghiên cứu trước đây,
chúng tơi kêu gọi các doanh nghiệp chú trọng hơn vào đầu tư R&D, cùng với đó chúng tơi
đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị cho các doanh nghiệp trong việc phát triển đầu tư
cho R&D sao cho hợp lý để cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh trên thị trường này.
LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế khơng có sự thành cơng nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ,
giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của mọi người. Vì vậy, trong suốt
khoảng thời gian từ khi bắt đầu lựa chọn đề tài nghiên cứu đến khi hồn thiện nó, nhóm
chúng em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của các quý thầy cơ, gia đình và
bạn bè. Trước tiên, nhóm chúng em xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô Trường Đại học
Thương mại đã tạo điều kiện cho chúng em được tiếp cận, thử sức với năng lực và kiến
thức của bản thân để thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học. Đặc biệt, nhóm chúng em
cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo đã nhiệt tình hướng dẫn, hỗ trợ, quan
tâm, giúp đỡ và đồng hành cùng nhóm chúng em trong suốt khoảng thời gian từ khi lựa
chọn đề tài nghiên cứu đến khi hoàn thiện đề tài – Thạc sĩ Nguyễn Đắc Thành. Với đề tài
nghiên cứu này cùng sự hướng dẫn tâm huyết của thầy, nhóm chúng em đã tích lũy thêm
được nhiều kiến thức thuộc về chun ngành Kế tốn của mình cũng như tích lũy thêm
được nhiều kĩ năng tự học, tự nghiên cứu và tìm kiếm tài liệu. Bài nghiên cứu được thực
hiện bước đầu đi vào thực tế, tìm hiểu về lĩnh vực sáng tạo trong nghiên cứu khoa học,
kiến thức của nhóm chúng em cịn hạn chế và cịn nhiều bỡ ngỡ. Do vậy, khơng tránh
khỏi những thiếu sót là điều chắc chắn, chúng em rất mong nhận được những ý kiến đóng
góp của q thầy cơ và các bạn đọc để kiến thức của em trong lĩnh vực chuyên ngành
được hoàn thiện hơn và rút kinh nghiệm cho những nghiên cứu tiếp theo.
Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn đến gia đình, người thân và bạn bè cùng
lớp đã ủng hộ, động viên, khích lệ tinh thần đăng ký nghiên cứu khoa học sinh viên giúp
chúng em hoàn thành tốt bài nghiên cứu.
Chúng em xin trân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 02 năm 2022
Nhóm tác giả
Nguyễn Thị Huyền
Đinh Thị Thùy Linh
Tạ Thị Hiền Lương
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU...............................................................................................................3
LỜI CẢM ƠN................................................................................................................... 4
MỤC LỤC.........................................................................................................................5
DANH MỤC BẢNG BIỂU...............................................................................................7
DANH MỤC HÌNH VẼ....................................................................................................8
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT............................................................................................ 9
CHƯƠNG 1: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC ĐẦU TƯ
R&D ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT
TRÊN SÀN CHỨNG KHỐN......................................................................................10
1.1. Giới thiệu lý do hình thành đề tài........................................................................10
1.1.1. Bối cảnh chung và sự cần thiết của nghiên cứu............................................10
1.1.2. Động lực của nghiên cứu................................................................................16
1.1.3. Xác định vấn đề nghiên cứu...........................................................................19
1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu...........................................................................20
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu.......................................................................................20
1.2.2. Các câu hỏi nghiên cứu chính.......................................................................21
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu........................................................................21
1.4. Lược khảo các nghiên cứu có liên quan..............................................................21
1.5. Khung lý thuyết phân tích...................................................................................23
1.5.1. Một số khái niệm chính...................................................................................23
1.5.1.1. Khái niệm về đầu tư R&D và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thuộc
ngành chế biến thực phẩm........................................................................................23
1.5.1.2. Khái niệm về các chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm................................................................25
1.5.2. Thang đo lường các khái niệm nghiên cứu và các biến................................26
1.5.2.1. Thang đo lường các khái niệm nghiên cứu.................................................26
1.5.2.2. Thang đo lường các biến..............................................................................27
1.6. Mơ hình nghiên cứu..............................................................................................28
1.7. Giả thuyết nghiên cứu..........................................................................................29
1.8. Ý nghĩa nghiên cứu...............................................................................................30
1.8.1. Ý nghĩa về mặt lý luận.....................................................................................30
1.8.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn..................................................................................30
1.9. Kết cấu đề tài........................................................................................................ 31
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...........................................................32
2.1. Phương pháp nghiên cứu.....................................................................................32
2.1.1. Cách tiếp cận nghiên cứu...............................................................................32
2.1.2. Nguồn dữ liệu và phương pháp nghiên cứu cụ thể........................................32
2.2. Phương pháp chọn mẫu và kích cỡ mẫu.............................................................33
2.2.1. Phương pháp chọn mẫu..................................................................................33
2.2.2. Kích cỡ mẫu.....................................................................................................33
2.2.3. Cơng cụ nghiên cứu........................................................................................33
2.3. Quy trình thực hiện nghiên cứu..........................................................................34
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU......................................................................38
3.1. Khái quát về ngành chế biến thực phẩm và doanh nghiệp hoạt động trong
ngành chế biến thực phẩm..........................................................................................38
3.1.1.Khái quát về ngành chế biến thực phẩm.........................................................38
3.1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm..............................40
3.2. Kết quả nghiên cứu...............................................................................................42
3.2.1. Kết quả thống kê mơ tả biến số chính của mơ hình.......................................42
3.2.2. Kết quả phân tích ảnh hưởng của R&D đến kết quả kinh doanh của DN
ngành công nghiệp chế biến thực phẩm...................................................................43
3.3. Một số nhận xét.....................................................................................................48
CHƯƠNG 4: THẢO LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ.......................................................49
4.1. Xu hướng phát triển ngành chế biến thực phẩm tại Việt Nam.........................49
4.2. Một số khuyến nghị và hàm ý chính sách...........................................................50
4.2.1. Đối với các Ban lãnh đạo doanh nghiệp.........................................................50
4.2.2. Đối với Chính phủ nước nhà..........................................................................52
4.3. Những đóng góp của đề tài...................................................................................55
4.4. Một số hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo.................................56
4.4.1. Một số hạn chế của đề tài................................................................................56
4.4.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo...........................................................................57
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................59
PHỤ LỤC........................................................................................................................60
DANH MỤC BẢNG BI
Bảng 1.1 :.........................................................................................................................28
YBảng 3. 1 : Số lượng doanh nghiệp, HTX chế biến thực phẩm phân theo ngành.....42
Bảng 3. 2 : Kết quả thống kê một số biến số chính.......................................................43
Bảng 3. 3 : Kết quả ước lượng các yếu tố lên lợi nhuận trước thuế............................44
Bảng 3. 4 : Bảng kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến.................................................45
Bảng 3. 5 : Bảng kiểm định phương sai.........................................................................46
DANH MỤC HÌNH
Hình 1. 1 : Mơ hình nghiên cứu ảnh hưởng của việc đầu tư R&D đến kết quả hoạt
động của các doanh nghiệp thuộc ngành chế biến thực phẩm niêm yết trên sàn
chứng khốn.................................................................................................................... 29
YHình 2. 1 : Quy trình nghiên cứu.................................................................................35
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TTS
TSCĐ
BCTC
DNNN
DNNQD
DN FDI
HTX
HĐQT
R&D
Tổng tài sản
Tài sản cố định
Báo cáo tài chính
Doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp FDI
Research and Development
CHƯƠNG 1: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC
ĐẦU TƯ R&D ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN
1.1. Giới thiệu lý do hình thành đề tài
1.1.1. Bối cảnh chung và sự cần thiết của nghiên cứu
a, Bối cảnh chung: Bối cảnh bao trùm liên quan đến kết quả hoạt động quả doanh nghiệp
rất quan trọng
Việt Nam đang trong quá trình tiến tới quá độ lên chủ nghĩa xã hội, hướng tới cơng
nghiệp hóa- hiện đại hóa vì vậy ngày càng nhiều các doanh nghiệp hình thành và phát
triển, kéo theo đó là sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường. Cùng với đó đời
sống của con người ngày càng cao, con người hiện tại không chỉ mong muốn ăn no mặc
ấm mà mong muốn ăn ngon - mặc đẹp. Chính vì vậy nhu cầu về sản phẩm cũng tăng cao:
thị hiếu người tiêu dùng thay đổi không ngừng. Người tiêu dùng ngày càng muốn sử dụng
sản phẩm tốt hơn, mới hơn, đa dạng mẫu mã, chất lượng, đáp ứng cao hơn. Thực phẩm là
một ngành thiết yếu đối với con người, nó phục vụ nhu cầu cơ bản của con người, nhu cầu
thực phẩm của người tiêu dùng tăng liên tục và đòi hỏi về chất lượng cũng như đa dạng
mẫu mã, chủng loại ngày càng cao. Vì vậy các doanh nghiệp ngành thực phẩm muốn phát
triển cần đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khách hàng một cách nhanh chóng và hiệu quả.
Khi doanh nghiệp có thể đáp ứng nhu cầu của khách hàng sớm với sản phẩm chất lượng,
kết quả tất yếu sẽ là tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, tăng vị thế của doanh nghiệp, từ đó
đem lại kết quả kinh doanh tốt cho doanh nghiệp.
Bối cảnh về cách mạng 4.0, sức ép phải đổi mới. Cuộc cách mạng 4.0 là cuộc cách
mạng về khoa học công nghệ, là cuộc cách mạng dựa trên nền tảng công nghệ số và tích
hợp tất cả các cơng nghệ thơng minh để tối ưu hóa quy trình và phương thức sản xuất. Đối
với ngành thực phẩm công nghiệp 4.0 tạo cơ hội thay thế công việc lặp đi lặp lại khơng
cần kỹ năng kinh nghiệm bằng máy móc cơng nghệ mới, đưa các máy móc thiết bị tiên
tiến nâng cao năng lực sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh
về giá và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm khi hạn chế sự tiếp xúc của con người với
sản phẩm. Trên thực tế nhiều cuộc điều tra chỉ ra rằng trong kỷ nguyên 4.0 cuộc chạy đua
về đầu tư Công nghệ và Nghiên cứu (R&D) ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn.
Bối cảnh là những khó khăn của dịch Covid - 19: Trong thời kỳ dịch bệnh ngày càng
căng thẳng, con người chuyển sang trạng thái bình thường mới, sơng chung với dịch
bệnh. Chính vì vậy nhu cầu tăng sức đề kháng, miễn dịch của con người càng ngày càng
tăng, không chỉ bằng dược phẩm mà còn bằng thực phẩm. Người tiêu dùng trong dịch
bệnh cần đến những thực phẩm giúp tăng sưc đề kháng, bổ sung nhiều vitamin hơn. Vì
vậy địi hỏi sự thay đổi các hàm lượng chất trong các loại thực phẩm của công ty, đổi mới
sản phẩm, tạo ra các sản phẩm đảm bảo sức khỏe, chứa những chất có lợi cho sức khỏe và
góp phần phịng chống Covid 19.
Các doanh nghiệp có thể đổi mới sản phẩm bằng cách nghiên cứu tạo ra sản phẩm
hồn tồn mới, hoặc có thể dựa trên những sản phẩm truyền thống đã có của doanh
nghiệp cải tạo, cải tiến sản phẩm. Điều này tùy thuộc vào ngân sách, tình hình sản phẩm
của từng doanh nghiệp.
b, Sự cần thiết của đề tài
Phương diện lý thuyết:
Hiện nay số lượng các nghiên cứu về ảnh hưởng của chi tiêu R&D đến doanh nghiệp
khá nhiều như: Nghiên cứu tác động của R&D đến đầu ra của doanh nghiệp, ảnh hưởng
của R&D đến hiệu suất của doanh nghiệp,… Tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu đề cập
đến ảnh hưởng của R&D đến kết quả hoạt động kinh doanh, hoặc có nói đến nhưng chỉ là
phần nhỏ của một nghiên cứu hoặc chỉ nghiên cứu một yếu tố trong kết quả hoạt động của
doanh nghiệp. Chính vì vậy chưa có một khung lý thuyết và mơ hình nghiên cứu tồn
diện. Ngồi ra những nghiên cứu về mặt hàn lâm của đề tài nghiên cứu các ảnh hưởng của
R&D đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hoặc đến các yếu tố khác trong
doanh nghiệp có các biến số được sử dụng khơng nhiều, các biến số cịn xa lạ, chưa bám
trực tiếp vào các yếu tố trong doanh nghiệp do vậy đề tài được đặt ra với mục đích nghiên
cứu sâu hơn về tác động của R&D đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp từ đó góp
phần làm hồn thiện khung lý thuyết và mơ hình về ảnh hưởng của R&D đến kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp nói chung và ảnh hưởng R&D đến kết quả hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp thuộc ngành chế biến thực phẩm nói riêng.
Phương diện thực tiễn:
Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học cơng nghệ và địi hỏi trong cuộc
cách mạng 4.0 các doanh nghiệp ngày càng được tiếp cận nhiều với các máy móc thiết bị,
cơng nghệ tiên tiến, hiện đại giúp nâng cao năng suất hoạt động và thúc đẩy quá trình đổi
mới sang tạo. Cùng với sự phát triển đó là nhu cầu ngày càng cao của con người. Xã hội
phát triển, nhu cầu tiêu dùng cũng phát triển theo, người tiêu dùng hướng tới những sản
phẩm mới mẻ, có tính khác biệt, đáp ứng khơng chỉ an tồn, sạch sẽ, dinh dưỡng mà cịn
phải đa dạng mẫu mã, mùi vị. Ví dụ như đối với sản phẩm sữa, nếu trước đây đa phần
chúng ta chỉ sử dụng sữa ông thọ, sữa hộp tiệt trùng vị ngun bản, thì ngày nay xuất hiện
cả sữa hộp ít đường, không đường, sữa vị dâu, socola,... Sự xuất hiện của các sản phẩm
mới là điều tất yếu, các doanh nghiệp cần biết nắm bắt cơ hội để tăng vị thế của mình.
Nếu chưa có sản phẩm mới trên thị trường trong khi đang tồn tại nhu cầu thì cần tạo ra
sản phẩm mới đáp ứng, nếu trên thị trường đã xuất hiện thì doanh nghiệp cũng cần nghiên
cứu để tạo ra sản phẩm mới tương tự nhưng vẫn mang nét đặc trưng của doanh nghiệp để
cạnh tranh với đối thủ và thể hiện sự đáp ứng đối với khách hàng. Mà để tạo ra sản phẩm
mới điều thiết yếu chính là đầu tư vào R&D. Đặc biệt với các doanh nghiệp niêm yết lớn,
có vốn hóa lớn, dẫn đầu trong từng ngành, coi là cánh chim đầu đàn, phải đầu tàu để thúc
đẩy sự phát triển của toàn ngành, bắt kịp với sự phát triển của các ngành khác và toàn thế
giới, kế thừa và ứng dụng linh hoạt nền tảng khoa học. Đặc biệt là công nghiệp sử dụng
nhiều máy móc: Cơng nghiệp chế biến chế tạo, Cơng nghiệp sản xuất.
Đặc biệt với các doanh nghiệp Việt Nam, R&D là rất cần thiết nước ta hiện nay là
một nước đang phát triển với mục tiêu cơng nghiệp hóa hiện đại hóa, cần tăng cường học
hỏi thành tựu khoa học trên thế giới, phát triển về mọi mặt đặc biệt là kinh tế. Để phát
triển kinh tế tổng thể của cả nước thì từng doanh nghiệp trong nước phải phát triển về
kinh tế, nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh, bắt kịp công nghệ của các nước trên thế
giới để khơng bị bỏ lại phía sau trong cuộc cách mạng khoa học 4.0. Ngoài việc học hỏi
cần biết áp dụng sao cho đúng, cho phù hợp với đặc trưng, trạng thái của nước ta. Để làm
được điều đó cần phải đầu tư, nghiên cứu thật kĩ, hay chính là đầu tư cho R&D. Đầu tư
cho nghiên cứu và phát triển (R&D) ngày nay là một trong những chỉ số rất quan trọng để
phân tích, đánh giá hệ thống đổi mới sáng tạo của một quốc gia. Khi nhìn vào chỉ số về
tổng đầu tư xã hội cho R&D theo phần trăm GDP, ở một mức độ nào đó, có thể đánh giá
mức độ phát triển của hệ thống kinh tế nói chung và hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia
nói riêng. Một quốc gia có chỉ số đầu tư cho R&D cao thể hiện được sự tích cực học hỏi
và khả năng tiếp thu công nghệ mới cao. Từ đó, chỉ số này có thể giúp nước ta hay chính
các doanh nghiệp trong nước thu hút được sự đầu tư từ các nước, các công ty đa quốc gia,
xuyên quốc đã phát triển.
Thực trạng vấn đề đầu tư cho R&D ở Việt Nam hiện nay
Về nhận thức và văn hóa R&D của các doanh nghiệp tại Việt Nam
Ở nước ta, số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ lệ rất cao, khoảng 96,7%
tổng số doanh nghiệp cả nước, do đặc thù về quy mô doanh nghiệp, tư duy hoạt động, hầu
hết hoạt động R&D tại các doanh nghiệp Việt Nam khơng có hoặc thay vì có một bộ phận
có chun mơn chun trách đảm nhiệm nó lại thường được gộp vào một trong các bộ
phận của doanh nghiệp như bộ phận sản xuất, bộ phận bán hàng,… Tuy nhiên, việc quan
tâm tới hoạt động này vẫn thường được đặt ra trong chiến lược phát triển của doanh
nghiệp. Như vậy có thể thấy các doanh nghiệp có hiểu biết về R&D nhưng lại chưa đủ tài
chính hoặc quy mơ để tổ chức hoạt động này.
Thực tế cho thấy, từ nhiều năm trước, một số doanh nghiệp đã có ý thức tự làm chủ
công nghệ, từ việc phát triển, nghiên cứu cho đến sản xuất, phân phối. Điều này đã giúp
các doanh nghiệp này gia tăng giá trị cho sản phẩm, lợi nhuận thu được cũng cao hơn so
với việc phải đi nhập khẩu, mua bản quyền từ các doanh nghiệp khác. Ví dụ, cách đây 3
năm, Tập đoàn Sunhouse đã đầu tư nguồn vốn khổng lồ, lên tới hàng triệu USD vào mở
rộng hệ thống nhà máy mới, đầu tư vào hoạt động R&D nhằm hoàn thiện chuỗi sản xuất,
gia tăng tỷ lệ nội địa hóa, nâng cao tiêu chuẩn chất lượng của dịng sản phẩm phục vụ thị
trường nội địa và xây dựng quy chuẩn sản phẩm xuất khẩu đạt chuẩn quốc tế.
Bên cạnh đó, các trung tâm nghiên cứu - phát triển (R&D) của doanh nghiệp đầu
tư nước ngoài (FDI) xuất hiện ở Việt Nam ngày một nhiều đang phần nào giúp khối
doanh nghiệp trong nước định hình lại tư duy kinh doanh trong thời đại mới, tạo ra môi
trường giúp Việt Nam cạnh tranh trong vai trò trở thành nước sản xuất cơng nghệ cao hơn
là thay thế vai trị cơng xưởng giá rẻ từ Trung Quốc.
Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp nhận thức được sự cần thiết của việc đầu tư
R&D đang chiếm tỷ lệ thấp. Một số doanh nghiệp trích lập quỹ phát triển khoa học, công
nghệ hàng năm, nhưng khơng dùng đến, sau đó phải hồn nhập. Theo số liệu do Tổng Cục
thuế cung cấp năm 2019 cho thấy: cả nước có 138.139 doanh nghiệp thành lập mới, tăng
5,2% so với năm 2018 nhưng số doanh nghiệp trích lập quỹ lại giảm từ 181 doanh nghiệp
(2018) chỉ có 164 doanh nghiệp (2019). Trong top 10 doanh nghiệp có số trích lập và sử
dụng quỹ nhiều nhất thì 70% là thuộc khối doanh nghiệp nhà nước.
Một khảo sát thực hiện bởi Khối Thương mại và Cạnh tranh thuộc nhóm ngân
hàng Thế giới gần đây cho biết, các doanh nghiệp Việt Nam chi 1,6% doanh thu hàng năm
cho hoạt động R&D, thấp hơn nhiều quốc gia trong khu vực như Lào (14,5%), Philippines
(3,6%), Malaysia (2,6%), Campuchia (1,9%).
Về nguồn vốn
Tại Việt Nam cịn nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn
đầu tư cho hoạt động đổi mới sáng tạo. Cụ thể: 86% doanh nghiệp phải sử dụng vốn tự có
cho hoạt động R&D. Trong thực tế đầu tư cho R&D chỉ được đề cao khi các doanh nghiệp
đã đạt được một quy mô nhất định, khi phần lợi nhuận của doanh nghiệp dư thừa nhiều sẽ
trích ra để đầu tư cho R&D. Còn đối với các doanh nghiệp nhỏ, lợi nhuận chưa nhiều, họ
không đủ vốn để đầu tư cho hoạt động này mà sẽ phải đi vay. Theo thống kê hiện nay có
khoảng 11% doanh nghiệp phải đi vay tín dụng để đầu tư cho hoạt động R&D. Chỉ có
khoảng 3% doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn ngân sách hỗ trợ của Chính phủ. Việc thu
hút FDI cũng chưa đạt được thành công như mong đợi.
Ngồi ra, thị trường khoa học cơng nghệ chưa phát triển cũng là một lý do khiến
doanh nghiệp gặp khó khăn khi muốn đầu tư R&D. Với cuộc cách mạng cơng nghiệp 4.0,
sự thiếu hụt về tài chính khiến mức độ sẵn sàng đầu tư của doanh nghiệp đáng lo ngại, tỷ
lệ doanh nghiệp có sử dụng các cơng nghệ điện toán đám mây, in 3D, robot tiên tiến, cảm
biến, ứng dụng dữ liệu lớn… hiện nay là rất thấp.
Về cơ chế chính sách
Nhận thức được tầm quan trọng của đầu tư R&D, trong những năm gần đây, Chính
phủ khơng ngừng triển khai thực hiện các giải pháp cải thiện mơi trường đầu tư, kinh
doanh, hồn thiện khung pháp lý nhằm đổi mới, tạo động lực cho doanh nghiệp phát triển.
Tiếp tục xây dựng các chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt, điều chỉnh tiêu chí doanh nghiệp
cơng nghệ cao nhằm tạo điều kiện cho các nhà đầu tư.
Để thu hút đầu tư vào R&D, hoạt động đổi mới sáng tạo, Việt Nam đã quyết định
xây dựng Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) ở Khu Công nghệ cao Hịa Lạc,
khởi cơng vào cuối năm 2020. Mục tiêu NIC là trung tâm đổi mới sáng tạo duy nhất mà
Chính phủ có một nghị định riêng để trao cho các thể chế vượt trội, tạo điều kiện phát
triển và hoạt động hiệu quả.
Một số doanh nghiệp đạt được hiệu quả cao khi đầu tư cho R&D
Với khối doanh nghiệp trong nước: Cơng ty Cổ phần Tập đồn Giống cây trồng Việt
Nam (Vinaseed) đã mở rộng hợp tác với các viện nghiên cứu công lập, hợp tác quốc tế
trong chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ, hợp tác với các nhà chọn tạo giống hàng
đầu Việt Nam… Nhờ đó, doanh nghiệp này đã sản xuất được những hạt gạo lọt top gạo
ngon nhất thế giới, xuất khẩu thành cơng sang Hà Lan, Cộng hịa Séc và Australia.
Mơ hình điển hình nhất về phát triển cơng nghiệp hỗ trợ tiến tới R&D tại Việt Nam
là VinGroup với hai dòng sản phẩm xe Vinfast và điện thoại VinSmart. Nhờ vào việc mua
bản quyền sản xuất công nghệ pin lithium của LG, VinGroup đã có dây chuyền sản xuất
pin lithium riêng, sở hữu nhiều chuyên gia hàng đầu, đào tạo được lớp nhân lực mới phù
hợp với công nghệ phát triển để sẵn sàng cho bước chuyển sản xuất các sản phẩm R&D
của mình.
Cơng ty cổ phần Bóng đèn phích nước Rạng Đơng là một trong những doanh nghiệp
có tỷ lệ trích lợi nhuận đầu tư R&D thuộc top đầu trong các doanh nghiệp trên sàn niêm
yết là 20% lợi nhuận sau thuế. Doanh nghiệp đã sớm thành lập trung tâm nghiên cứu và
phát triển từ năm 2011, với hơn 40 nhà khoa học từ các viện nghiên cứu, trường đại học
lớn. Kết quả, hàng năm doanh nghiệp cho ra đời những sản phẩm mới đột phá ứng dụng
vào mọi lĩnh vực nông nghiệp hay chiếu sáng nhân tạo duy trì tăng trưởng doanh thu bình
quân trong 10 năm qua đạt 13%/năm.
Qua đó cho thấy, tầm quan trọng của đầu tư vào R&D và đổi mới sáng tạo là chìa
khóa vàng giúp tăng trưởng kinh tế. Ở góc độ doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầu tư cho
R&D có hiệu quả hoạt động tốt hơn hẳn.
1.1.2. Động lực của nghiên cứu
Dn n i đ a năng
ộ ị suấất rấất thấấp nên đấầu t cho
ư rd có giúp tăng kêất qu kd
ả k, năng suấất FDI cao nhấất, t ư
nhấn, nhà nước, (báo cáo nawg suấất lao động VN )
Năng suấất lao đ ngộtrong chêấ biêấn tp đang còn thấấp so vs các nhosmn gành khác, nh ư ngành công ngh ệ,
viêễn thông, CBTp khá thấấp đấầu tư rd có phải là giải pháp thích đáng cho ngành CBTP k?
Đối với các doanh nghiệp, năng suất lao động và kết quả kinh doanh là vấn đề được
quan tâm lớn. Tại Việt Nam so sánh giữa doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI ta
thấy
Doanh nghiệp tư nhân với tính chất là doanh nghiệp thuộc sở hữu của một chủ
nên toàn bộ vốn để thành lập doanh nghiệp tư nhân chỉ do một cá nhân (chủ sở hữu doanh
nghiệp tư nhân) đầu tư. Tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
tư nhân không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp, vốn đầu tư của
chủ doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự đăng ký. Chủ doanh nghiệp tư nhân có
nghĩa vụ đăng ký chính xác tổng số vốn đầu tư, trong đó nêu rõ số vốn bằng đồng Việt
Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng và các tài sản khác; đối với vốn bằng tài sản khác
còn phải ghi rõ loại tài sản, số lượng và giá trị còn lại của mỗi loại tài sản. Chủ doanh
nghiệp tư nhân phải đăng ký số vốn đầu tư và phải ghi chép đầy đủ toàn bộ vốn, tài sản kể
cả vốn vay và tài sản thuê được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vào
sổ kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động, chủ doanh
nghiệp tư nhân có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư và phải được ghi chép đầy đủ vào sổ
kế toán. Trường hợp giảm vốn đầu tư xuống thấp hơn vốn đầu tư đã đăng ký thì chủ
doanh nghiệp tư nhân chỉ được giảm vốn sau khi đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh
doanh.
FDI (là viết của Foreign Direct Investment) được hiểu là hoạt động đầu tư trực tiếp
nước ngoài và thuật ngữ này được sử dụng phổ biến trong các hoạt động kinh tế quốc tế.
Các hình thức đầu tư để được cơng nhận là doanh nghiệp FDI:
Đầu tư thành lập doanh nghiệp sở hữu 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài
Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của doanh nghiệp
khác
Đầu tư thành lập chi nhánh doanh nghiệp nước ngồi tại Việt Nam
Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (còn gọi là hợp đồng BCC)
Doanh nghiệp FDI gắn với các mục tiêu hợp tác kinh tế toàn cầu, mở rộng thị
trường hoạt động kinh doanh rộng khắp trên thế giới và tạo ra dòng chảy tiền tệ quốc tế
nhằm đạt được nguồn lợi nhuận và lợi ích dài hạn.
Ta có thể thấy doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khốn nào,
vấn đề này có ảnh hưởng trực tiếp vào đề tài này. Trái ngược với các doanh nghiệp tư
nhân thì doanh nghiệp FDI hoạt động R&D từ nước ngồi sẽ có tác động tích cực trực
tiếp đến năng suất trong nước thông qua việc giới thiệu các cơng nghệ và quy trình sản
xuất và tác động gián tiếp qua q trình nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ nước ngồi.
Ở Việt Nam, tính chung năm 2020, so với năm 2019, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký
mới và bổ sung đạt 21 tỷ USD, giảm 6,87% (2019 đạt 22,55 tỷ USD, giảm 11,82%), vốn
thực hiện đạt 20 tỷ USD, giảm 2% (2019 đạt 20,38 tỷ USD, tăng 7,26% (yoy)). Vốn đầu
tư nước ngoài đăng ký mới và bổ sung năm 2020 chỉ giảm 6,87% cho thấy trong bối cảnh
dịch bệnh đầy khó khăn cùng tranh chấp thương mại Mỹ-Trung, Việt Nam là một điểm
đến đáng tin cậy trong mắt các nhà đầu tư FDI.
⇒ Một câu hỏi được đặt ra liệu rằng các doanh nghiệp FDI với nguồn vốn nước ngoài,
được tiếp xúc nhiều hơn và nhanh hơn với các khoa học kỹ thuật mới, có nguồn vốn linh
hoạt và nhiều hơn thì kết quả kinh doanh liệu có hơn các doanh nghiệp tư nhân trong
nước khơng. Nếu có thì liệu có phải do các doanh nghiệp FDI được tiếp xúc và áp dụng
nhanh chóng các khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất không. Từ đó trả lời cho câu hỏi liệu
các doanh nghiệp tư nhân trong nước có đang thiếu sự đổi mới về sản phẩm cũng như quy
trình sản xuất hay khơng? Và nếu thiếu thì doanh nghiệp cần làm gì để bắt kịp khoa học
cơng nghệ đó?
Đối với ngành chế biến thực phẩm của Việt Nam thì cịn thấp trong các nước ASEAN
Ngành chế biến thực phẩm và chiếm tới hơn một nửa tổng số việc làm trong ngành cơng
nghiệp chế biến ở Việt Nam. Vì các ngành th nhiều nhân cơng này đóng một vai trị
quan trọng trong việc tuyển dụng người lao động, bao gồm cả những người lao động từ
các khu vực nông nghiệp và nông thôn, năng suất lao động của các ngành công nghiệp đó
cần phải được cải thiện. Một điều quan trọng không kém là công nghiệp chế tạo phải
được đa dạng hóa hơn nữa và hướng tới các tiểu ngành có năng suất lao động cao
hơn và có giá trị gia tăng cao hơn. Việc đa dạng hóa và sản xuất các sản phẩm, đổi mới
về khoa học cơng nghệ có giá trị gia tăng cao hơn đóng vai trị chủ chốt đối với tăng
trưởng xuất khẩu bền vững và tạo ra sự thịnh vượng trong quá trình hội nhập về lâu dài.
Thực tế năng suất lao động của ngành chế biến thực phẩm nói riêng và các ngành
khác nói chung ở Việt Nam hiện nay là một yếu tố quan trọng. Năng suất lao động của
ngành hiện vẫn ở gần mức đáy trong số các nước ASEAN.Nếu giữ nguyên tốc độ tăng
năng suất lao động gần đây, Việt Nam sẽ chỉ đuổi kịp Philippines vào năm 2038, Thái Lan
vào năm 2069 và mất nhiều thời gian hơn nữa để bắt kịp với nhiều nước khác
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IPI) năm 2020 tăng 3,36%, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công
nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,3%. Chỉ số tồn kho bình quân tăng cao theo đà từ năm
2018 lên tới 25,3% cao hơn so với năm 2019 (13,6%). Điều này thể hiện rằng các doanh
nghiệp trong nước đang phải đình trệ sản xuất tạm thời và thu hẹp quy mô sản xuất.
Điểm yếu của kinh tế Việt Nam còn đến từ các rủi ro nội tại như mất cân đối tài
khóa lớn, tốc độ và mức độ đầu tư phát triển, đặc biệt là hạ tầng, còn chậm cho hiệu quả
quản lý thấp; sức khỏe hệ thống ngân hàng – tài chính tuy dần được củng cố nhưng còn dễ
tổn thương; sự phụ thuộc nặng nề của tăng trưởng vào khu vực FDI, thiếu tự chủ công
nghệ và nguyên liệu; chất lượng lao động thấp và chậm cải thiện dẫn đến kết quả hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp rất tệ. Cụ thể:
Thị trường xuất khẩu khó khăn, giá xuất khẩu bình quân của nhiều mặt hàng nông
sản đều giảm so với cùng kỳ năm trước khiến kim ngạch xuất khẩu hầu hết các mặt hàng
nông, thủy sản năm 2020 đều giảm so với năm trước: Rau quả giảm 13%; hạt điều giảm
3%; cà phê, giảm 7,2%; hạt tiêu giảm 6,8%. Riêng mặt hàng gạo đạt hơn 3 tỷ USD, tăng
9,3 % nhờ vào nhu cầu dự trữ gạo của các nước trên thế giới tăng do dịch bệnh
Trong năm 2020, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giải thể và
ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể rất nhiều, một phần do ảnh hưởng của dịch
bệnh, nhưng lý do lớn nhất chính là do kết quả hoạt động của các công ty không được
hiệu quả, khiến cho công ty không đủ tài chính và nguồn lực để tiếp tục duy trì hoạt động.
Cụ thể theo Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong năm 2020 tại Việt Nam có
đến 46,6 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng đến 62,2% so với
năm 2019; gần 37,7 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm
13,8%; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 17,5 nghìn doanh nghiệp hồn tất thủ
tục giải thể tăng 3,7%. Ngược lại với lượng doanh nghiệp giải thể và tạm ngừng kinh
doanh, số lượng các doanh nghiệp thành lập mới trong 2020 cũng giảm. Cụ thể trong năm
2020 cả nước có 59,286 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động; 134,9 nghìn doanh
nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký hơn 2.235,6 nghìn tỷ đồng, tăng 29,2%
về vốn đăng ký và giảm 16,9% về số lượng doanh nghiệp so với năm 2019.
Nhóm chúng tơi đang theo học chun ngành kế tốn doanh nghiệp, chúng tơi
muốn tìm hiểu về tình hình hoạt động đặc biệt là hoạt động liên quan đến đầu tư phát triển
nghiên cứu do thời đại hiện nay là thời đại cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chúng tơi
muốn xem xét mức độ ảnh hưởng của đầu tư cho R&D đến kết quả của doanh nghiệp,
nhìn nhận khách quan về thực trạng việc đầu tư cho R&D tại các doanh nghiệp ở Việt
Nam đang ở mức nào, từ đó đưa ra các khuyến nghị cho các doanh nghiệp xem xem có
nên đầu tư thêm vào R&D, và nếu đầu tư thêm thì nên đầu tư như thế nào cho hợp lí, tối
ưu nhưng đảm bảo hiệu quả nhất, làm thế nào để nâng cao năng lực đổi mới công nghệ
thông qua cho tiêu cho R&D.
1.1.3. Xác định vấn đề nghiên cứu
Để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp luôn cần phải nâng cao hiệu quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của mình. Muốn vậy, các doanh nghiệp phải thể hiện trung thực kết
quả đạt được trong quá trình sản xuất kinh doanh và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Các đại lượng này chịu tác động bởi rất nhiều các nhân tố khác nhau với các mức độ khác
nhau, do đó có ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Ngành
sản xuất chế biến thực phẩm là ngành công nghiệp mà Việt Nam đang có nhiều lợi thế và
tiềm năng phát triển. Vì thế, việc đầu tư mạnh cho R&D luôn thực sự cần thiết, bởi mỗi
doanh nghiệp đều đang thực hiện mục tiêu chính là tối đa hóa lợi nhuận, tăng doanh số,
cải thiện hiệu suất kinh doanh. Nhưng việc thực hiện mục tiêu đó khơng phải dễ dàng,
khơng thể cứ dậm chân tại chỗ mà đạt được mục đích cao, vì vậy, mỗi doanh nghiệp cần
đẩy mạnh đầu tư cho R&D, tạo điều kiện để các nguồn nhân lực có cơ hội nghiên cứu, tìm
kiếm, phát triển năng lực bản thân để cống hiến, ứng dụng vào hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp mình. Tuy nhiên, việc đầu tư cho R&D vốn phức tạp và cần phải
tích lũy được nguồn vốn lớn, bị chi phối bởi nhiều nhân tố bên ngoài khác ảnh hưởng từ
việc đầu tư R&D đến kết quả hoạt động kinh doanh. Xuất phát từ tầm quan trọng và sự
cần thiết của đề tài nhằm giúp cho các DN ngành sản xuất CBTP nâng cao năng lực cạnh
tranh, tối đa hóa lợi nhuận, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, nhóm đã đặt ra vấn đề
nghiên cứu: “Ảnh hưởng của đầu tư R&D đến kết quả hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp thuộc ngành chế biến thực phẩm niêm yết trên sàn chứng khoán”
1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu
a, Mục tiêu chung:
Xác định và đo lường các nhân tố ảnh hưởng của việc đầu tư R&D đến kết quả
hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khốn. Bên cạnh đó, nhóm
hướng đến phân tích vai trị quan trọng của việc đầu tư R&D đến kết quả hoạt động của
các doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp thúc đẩy việc đầu tư R&D vào các
doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán để giúp cho các doanh nghiệp nâng cao hiệu
quả hoạt động, tăng doanh thu, lợi nhuận, khẳng định vị thế và cạnh tranh lành mạnh với
các doanh nghiệp khác trong nước và quốc tế.
b, Mục tiêu cụ thể:
Khảo sát thực trạng việc đầu tư R&D của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn
chứng khoán
Khẳng định chi tiêu cho R&D có quan hệ với ROA và ROE
Phân tích sự khác biệt giữa các nhóm theo số năm hoạt động, quy mô, ngành nghề
trong đầu tư cho R&D.
Nghiên cứu này của nhóm có đóng góp như thế nào cho việc tăng trưởng của các
doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán và hiện nay, việc chi tiêu cho R&D
của doanh nghiệp là bao nhiêu, chiếm bao nhiêu % hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp.
Nhận thức của các nhà quản trị về việc đầu tư R&D cho doanh nghiệp như thế nào
trong những năm vừa qua và trong tương lai tới
Đánh giá mức độ và chiều tác động của việc đầu tư R&D đến kết quả hoạt động
kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán
1.2.2. Các câu hỏi nghiên cứu chính
Chi tiêu cho R&D liệu có ảnh hưởng gì đến lợi nhuận sau thuế, ROA và ROE (ảnh
hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thuộc ngành chế biến
thực phẩm) hay không?
Quy mô công ty, tuổi công ty, quỹ đầu tư phát triển khoa học cơng nghệ và tỷ trọng
TSCĐ/TTS có tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
không?
Mức độ tác động của các nhân tố trên đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp thuộc ngành chế biến thực phẩm như thế nào?
Những giải pháp giúp các doanh nghiệp thuộc ngành chế biến thực phẩm đạt kết
quả hoạt động kinh doanh cao nhất là gì?
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của R&D đến kết quả hoạt động kinh doanh
của các doanh nghiệp thuộc ngành chế biến thực phẩm niêm yết trên sàn chứng
khoán trong 5 năm gần đây.
Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của việc đầu tư R&D và
mức độ tác động của chúng đến kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp thuộc ngành chế biến thực phẩm niêm yết trên sàn chứng khoán.
Về không gian: Tiến hành nghiên cứu tại các doanh nghiệp thuộc ngành chế
biến thực phẩm
Về thời gian: Bài nghiên cứu khảo sát số liệu phản ánh về ảnh hưởng của đầu tư
R&D đến kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết trên àn
chứng khoán từ năm 2016 đến năm 2020.
1.4. Lược khảo các nghiên cứu có liên quan
Các cơng trình nghiên cứu nước ngồi
Các cơng trình nghiên cứu trong nước
Luận văn “Các yếu tố tài chính tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của Đỗ
Dương Thanh Ngọc (2011). Luận văn đã thực hiện khảo sát và nghiên cứu 40 doanh
nghiệp xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2006 – 2011
nhằm xem xét các yếu tố tài chính tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp ngành xây dựng đang được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Luận văn của tác giả sẽ trả lời các câu hỏi: Yếu tố nào tác động? Mức độ tác động của
từng yếu tố? Kết quả nghiên cứu ở Việt Nam có giống với kết quả nghiên cứu ở các nước
trên thế giới không? Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong các biến xem xét (tỷ lệ nợ TDTA/TDTE/STDTA/LTDTA, quy mô doanh nghiệp – SIZE, tốc độ tăng trưởng tổng tài
sản – GROWTH, tỷ trọng tài sản cố định – TANG) thì có một biến tác động đến hiệu
quả kinh doanh được đo lường bởi chỉ số ROA là biến tỷ lệ nợ (TDTA/TDTE/STDTA).
Trong đó biến tỷ lệ nợ có tác động rất mạnh theo chiều âm (-) đến hiệu quả kinh doanh.
Từ đó, tác giả đã đề xuất các kiến nghị phù hợp đối với doanh nghiệp xây dựng và đối với
Nhà nước nhằm cải thiện cơ cấu vốn và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp.
Bài nghiên cứu “Innovation and firm performance: Is R&D worth it? An empirical
case of Vietnam enterprises” của Ngơ My Trần , Lê Hồng Thủy Tiên, Trần Thị Bách Yên
(2022) đã thực hiện nghiên cứu 397 doanh nghiệp. Nghiên cứu này nhằm phân tích tác
động của R&D và đổi mới sản phẩm đối với hoạt động của doanh nghiệp ở Việt Nam.
Các số liệu thống kê cho thấy trung bình các doanh nghiệp Việt Nam chiếm 5,82% tổng
số doanh thu để chi cho hoạt động R&D. Ngoài ra, có khoảng 32% doanh nghiệp Việt
Nam trong mẫu đã cải tiến hoặc nâng cấp sản phẩm cũng như phát triển dịch vụ mới trong
3 năm qua. Kết quả này cho thấy đầu tư vào R&D và các hoạt động đổi mới sản phẩm ở
Việt Nam cịn ở mức tương đối khiêm tốn. Bên cạnh đó, kết quả hồi quy cho thấy việc đổi
mới sản phẩm ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam về các
biện pháp kế tốn có lãi. điều này khiến các doanh nghiệp tung ra các sản phẩm mới hoặc
cải tiến các sản phẩm hiện có có thể là “nhiên liệu” cho động lực tăng trưởng của các
doanh nghiệp và do đó có thể cải thiện hiệu quả hoạt động cho các doanh nghiệp Việt
Nam. Ngoài ra, R&D được phát hiện có tác động tích cực đến hoạt động của doanh
nghiệp trong bối cảnh Việt Nam. Do đó, có thể nói rằng đầu tư vào R&D là cần thiết để
cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tại một thị trường mới nổi như Việt Nam.
R&D có thể là một phương tiện để giúp các cơng ty tạo ra sự cạnh tranh lợi thế và tăng lợi
nhuận của họ. Hơn nữa, R&D cũng có thể là tiền đề của các hoạt động đổi mới cho các
doanh nghiệp. Những kết quả này chỉ ra rằng lý thuyết quan điểm dựa trên nguồn lực
được thực nghiệm ủng hộ trong bối cảnh Việt Nam. Do đó, bằng chứng của nghiên cứu
này kêu gọi việc xem xét đầu tư cho R&D và đổi mới sản phẩm để cải thiện hoạt động
của công ty trên thị trường này. Hơn nữa, bằng chứng thống kê trong nghiên cứu này cho
thấy cường độ xuất khẩu đã ảnh hưởng tích cực đến doanh nghiệp hoạt động tại thị trường
Việt Nam.
1.5. Khung lý thuyết phân tích
1.5.1. Một số khái niệm chính
1.5.1.1. Khái niệm về đầu tư R&D và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thuộc
ngành chế biến thực phẩm
Theo UNESCO, thuật ngữ " nghiên cứu và phát triển " được sử dụng để chỉ hoạt
động sáng tạo được thực hiện trên một cơ sở có tính hệ thống nhằm tạo ra những
kiến thức mới về con người, văn hóa và xã hội, và việc sử dụng những kiến thức mới
đó để tạo ra những ứng dụng mới. Hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) trong
các ngành công nghiệp được doanh nghiệp thực hiện nhằm mục đích chống đỡ, hỗ
trợ và mở rộng hoạt động kinh doanh hiện tại; phát triển hoạt động kinh doanh mới;
mở rộng hoặc phát triển theo chiều sâu năng lực công nghệ của doanh nghiệp.
R&D: Là viết tắt của Research & Development, là một quá trình nghiên cứu nhằm
tạo ra sự đổi mới và cải tiến tích cực trong doanh nghiệp (nâng cao chất lượng sản
phẩm, quy trình sản xuất hoặc tạo ra sản phẩm mới). Là quá trình chuyển đổi các yếu
tố đầu vào R&D thành các yếu tố đầu ra R&D. Đầu vào R&D là kiến thức, sự tinh
thông và sáng tạo của các nhà nghiên cứu, lao động R&D, chi phí đầu tư cho nhà
xưởng, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu và dịch vụ mua ngoài. Đầu ra của R&D là sự
phát triển của vốn kiến thức, công nghệ mới, các phát minh, sáng chế, khả năng nhận
thức, lĩnh hội và áp dụng kiến thức mới, sự cải thiện về kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp khi áp dụng các kiến thức, công nghệ mới hay khai thác các sáng chế.
Theo giáo trình Thống kê doanh nghiệp của Trường Đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh
thì bản chất của hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh
lợi ích đạt được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là mối quan
hệ so sánh giữa kết quả đạt được trong q trình sản xuất kinh doanh với chi phí bỏ
ra để đạt được kết quả đó. Khi một doanh nghiệp đạt hiệu quả hoạt động kinh doanh
cao tức là doanh nghiệp đó đang khẳng định sự bảo tồn và phát triển doanh nghiệp, là
điều kiện quan trọng thúc đẩy sự cạnh tranh và tiến bộ trong sản xuất kinh doanh và
mục tiêu cuối cùng là để tối đa hóa lợi nhuận.
Theo GS.TSKH Ngơ Đình Giao, ngành sản xuất chế biến thực phẩm là một bộ
phận của ngành công nghiệp, sử dụng phần lớn nguyên liệu do ngành nông nghiệp và
thủy sản cung cấp để sản xuất thành những sản phẩm cơng nghiệp có giá trị như sản
phẩm sản xuất, chế biến từ thịt, thủy hải sản, rau quả, xay xát, sản phẩm từ dầu mỡ
động/thực vật, đồ uống,….Ở Việt Nam, ngành
Đầu tư cho R&D: là đầu tư cho việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm. cụ thể là
đầu tư cho các công việc : nghiên cứu thị trường,phân tích dữ liệu, phân tích tổng
hợp, chia sẻ thơng tin,... đầu tư sản xuất bao bì, mẫu mã sản phẩm mới, đầu tư công
nghệ mới trong cả sản xuất và ngồi sản xuất của doanh nghiệp.
Mục đích đầu tư cho R&D: Trên lý thuyết đầu tư cho R&D là để nghiên cứu- phát
triển sản phẩm, nghiên cứu- phát triển bao bi, nghiên cứu- phát triển quy trình. Từ đó
nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường vị thế cho doanh nghiệp Cụ thể đối với các
doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm . Trong các nghiên cứu thực nghiệm cụ thể
mục đích chính của R&D là phát triển các phát minh chuyển thành sản phẩm để có
thể thương mại hóa, trọng tâm của chi tiêu R&D là để phát triển sản phẩm mới. Cụ
thể theo Penner-Hahn và Shaver (2005, tr. 123) “ các công ty thực hiện các hoạt động
R&D phần lớn là để tạo ra những đổi mới mà cuối cùng sẽ cung cấp các sản phẩm
mới và do đó mang lại lợi nhuận”.
Các hoạt động hợp tác về khoa học và công nghệ với các tổ chức, cá nhân và doanh
nghiệp trong nước và ngoài nước: Hoạt động khảo sát, tìm kiếm đối tác, nhu cầu
cơng nghệ trong nước và ngoài nước; các nhiệm vụ hợp tác nghiên cứu chung theo
lĩnh vực khoa học và công nghệ được nhà nước khuyến khích, ưu tiên.
Quỹ phát triển khoa học và công nghệ là quỹ do doanh nghiệp xây dựng để thực
hiện cho việc đầu tư nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của doanh
nghiệp tại như xây dựng phịng thí nghiệm, máy móc, trang thiết bị hiện đại phục vụ
tối đa cho nghiên cứu và phát triển, mua bản quyền công nghệ, kiểu dáng công
nghiệp,.…Và các khoản chi của quỹ này chỉ được cơ quan thuế chấp nhận khi sử
dụng đúng mục đích nêu trên và phải có đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp.
1.5.1.2. Khái niệm về các chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm
Thông thường hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ngành xây dựng được phản ánh qua
các chỉ số:
Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp
Chỉ số này phản ánh hiệu quả tuyệt đối phần lợi nhuận, tức là phần chênh lệch giữa
kết quả đầu ra và chi phí đầu vào và là số tiền doanh nghiệp thực thu được sau một quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận sau thuế càng cao thì doanh nghiệp đạt
kết quả hoạt động kinh doanh càng tốt, mang nhiều giá trị hơn. Tuy nhiên nhược điểm lớn
nhất của chỉ số này là rất khó để so sánh hiệu quả kinh doanh giữa các doanh nghiệp trong
cùng ngành nghề với nhau. Ví dụ, những doanh nghiệp xây dựng có quy mơ lớn (tổng tài
sản, nguồn vốn lớn) thì tất nhiên sẽ tạo ra lợi nhuận lớn hơn những doanh nghiệp có quy
mơ nhỏ, nhưng điều này khơng có nghĩa là các doanh nghiệp lớn hoạt động kinh doanh có
hiệu quả hơn các doanh nghiệp nhỏ. Như vậy, chỉ số hiệu quả tuyệt đối không cho biết
khả năng sử dụng tiết kiệm hay lãng phí các chi phí đầu vào. Để khắc phục được nhược