TRƯỜNG ĐẠI HỌC
SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
MƠN HỌC: TRIẾT HỌC MÁC LÊ NIN
TIỂU LUẬN
QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ VAI
TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN TRONG LỊCH SỬ.
Ý NGHĨA CỦA TƯ TƯỞNG “LẤY DÂN LÀM GỐC” TRONG
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Hằng
SVTH: NHÓM 6
1. Nguyễn Hà Quỳnh Anh - 21159067
2. Huỳnh Thị Anh Thi - 21159109
3. Nguyễn Thị Thùy Ngân - 21159093
4. Trần Thị Ngọc Tuyền - 21159057
5. Phạm Lê Vy - 21159063
MÃ MÔN HỌC: LLCT130105_21_1_97
0
0
TP. Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 12 năm 2021
0
0
NHẬN XÉT TỪ GIÁO VIÊN
.......
.......
.......
.......
.......
.......
.......
.......
.......
.......
.......
.......
.......
.......
.......
.......
.......
.......
.......
0
0
MỤC LỤC
1. LỜI MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài.......................................................................01
1.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.............................................02
1.3. Đối tượng nghiên cứu.................................................................03
1.4. Cơ sở lý luận và phương pháp luận............................................03
1.5. Bố cục đề tài...............................................................................03
2. QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ VAI TRÒ CỦA
QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN TRONG LỊCH SỬ.
2.1. Khái niệm quan niệm về quần chúng nhân dân..........................04
2.2. Vai trò của quần chúng nhân dân................................................05
2.3. Ý nghĩa phương pháp luận.........................................................08
3. Ý NGHĨA CỦA TƯ TƯỞNG “LẤY DÂN LÀM GỐC” TRONG QUÁ
TRÌNH PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
3.1. Khái niệm tư tưởng “Lấy dân làm gốc”.....................................09
3.2. Ý nghĩa tư tưởng “Lấy dân làm gốc trong quá trình phát triển ở Việt
Nam hiện nay.....................................................................................09
3.3. Liên hệ thực tiễn.........................................................................11
4. KẾT LUẬN...............................................................................................16
0
0
LỜI MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử, khi nhắc đến các chiến công mà nước ta đã phải đấu tranh gay
gắt giành lấy sự độc lập, tự do cho nước nhà để chúng ta có được như ngày hơm
nay thì khơng nhắc đến vai trị của đơng đảo quần chúng nhân dân là một thiếu
sót rất lớn. Từ thuở xa xưa, con người đã biết đến sức mạnh của sự kết hợp vượt
xa với sức mạnh cá nhân nên họ đã liên kết đồng loại, tạo nên một bầy đàn, một
cộng đồng những con người để hợp sức cùng nhau. Nhà nước ra đời và có
những sự thay đổi, phát triển xã hội thì dù ở bất kì giai đoạn nào cũng đều xuất
hiện những cá nhân, những con người ưu tú xuất chúng của thời đại đứng lên
lãnh đạo, dẫn dắt nhân dân đi theo con đường đúng đắn, nhưng chỉ có các vị
lãnh tụ, các cá nhân đó thơi thì đất nước sẽ ra sao nếu thiếu đi thành phần đông
đảo, cơ bản và chủ yếu tạo nên một xã hội hoàn chỉnh, các cuộc cách mạng và
quyết định sự tồn tại hoặc suy vong, sự hưng thịnh hoặc suy thối.
Như vậy, chúng ta có thể thấy được vai trò quan trọng của quần chúng nhân
dân được coi trọng từ khi con người mới xuất hiện và nó càng được quan trọng
hố và được đề cao hơn khi có sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác-Lênin. Lúc này,
chúng ta mới có thể thấy được tầm quan trọng về vai trò của quần chúng nhân
dân một cách chính thức, đúng đắn và khoa học nhất. Phạm vi giới hạn vai trị
của quần chúng nhân dân khơng chỉ có giới hạn tại một khu vực, dân tộc hay đất
nước mà sự ảnh hưởng của nó lan rộng khắp nói, ở mọi quốc gia, dân tộc trên
thế giới và ở mọi thời đại.
Riêng tại Việt Nam, người đầu tiên hưởng ứng và tiếp thu và vận dụng sáng
tạo quan điểm đó vào hồn cảnh đất nước Việt Nam lúc bấy giờ đó chính là chủ
tịch Hồ Chí Minh. Người thấm nhuần tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin:
“Quần chúng là người sáng tạo ra lịch sử thúc đẩy lịch sử khơng ngừng phát
triển”. Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng: “Cách mạng là sự nghiệp của quần
chúng nhân dân, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào” và
Người đã phát triển, sáng tạo nó vào lịch sử dân tộc với tư tưởng “lấy dân làm
gốc” trong quá trình phát triển ở Việt Nam hiện nay. “Gốc có vững, cây mới
bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân.”, đó là một trong những điều mà Hồ
1
0
0
Chí Minh sau hơn bao năm bơn ba trên đất khách quê người đã đúc kết được.
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, nhân dân là gốc, là sức mạnh của cách mạng,
cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, quần chúng nhân dân giữ vai trò to lớn và
cũng là nhân tố quyết định sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Lúc sinh thời, Chủ
tịch Hồ Chí Minh nói rằng : “Trong thế giới khơng gì mạnh bằng lực lượng
đồn kết của Nhân dân. Vì thế, chúng ta có trọng Dân, u Dân, kính Dân thì
Dân mới u ta, kính ta. Tôn trọng và tin tưởng Nhân dân là tôn trọng và tin
tưởng những người làm ra lịch sử”. Người cịn sánh nhân dân với Trời, Đất:
“Trong bầu trời khơng có gì q bằng Nhân dân”. Trên cơ sở đó chúng ta có thể
hiểu rõ và sâu sắc hơn về vai trị của quần chúng nhân dân trong cơng cuộc đổi
mới ở Việt Nam hiện tại và sau này.
Xuất phát từ những lý do trên, nhóm đã chọn đề tài: Quan điểm của MácLênin về vai trò quần chúng nhân dân trong lịch sử. Ý nghĩa tư tưởng lấy
dân làm gốc trong quá trình phát triển ở Việt Nam hiện nay để làm tiểu luận
nhóm.
1.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Khái quát những quan điểm, chính sách cơ bản của Đảng và Nhà
nước ta về tính quần chúng nhân dân và tư tưởng lấy dân làm gốc, kết quả thực
hiện quan điểm đó ở nước ta từ xưa đến nay, từ đó đề xuất một số giải pháp
nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của chính sách quần chúng nhân dân. Giúp
mọi người nhận ra được tầm quan trọng của tính quần chúng nhân dân và tinh
thần đoàn kết toàn dân, đặc biệt là trong bối cảnh xã hội hiện tại của đất nước ta.
Từ đó mỗi cá nhân sẽ tự phát huy hơn nữa sự tự giác của bản thân mình trong
tình hình đất nước hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục tiêu trên, bài tiểu luận cần giải
quyết một số nhiệm vụ sau: chỉ rõ khái niệm, vai trò, ý nghĩa của quần chúng
nhân dân và tư tưởng lấy dân làm gốc trong quá trình phát triển đất nước, đồng
thời đưa ra một số biện pháp để cải thiện và phát triển vấn đề trong xã hội hiện
nay.
2
0
0
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Quan điểm của Mác - Lênin về vai trò quần chúng nhân dân trong lịch sử và
ý nghĩa tư tưởng lấy dân làm gốc trong quá trình phát triển ở Việt Nam hiện nay
là đối tượng để nghiên cứu của bài tiểu luận này.
1.4. Cơ sở lý luận và phương pháp luận
Cơ sở lý luận: dựa trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam về vai trò của quần chúng nhân dân, thế giới quan duy vật
biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật, chủ nghĩa Mác-Lênin.
Phương pháp luận: sử dụng kết hợp các phương pháp: phân tích, tổng hợp,
phân tích, logic lịch sử, đối chiếu, so sánh,…
1.5. Bố cục đề tài
Bài tiểu luận được trình bày với nội dung gồm 6 phần chính:
- Phần 1: Khái niệm quan điểm về quần chúng
- Phần 2: Vai trò của quần chúng
- Phần 3: Ý nghĩa phương pháp luận
- Phần 4: Khái niệm và ý nghĩa “lấy dân làm gốc” trong tư tưởng Hồ Chí Minh
- Phần 5: Liên hệ thực tiễn
- Phần 6: Kết luận chung
3
0
0
QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ VAI TRÒ CỦA
QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN TRONG LỊCH SỬ.
2.1. Khái niệm quan điểm về quần chúng nhân dân
Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, quần chúng nhân dân là chủ thể chân chính sáng
tạo ra và quyết định sự vận động, phát triển của lịch sử. Quá trình vận động và
phát triển xã hội đều thông qua các hoạt động của đông đảo thành phần quần
chúng nhân dân dưới sự chỉ huy của một cá nhân hay tổ chức lãnh đạo. C.Mác
cũng từng viết: “Cố nhiên vũ khí phê phán khơng thể thay thế sự phê phán bằng
vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể đánh bại bằng lực lượng vật chất. Nhưng
mỗi khi lý luận thâm nhập vào quần chúng thì sẽ trở thành lực lượng vật chất.”
Triết học Mác-Lênin với quan điểm đúng đắn, khoa học về con người và bản
chất của con người đã lý giải một cách khoa học và chính xác về quần chúng
nhân dân, cá nhân, lãnh tụ, vĩ nhân và vai trò của họ trong sự phát triển của lịch
sử.
Khái niệm, quan niệm quần chúng nhân dân là một tập hợp đông đảo những
con người hoạt động trong một không gian và thời gian xác định, có cùng chung
lợi ích căn bản, bao gồm các thành phần, tầng lớp, giai cấp khác nhau liên kết
thành một tập thể dưới sự lãnh đạo của một cá nhân tổ chức hay đảng phái nhằm
giải quyết những vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội của một thời đại nhất định.
Quần chúng nhân dân không phải là bất biến, có giai đoạn này họ là quần chúng
nhân dân nhưng không phải trong giai đoạn khác họ cũng vậy, nó sẽ thay đổi
theo q trình lịch sử hình thành. Nói chung, khái niệm quần chúng nhân dân
được xác định bởi các lực lượng cơ bản sau bất kể giai đoạn nào:
- Thứ nhất, những người lao động, sản xuất ra của cải vật chất và các giá
trị tinh thần đóng vai trị là hạt nhân cơ bản của quần chúng nhân dân. Ví dụ: các
nơng dân trồng lúa tạo ra thực phẩm cho con người, toàn dân cả nước được nghỉ
vào mùng 10/3 âm lịch để tưởng nhớ công lao của các vua cha đã có cơng dựng
nước.
4
0
0
- Thứ hai, những bộ phận dân cư chống lại giai cấp thống trị áp bức bóc
lột đối kháng đối với nhân dân. Ví dụ: những người nơng dân bị các chủ nơ bóc
lột sức lao động, làm nhiều mà hưởng ít.
- Thứ ba, là những giai cấp, tầng lớp xã hội thúc đẩy sự tiến bộ xã hội
thông qua hoạt động trực tiếp hay gián tiếp của mình trên các lĩnh vực của đời
sống xã hội. Ví dụ: các vị lãnh đạo cùng nhân dân xây dựng và phát triển đất
nước bằng nhiều phương pháp khác nhau. Do đó chúng ta có thể thấy quần
chúng nhân dân là một phạm trù lịch sử bắt đầu biến đổi khi sự phát triển của
lịch sử xã hội loài người thay đổi.
Từ những ý trên, ta có thể khái quát được khái niệm hay quan niệm của quần
chúng nhân dân là dùng để chỉ cộng đồng xã hội bao gồm những giai cấp, tầng
lớp, lực lượng xã hội,... có cùng lợi ích căn bản, phản ánh nhu cầu phát triển của
lịch sử, liên kết với nhau lại, có tổ chức và lãnh đạo, tạo nên sức mạnh cộng
đồng nhằm giải quyết các nhiệm vụ lịch sử, thúc đẩy sự phát triển xã hội ở mỗi
thời đại, mỗi thời kỳ, mối lĩnh vực nhất định nhất định.
Bên cạnh đó, để quần chúng nhân dân có được như ngày hơm nay thì chúng
ta khơng thể khơng nhắc đến vai trị của bộ phận lãnh đạo nói chung và mỗi vị
lãnh tụ, vĩ nhân hay mỗi cá nhân nói riêng. Theo V.I. Lênin: "Trong lịch sử,
chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó khơng đào tạo
ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền
phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào". Vì thế, chúng ta cũng
cần tìm hiểu một số khái niệm về lãnh tụ, vĩ nhân và cá nhân đều có liên quan
đến khái niệm gốc là khái niệm quần chúng nhân dân như sau:
- Cá nhân: là mỗi con người cụ thể trong một cộng đồng con người lớn
được phân biệt với nhau thơng qua tính đơn nhất và phổ biến của nó. Mỗi cá
nhân đều là một bản thể xác định, không ai giống ai cho nên tùy theo khả năng
mà họ đóng góp cho quá trình sáng tạo nên lịch sử con người tuỳ mức độ. Tuy
nhiên những dấu ấn sâu sắc và đặc biệt nhất trong lịch sử thường là những thủ
lĩnh ở tầm vĩ nhân.
- Vĩ nhân: là những người có cơng lao đóng góp xuất sắc trong các lĩnh
vực của thế giới như chính trị, khoa học, kinh tế, nghệ thuật...Ăngghen: “Thật là
điều ngẫu nhiên thuần túy, mà một vĩ nhân nào đó xuất hiện ở một thời nhất
định nào đó, điều ấy là hoàn toàn ngẫu nhiên. Nhưng nếu chúng ta phế bỏ
5
0
0
người ấy đi, thì lại xuất hiện sự địi hỏi phải có một người khác thay thế và
người thay thế này sẽ xuất hiện thích hợp ít hay nhiều nhưng cuối cùng thì cũng
xuất hiện.” Ví dụ: Leonardo Da Vinci là họa sĩ, kỹ sư, nhà toán học, triết học và
tự nhiên học thiên tài người Italy; William Shakespeare là một trong những văn
hào vĩ đại nhất trong lịch sử,..
- Lãnh tụ: là những cá nhân kiệt xuất trong phong trào cách mạng của
quần chúng nhân dân. Đặc biệt là có những phẩm chất tốt đẹp như: nền tri thức
khoa học uyên bác, tài hoa; nhanh nhạy trong việc nắm bắt thời cuộc, thời cơ
của dân tộc cũng như thế giới; khả năng lãnh đạo, kêu gọi và tập hợp quần
chúng nhân dân, thống nhất suy nghĩ và hành động tác chiến trong giải quyết
các nhiệm vụ, thúc đẩy sự tiến bộ và phát triển của lịch sử; có sự mật thiết với
quần chúng nhân dân, sẵn sàng hi sinh vì lợi ích của quần chúng nhân dân.
Lênin viết: “Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền
thống trị nếu không đào tạo được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính
trị những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo.” Ví dụ:
Lênin-vĩ lãnh tụ vĩ đại của gia cấp cơng nhân và nhân dân lao đơng
ˆ trên tồn thế
giới; Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tôcˆ Viê ˆt Nam,...
=> Như vậy, ở bất kỳ nơi nào và lúc nào, nếu xuất hiện những nhiệm vụ cần
giải quyết thì tự động trong quần chúng nhân dân sẽ xuất hiện vị lãnh đạo tài ba
đáp ứng đầy đủ các yếu tố để giúp nhân dân giải quyết nhiệm vụ đó. Nhưng
khơng vì thế mà chúng ta đi thần thánh hố vai trị của cá nhân, lãnh tụ, thủ lĩnh
hay vĩ nhân mà xem thường vai trò của quần chúng nhân dân và ngược lại, vì
khi đó chúng ta sẽ khơng cách nào giải thích chính xác cái quá trình vận động và
phát triển của lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử mỗi cộng đồng xã hội nói
riêng.
2.2. Vai trị của quần chúng nhân dân
Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định quần chúng nhân dân là chủ thể sáng
tạo chân chính ra lịch sử, bởi vì một lý tưởng giải phóng xã hội, giải phóng con
người, chỉ được chứng tỏ thông qua sự tiếp nhận và hoạt động của quần chúng
nhân dân. Hơn nữa tư tưởng tự nó khơng thể làm biến đổi xã hội và phải thông
qua hành động cách mạng, thông qua hoạt động thực tiễn của quần chúng nhân
dân để biến tư tưởng, lý tưởng, ước mơ, hoài bão... Trở thành hiện thực trong
đời sống xã hội, có vai trị quyết định lịch sử của quần chúng nhân dân biểu hiện
ở 3 nội dung cơ bản:
6
0
0
- Thứ nhất, quần chúng nhân dân là lực lượng sản xuất căn bản của xã
hội, chính họ tạo ra của cải vật chất, là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã
hội. Chúng ta thấy rằng, con người muốn tồn tại thì phải có các điều kiện vật
chất cần thiết phải thỏa mãn những cái nhu cầu vật chất tối thiểu đó là ăn, ở, đi
lại và một số thứ khác. Muốn thỏa mãn được những nhu cầu vật chất ấy, người
ta cần phải sản xuất ra nó đó chính là sản xuất vật chất. Lực lượng sản xuất cơ
bản là đông đảo quần chúng nhân dân lao động bao gồm cả lao động chân tay và
lao động trí thức. Điều đó khẳng định rằng, hoạt động sản xuất của quần chúng
nhân dân là hoàn cảnh cơ bản để quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội.
- Thứ hai, quần chúng nhân dân là động lực cơ bản của mỗi cuộc cách
mạng xã hội. Lịch sử đã cho ta thấy rằng khơng có cuộc chuyển biến cách mạng
nào mà không là hoạt động của đông đảo quần chúng nhân dân, họ là lực lượng
cơ bản của cách mạng đóng vai trị quyết định thắng lợi của mỗi cuộc cách
mạng trong lịch sử, trong các cuộc cách mạng chuyển biến từ hình thái kinh tế
xã hội này sang hình thái kinh tế xã hội khác, nhân dân, quần chúng nhân dân
lao động là lực lượng tham gia đông đảo nhất. Cách mạng, cuộc cách mạng là
do quần chúng nhân dân, động lực chủ yếu u vẫn là quần chủ nhân dân. Suy đến
cùng chúng ta thấy rằng nguyên nhân của mỗi cuộc cách mạng xã hội là bắt
nguồn từ sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến mâu thuẫn với quan hệ
sản xuất, nghĩa là bắt đầu từ hoạt động sản xuất vật chất của quần chúng nhân
dân, do đó nhân dân lao động là chủ thể của các quá trình kinh tế chính trị xã
hội và họ đóng vai trị là động lực cơ bản của mỗi cuộc cách mạng xã hội.
- Thứ ba, quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra những giá trị văn
hóa, tinh thần, quần chúng nhân dân đóng góp cơng sức to lớn trong sự phát
triển của khoa học , nghệ thuật, văn học... Đồng thời áp dụng những cái thành
tựu đã có vào thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội, những sáng tạo về văn học,
nghệ thuật, khoa học... của nhân dân vừa là cội nguồn, vừa là điều kiện để thúc
đẩy sự phát triển của nền văn hóa tinh thần trong mọi thời đại. Hoạt động của
quần chúng nhân dân từ trong thực tế là nguồn động lực thúc đẩy không ngừng
cho mọi sáng tạo tinh thần trong đời sống xã hội. Hoạt động của quần chúng
nhân dân từ thực tiễn là hoạt động cảm hứng vô tận cho buổi sáng tạo tinh thần
trong đời sống xã hội, mặt khác các giá trị văn hóa tinh thần chỉ có thể trường
7
0
0
tồn khi được đông đảo quần chúng nhân dân chấp nhận và truyền bá rộng rãi và
trở thành những giá trị phổ biến.
2.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Trong quan điểm của học thuyết Mác - Lê nin cũng như tư tưởng của Hồ Chí
Minh, quần chúng nhân dân khơng chỉ là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội
mà họ cũng chính là người quyết định vận mệnh của lịch sử, quyết định sự vận
động phát triển của lịch sử, có sứ mệnh phá bỏ cái cũ, dựng lên cái mới. Cịn
cách mạng chính là sự nghiệp của tồn thể quần chúng nhân dân dưới sự lãnh
đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Hơn nữa, công tác vận động quần chúng nhân
dân phải bắt nguồn từ nhu cầu cấp thiết của sự nghiệp đấu tranh nhằm tạo nên sự
thống nhất giữa nhân dân với đường lối của Đảng. Lênin xem vai trò của nhân
dân là nguyên tắc bất di bất dịch đối với việc xây dựng chính Đảng kiểu mới của
giai cấp công nhân. Người cũng khẳng định Đảng chân chính mới làm trịn được
sứ mệnh lịch sử của mình khi gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân và dẫn
dắt quần chúng đi lên. Quan điểm ấy đem lại phương pháp luận khoa học trong
việc nghiên cứu cũng như là nhận định lịch sử từ đó có hướng đúng để nghiên
cứu, đánh giá đúng vai trò của quần chúng nhân dân, thủ lĩnh, vi nhân, lãnh tụ
trong cộng đồng xã hội. Ngồi ra, chúng cịn cung cấp phương pháp luận khoa
học để các đảng cộng sản phân tích đúng các lực lượng xã hội, tổ chức xây dựng
lực lượng quần chúng nhân dân trong công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
8
0
0
Ý NGHĨA CỦA TƯ TƯỞNG “LẤY DÂN LÀM GỐC” TRONG QUÁ
TRÌNH PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
3.1. Khái niệm “Lấy dân làm gốc”
Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mac-lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
kế thừa, vận dụng một cách sáng tạo về vai trò của quần chúng nhân dân, hiểu
được tầm quan trọng trong việc kết hợp giữa nhân dân và Đảng. Và “ lấy dân
làm gốc” được Người xem là chìa khóa của mọi chiến thắng thần kì của dân tộc
ta từ xưa đến nay. Lời dạy của bác về vấn đề này rằng:” Trong bầu trời khơng gì
q bằng nhân dân, trong Thế giới khơng gì mạnh bằng lực lượng đồn kết của
nhân dân”.
Là người sinh ra từ nhân dân, sống và hoạt động cách mạng trong lòng dân,
di sản mà Hồ Chủ tịch đã để lại chính là tư tưởng “ Lấy dân làm gốc” nghĩa là sẽ
dựa vào dân, tin vào sức mạng, ý chí, sức sáng tạo, sự kiên cường của nhân dân
và không ngừng quan tâm đến việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân vì đó là điều kiện để tạo nên sức mạnh đoàn kết, tăng tính gắn bó giữa
Đảng và nhân dân. Đó chính là nền tảng của công cuộc đổi mới và phát triển của
Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng thực hiện.
9
0
0
Điển hình như tư tưởng “ lấy dân làm gốc” của Bác luôn được Đảng
ta quan tâm trong các cuộc đại hội. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn 35 năm đổi
mới, 10 năm thực hiện chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020 và 5
năm thực hiện nghị quyết đại hội XII. Trong đại hội XIII của Đảng đã rút ra 5
bài học hết sức quan trọng trong đó có nhấn mạnh quan điểm phái lấy dân làm
gốc cịn được tiếp tục phát triển, bổ sung để phát huy quyền làm chủ của nhân
dân cùng với thực hiện “ Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” thì trong đại
hội đã coi trong thêm vấn đề “ dân giám sát, dân thụ hưởng”. Điều này đã làm
khơi dậy sức dân, để dân phát huy quyền làm chủ của mình.
3.2. Ý nghĩa của tư tưởng “Lấy dân làm gốc”
Đây là bài học quí báu được đúc kết trong suốt chiều dài hàng nghìn năm
lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, có Đảng đứng ra lãnh đạo, chỉ
đường cách mạng mới thành cơng và thành phần góp phần to lớn, cội nguồn tạo
sức mạnh để quyết định mọi sự thắng lợi đó chính là nhân dân, chỉ có dân mới là
người có thể thực hiện được các mục tiêu, kế hoạch của Đảng đã đề ra. Khơng
có dân sẽ khơng bao giờ có lực lượng cách mạng và phong trào cách mạng.
Ngồi ra, đó cịn là điều giúp cho Đảng đề ra hướng có thể quán triệt sâu sắc
việc lãnh đạo sao cho khoa học, hợp lí và tồn diện vì “ Lấy dân làm gốc” là kim
chỉ nam cho mọi thắng lợi cách mạng của Đảng vì thế cho dù đang ở hồn cảnh
nào, thời bình hay thời chiến thì việc đảm bảo cuộc sống của dân là vấn đề hết
sức quan trọng vì nó sẽ củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng. Đảng chăm lo
tốt cho nhân dân thì nhân dân sẽ trung thành với Đảng, với sự nghiệp Cách
mạng của dân tộc Việt Nam.
Chúng có thể được xem như truyền thống bao đời của ông cha ta trong sự
nghiệp Cách mạng cũng như trong đời sống, đồng thời thể hiện tinh thần đoàn
kết của dân tộc, đặc biệt là sự gắn kết giữa Đảng với nhân dân và ngược lại.
Ý nghĩa còn hẳng định tư tưởng” lấy dân làm gốc” của chủ tịch Hồ Chí Minh
ln đúng ở mọi hồn cảnh lịch sử, khẳng định nhân dân là những người chủ
10
0
0
của đất nước, đất nước sẽ dựa vào dân để phát triển từ đó có thể sánh vai với
cường quốc năm châu như Bác Hồ đã dạy.
Quay ngược về những năm tháng xưa kia, đồng bào ta đã trải qua biết bao
thời kỳ chiến tranh với một lòng quyết chiến quyết thắng cho Tổ quốc, nước
nhà. Ta có thể kể đến như cuộc Cách mạng tháng tám năm 1945- cuộc cách
mạng hết sức đặc biệt trong lịch sử đâu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc
Việt Nam. 76 năm đã trôi qua nhưng thắng lợi cuộc CMT8 đã để lại cho Đảng
và nhân dân nhiều bài học hết sức q giá, trong đó bài học “ lấy dân làm gốc:
được vận dụng rất hiệu quả và thành công trong suốt cuộc đấu tranh. Bên cạnh
đó, tháng 5/1941, trước những biến động hết sức to lớn, mạnh mẽ của tình hình
trong nước và thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định chuyển hướng chỉ
đạo chiến lược của Đảng, khẳng định rằng giải phóng dân tộc là là nhiệm vụ
trước hết, trên hết của Cách mạng Việt Nam, để thực hiện miêu tiêu chiến lược
quan trọng đó Đảng đã thành lập Việt Nam độc lập Đồng minh hay gọi tắt là
Việt Minh, nhằm tập hợp đoàn kết rộng rãi các giai cấp, các dân tộc, tôn giáo,
cái giới cùng tham gia mặt trận. Vào ngày 19/5/1941, mặt trận Việt Minh ra đời
và đó chính là sự cụ thể hóa quan điểm Cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân,
vì dân: “ Nước lấy dân làm gốc”. Nhờ vậy mà từ năm 1941 đến 1945 lực lượng
Việt Minh lớn mạnh không ngừng, tập hợp được khoảng 20 triệu dân đặc biệt
trong các tổ chức tham gia Cách mạng .
Khi thời cơ đã đến, hàng triệu nhân dân ở Hà Nội, Huế, Sài gịn sục sơi khí
thế, ai có gậy mang gậy, ai có vũ khí đem vũ khí, họ cùng nhau xuống đường
biểu tình và nhanh chống biến thành cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền,
chỉ trong 10 ngày từ 19/8 đến 28/8 hầu hết các phong trào trong cả nước giành
được chính quyền về tay nhân dân.
Sau CMT8 thành cơng chủ tịch Hồ Chí Minh nói “ Nhất là vì lực lượng của
tồn dân đồn kết. Tất cả các dân tộc, các giai cấp, các địa phương, các tôn giáo
đều nổi dậy theo lá cờ Việt Minh để tranh lại quyền độc lập cho Tổ Quốc. Lực
lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết, không ai chiến thắng được lực lượng
đó”
11
0
0
3.3. Liên hệ thực tiễn từ xưa cho đến ngày nay
Từ khi ra đời cho đến nay, Đảng Cộng sản ta luôn coi trọng lực lượng quần
chúng nhân dân trong mọi giai đoạn phát triển của Việt Nam. Dựa trên quan
điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng của Bác, Đảng ta ln đề cao vai
trị cũng như khả năng và sức mạnh của quần chúng nhân dân rằng cịn dân thì
cịn nước, được lịng dân thì được tất cả. Theo Bác: “Trong bầu trời khơng gì
q báu bằng Nhân dân. Trong thế giới khơng gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết
của nhân dân”. Nhà quân sự lỗi lạc, đại văn hào Nguyễn Trãi cũng từng nói
rằng: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân, thuận lịng dân thì sống,
nghịch lịng dân thì chết”. Nhân dân là yếu tố quyết định đến những thắng lợi
của đất nước trong lịch sử và là yếu tố tất yếu để phát triển đất nước vững mạnh
trong tương lai. Nhận thức được tầm quan trọng đó, Đảng ta đã vận dụng sâu sắc
quan niệm và tư tưởng ấy để xây dựng và bảo vệ đất nước.
Trong lịch sử Việt Nam ta, những chiến thắng hào hùng của Hai Bà Trưng,
Bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ... cũng chính là
chiến thắng của quần chúng nhân dân. Nhưng vì dưới chế độ độ phong kiến, vai
trị của quần chúng chưa được thấy rõ, và chính bản thân quần chúng cũng
khơng nhận thức được sức mạnh của mình. Qua sự thay đổi của các triều đại mà
chính quần chúng nhân dân là người quyết định những biến đổi ấy, Bác đã
khẳng định: "Dân trí mạnh thì qn lính nào, súng ống nào cũng không chống
nổi", "Sự đồng tâm của đồng bào đúc thành một bức tường đồng xung quanh Tổ
quốc. Dù địch hung tàn xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó,
chúng cũng phải thất bại".
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, quá trình xây dựng chủ nghĩa
xã hội, Đảng ta dưới sự lãnh đạo của Bác luôn luôn chú trọng đến vấn đề tuyên
truyền, vận động nhân dân ủng hộ, tham gia cách mạng và việc tận dụng sức
mạnh của khối đại đồn kết tồn dân tộc góp phần tạo nên những thắng lợi tự
hào cho cách mạng. Đặt biệt là chiến thắng hào hùng của cách mạng Tháng Tám
năm 1945. Sự thành cơng đó đã trở thành một sự kiện và là một biến cố lịch sử
long trời lở đất không chỉ ở Việt Nam mà cịn trên tồn thế giới. Để có được sự
thành cơng đó, ngồi sự lãnh đạo tài ba , tinh tế, nghệ thuật, kiên quyết của
Đảng Cộng sản Việt Nam - đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh cịn có một nhân
12
0
0
tố quan trọng, đó là tồn thể Nhân dân Việt Nam đã nghe và tin tưởng theo
Đảng, trở thành lực lượng quần chúng có sức mạnh vơ song, đứng lên giành
chính quyền từ tay thực dân, đế quốc. Trong thời điểm ấy , Đảng ta mới chỉ
khoảng 5.000 đảng viên và chưa thực sự đứng ra công khai lãnh đạo mà thông
qua phong trào Việt Minh do Đảng ta lập ra, với tư tưởng “lấy dân làm gốc”, đã
huy động toàn thể nhân dân Việt Nam đứng lên theo Đảng giành độc lập, tự do,
lập ra nhà nước vô sản đầu tiên ở Đông Nam Á - Nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa (nay là Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam), chấm dứt chế độ quân
chủ chuyên chế tồn tại mấy ngàn năm trong lịch sử đất nước. Để thực hiện
nhiệm vụ vô cùng to lớn và khó khăn ấy chắc hẳn Bác Hồ đã phải thấy hết và
khai thác triệt để sức mạnh của nhân dân.
Các Đại hội Đảng qua các thời kì đều khẳng định bài học: Đổi mới phải
luôn quán triệt tư tưởng “Lấy dân làm gốc”; phải thực sự dựa vào dân, vì lợi ích
của dân. Đảng ta muốn đồng hành và lãnh đạo dân thì Đảng phải tin vào dân và
phải được dân tin. Thí dụ như:
- Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ VI (1986) – Đại hội mở đầu cho
cơng cuộc đổi mới tồn diện cho đất nước, Đại hội đã rút ra các bài học kinh
nghiệm, trong đó bài học thứ nhất là: “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng
phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ
của nhân dân lao động” ; “Mọi chủ trương, chính sách của Đảng phải xuất phát
từ lợi ích, nguyện vọng và khả năng của nhân dân lao động, phải khơi dậy được
sự đồng tình, hưởng ứng của quần chúng. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần
chúng, đi ngược lại lợi ích của nhân dân là làm suy yếu sức mạnh của Đảng”.
Đường lối đổi mới được thông qua tại Đại hội VI được bắt nguồn và hình thành
từ chính sáng kiến, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân ở các địa phương, đó
là một minh chứng rất rõ về vai trị của quần chúng nhân dân trong việc hình
thành chủ trương, đường lối của Đảng ta.
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991), trong Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng đã nêu
lên các bài học kinh nghiệm, thì bài học thứ hai đó là: “Sự nghiệp cách mạng là
của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Chính Nhân dân là người làm nên
thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và
13
0
0
nguyện vọng chân chính của Nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật
thiết với Nhân dân. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời Nhân dân sẽ đưa đến những tổn
thất không lường được đối với vận mệnh của đất nước”.
- Trong Đại hội VII, ở các kỳ Đại hội khác Đảng lãnh đạo tiến hành công
cuộc đổi mới, vấn đề “lấy dân làm gốc”: lo cho đời sống Nhân dân, dựa vào
Nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi
nguồn lực của Nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tiếp tục được
Đảng ta khẳng định là một trong những bài học kinh nghiệm và là phương châm
trong công tác lãnh đạo của Đảng.
- Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, trong Báo cáo, khi tổng kết
thực tiễn 35 năm đổi mới, 10 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội
2011-2020 và 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, Đảng đã rút ra 5 bài học
hết sức quan trọng, trong đó tiếp tục khẳng định bài học lấy dân là gốc: “Trong
mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm
“dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân
dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra,
dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Thực tiễn 35 năm đất nước tiến hành công cuộc đổi mới cho thấy, với quan
điểm “lấy dân làm gốc”, Đảng và Nhà nước đã có nhiều nghị quyết, văn bản
mang tính chiến lược. Trong đó có nhiều Nghị quyết đã được đơng đảo các tầng
lớp Nhân dân hưởng ứng như: Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII về “Phát huy
quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh” (6/1997); Chỉ thị 30 về “Xây dựng và
thực hiện Quy chế dân chủ ở cở sở” (18/2/1998); Kết luận 120 về “Tiếp tục đẩy
mạnh, nâng cao chất lượng hiệu quả việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân
chủ ở cơ sở” (7/1/2016);... Cùng với các Nghị quyết của Đảng, Hiến pháp năm
2013 cùng khẳng định vai trò của Nhân dân: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”;
“Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn
trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu
14
0
0
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống
ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển tồn diện”. Đặc biệt là lần đầu
tiên trong Hiến pháp, tại Điều 4, khi nói về Đảng Cộng sản Việt Nam, điểm 2 có
viết rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ
Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về
những quyết định của mình”. Vậy là khơng chỉ lãnh đạo Nhân dân, phục vụ
Nhân dân, Đảng còn phải chịu sự giám sát của Nhân dân và chịu trách nhiệm
trước Nhân dân.
Đặc biệt, Đại hội XIII của Đảng diễn ra trong hoàn cảnh vô cùng đăcˆ biêtˆ
khi cả nước vừa mới trải qua mơtˆ năm 2020 đầy khó khăn do thiên tai, dịch
bê ˆnh. Đại dịch COVID 19 bùng nổ đã ảnh hưởng không nhỏ đến mọi phương
diện của đời sống kinh tế và xã hội toàn cầu. Song, trong bối cảnh đó, bằng nỗ
lực và ý chí quyết tâm cao, phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc,
sự tham gia đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh
đạo của Đảng, sự đồng lòng ủng hộ của nhân dân, cả nước chúng ta dẫ dần dần
kiểm sốt được thành cơng đại dịch COVID-19; từng bước phục hồi sản xuất
kinh doanh; ổn định đời sống, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với
Đảng, Nhà nước; khẳng định bản lĩnh, ý chí, truyền thống tốt đẹp của Nhân dân
ta, dân tơ ˆc ta.
Đảng đã lãnh đạo các tổ chức hệ thống chính trị, thực hiện nhiều hình thức
để tăng sức mạnh đồn kết, sự đóng góp của Nhân dân và đồng thời không
ngừng chăm lo mọi mặt đời sống của Nhân dân. Luôn lấy ý kiến của Nhân dân
cả nước vào dự thảo Cương lĩnh, văn kiện Đại hội Đảng, dự thảo sửa đổi Hiến
pháp, dự thảo các đạo luật đã phát huy trí tuệ, tâm huyết, ý niệm của nhân dân
để xây dựng, hoàn thiện các văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước. Chính
vì vậy, mặc dù cơng cuộc đổi mới tiến hành trong bối cảnh tình hình với nhiều
khó khăn thử thách, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng và nhờ có Nhân dân tham
gia, Nhân dân đồng tình hưởng ứng đã tạo thành một sức mạnh tổng hợp của sự
đoàn kết toàn Đảng, toàn dân giúp cho đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử
15
0
0
thách để đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi
mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên không thể không thừa nhận rằng trong thực tế hiện nay, nước ta
còn gặp nhiều vấn đề ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân
dân, tới sức mạnh khối đại đồn kết tồn dân tộc. Những vấn đề đó có thể là do
phân hóa giàu nghèo, sự phân tầng xã hội, tệ quan liêu, tham nhũng, xâm phạm
quyền lợi... đang gây bức xúc trong dư luận. Biểu hiện suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng . Việc thực hiện quy
chế dân chủ cơ sở vẫn còn nhiều hạn chế; phương châm “dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra” chủ yếu mới dừng ở “dân làm”. Bên cạnh đó, các thế lực thù
địch luôn châm chọc, khơi nguồn làm bất ổn lịng dân vẫn ln tấn cơng...
Đây chính là những thách thức đang đặt ra đối với vai trò lãnh đạo của Đảng
và sự tồn vong của chế độ, đòi hỏi các cấp ủy, chính quyền và tồn thể cán bộ,
đảng viên phải nhận thức rõ và nêu cao tinh thần trách nhiệm trong quán triệt
sâu sắc các quan điểm chỉ đạo của Đảng tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
XIII, trong đó có quan điểm “lấy dân làm gốc”.
Như thế, cần tập trung giải quyết bức xúc, nguyện vọng chính đáng của
Nhân dân liên quan đến lợi ích, đời sống của Nhân dân; chống tham nhũng, lãng
phí; xử lý nghiêm những tiêu cực tồn tại trong xã hội… Có như vậy, chắc chắn
mới tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ, tích cực và tiến bộ trong tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội. Bác đã chỉ rõ cho Đảng ta: “Theo đúng đường lối nhân
dân và 6 điều là:
1. Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết;
2. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân;
3. Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ.
4. Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh
nhân dân phê bình mình;
16
0
0
5. Sẵn sàng học hỏi nhân dân;
6. Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi
theo”.
KẾT LUẬN
Qua những phân tích trên, chúng ta đã được thấy rõ vai trị to lớn của tồn
thể quần chúng Nhân dân dựa trên quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư
tưởng “lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhận thức được việc đánh
giá đúng vai trò của quần chúng Nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa
là bí quyết thắng lợi của mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước ta. Xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần của Nhân dân và do Nhân dân xây dựng. Nghĩa là phải phát huy tinh
thần làm chủ, sáng tạo của dân; Nhân dân phải được tham gia một cách trực tiếp
vào công việc quản lý, sản xuất và đời sống của mình; phải tôn trọng, lắng nghe
17
0
0
ý kiến của dân thơng qua hệ thống chính trị ở cơ sở. Bác Hồ đã nhắc nhở: “Dân
là quý nhất, là quan trọng hơn hết, là tối thượng”, Bác khẳng định:
“Dễ mười lần khơng dân cũng chịu
Khó trăm lần dân liệu cũng xong”.
Vì vậy, càng phải củng cố vững chắc lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, tăng
cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với
Nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với Nhân dân, được lịng
dân. Đặc biệt hơn là trong tình hình dịch bệnh hiện nay, giữ vững lịng tin và
đồn kết tồn dân tộc là điều vơ cùng cấp thiết mà Đảng và Nhà nước ta chắc
chắn phải quan tâm hàng đầu. Toàn thể quần chúng Nhân dân cũng như Đảng và
Nhà nước phải gắng chặt với nhau cùng đấu tranh với dịch bệnh, vượt qua thời
kì khó khăn này.
18
0
0
Tài liệu tham khảo
1. Hồ Chí Minh: Tồn tập, Sđd, t.7, tr.270, 177, 176.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội,
2006, tập 47, tr. 362.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội,
2006, tập 47, tr. 363
4. />5. />
19
0
0