Tải bản đầy đủ (.pdf) (32 trang)

(TIỂU LUẬN) khái niệm hình thức pháp luật phần 2 các loại nguồn pháp luật phần 3 các loại nguồn của pháp luật việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (532.57 KB, 32 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA LUẬT

BÀI TẬP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Đề tài

: Hình thức pháp luật

Sinh viên thực hiện

: Ngô Thị Thanh Xuân, Lê Thị Thu Hà,
Đào Tùng Lâm

Lớp

: Tài chính doanh nghiệp 63C

Giảng viên giảng dạy

: Th.S Phạm Đức Chung

Hà Nội, tháng 11 năm 2021


Lời nói đầu
Trong xã hội ngày nay có rất nhiều mối quan hệ điều chỉnh khác nhau như đạo đức,
phong tục tập qn, thói quen, hương ước,… Mỗi hình thức mang đến ưu nhược điểm
riêng. Xã hội ngày càng phát triển thì cuộc sống con người ngày càng có nhiều vấn đề
cần được quan tâm hơn và những quan hệ điều chỉnh trên khơng thể bao qt tồn diện
xã hội. Do đó, Pháp luật ra đời có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia.


Pháp luật chính là hệ thống quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và
bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của nhà
nước. Để thực hiện được điều này, pháp luật được thể hiện thơng qua nhiều hình thức,
phát triển qua từng giai đoạn.
Hình thức pháp luật cũng chính là đề tài mà nhóm 5 chúng em muốn trình bày tới
thầy. Bài trình bày của chúng em gồm 3 nội dung chính như sau:
Phần 1. Khái niệm Hình thức pháp luật
Phần 2. Các loại nguồn pháp luật
Phần 3. Các loại nguồn của pháp luật Việt Nam
Do đây là bài nghiên cứu đầu tiên của chúng em cũng như kiến thức cịn hạn chế nên
bài làm có thể cịn nhiều sai sót. Chúng em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của
thầy.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!

1


Mục lục
Lời nói đầu.............................................................................................................................................1
Mục lục...................................................................................................................................................2
Danh sách bảng biểu.............................................................................................................................3
Nội dung.................................................................................................................................................3
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT..............................................................................................................3
1.1.

Hình thức pháp luật.............................................................................................................3

1.2.

Các loại nguồn pháp luật.....................................................................................................4


1.3.

Nguồn của pháp luật Việt Nam............................................................................................4

1.3.1.

Văn bản quy phạm pháp luật.......................................................................................4

1.3.1.1. Khái niệm................................................................................................................4
1.3.1.2. Đặc điểm..................................................................................................................4
1.3.1.3. Nguyên tắc xây dựng và ban hành...........................................................................6
1.3.1.4. Hệ thống VBQPPL của Việt Nam............................................................................7
1.3.1.5. Số, ký hiệu của VBQPPL.......................................................................................13
1.3.1.6. Hiệu lực của VBQPPL...........................................................................................14
1.3.1.7. Nguyên tắc áp dụng VBQPPL...............................................................................17
1.3.1.8. So sánh VBQPPL với văn bản áp dụng pháp luật..................................................18
1.3.2.

Tập quán pháp...........................................................................................................19

1.3.2.1. Khái niệm..............................................................................................................19
1.3.2.2. Vai trò và ý nghĩa...................................................................................................20
1.3.2.3. Cách thức thừa nhận..............................................................................................20
1.3.3.

Tiền lệ pháp...............................................................................................................21

1.3.3.1. Khái niệm..............................................................................................................21
1.3.3.2. Cơ quan ban hành..................................................................................................21

1.3.3.3. Phân loại................................................................................................................21
1.3.3.4. Nguồn gốc.............................................................................................................21
1.3.3.5. Ý nghĩa..................................................................................................................21
1.3.3.6. Tiêu chuẩn để văn bản trở thành tiền lệ pháp.........................................................22
1.3.4.

Điều ước quốc tế........................................................................................................23

1.3.4.1. Khái niệm..............................................................................................................23
1.3.4.2. Thẩm quyền kí.......................................................................................................23
1.3.4.3. Phân loại................................................................................................................23
2


1.3.4.4. Hình thức...............................................................................................................24
1.3.4.5. Khái qt quy trình kí kết điều ước quốc tế...........................................................24
1.3.4.6. Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia.....................................25
1.3.5.

Lẽ phải, lẽ công bằng.................................................................................................26

1.3.6.

Hợp đồng...................................................................................................................27

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN.............................................................................................................27
2.1

Tập quán pháp...................................................................................................................27


2.2

Tiền lệ pháp.......................................................................................................................27

2.3

Lẽ phải lẽ công bằng..........................................................................................................28

2.4.

Điều ước quốc tế................................................................................................................28

Kết luận................................................................................................................................................29
Tài liệu tham khảo..............................................................................................................................30
Phụ lục.................................................................................................................................................30
Phân công nhiệm vụ............................................................................................................................30

Danh sách bảng biểu
Bảng so sánh sự khác nhau của văn bản quy phạm pháp luật với văn bản áp
dụng pháp luật
2.
Bảng thống kê một số tên tên viết tắt của một số loại văn bản
1.

Nội dung
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT
1.1. Hình thức pháp luật
Hình thức pháp luật là sự biểu hiện ra bên ngoài của pháp luật, phương thức tồn tại
thực tế của Pháp luật và là cách thức thể hiện ý chí của giai cấp thống trị.
Hình thức pháp luật gồm có hai dạng là hình thức bên trong và hình thức bên ngồi:

Trước hết là hình thức bên trong của pháp luật là cơ cấu bên trong của nó, là mối liên
hệ, sự liên kết giữa các yếu tố cấu thành pháp luật. Pháp luật là hệ thống quy tắc ứng
xử của con người trong đời sống hàng ngày được hình thành thơng qua nhà nước, do
vậy hình thức bên trong của pháp luật chính là mối liên hệ, sự liên kết giữa các quy tắc
xử sự đó. Trong khoa học pháp lí, hình thức bên trong của pháp luật được đề cập bằng
khái niệm hình thức cấu trúc của pháp luật.
3


Cịn về hình thức bên ngồi của pháp luật là dáng vẻ bề ngoài, là dạng (phương thức)
tồn tại của nó. Dựa vào hình thức của pháp luật, người ta có thể thấy pháp luật tồn tại
trong thực tế dưới dạng nào, nằm ở đâu. Hình thức bên ngồi của pháp luật cũng được
tiếp cận trong mối tương quan với nội dung của nó. Theo cách hiểu này, nội dung của
pháp luật là toàn bộ những yếu tố tạo nên pháp luật, cịn hình thức của pháp luật được
hiểu là yếu tố chứa đựng hoặc thể hiện nội dung. Thực tiễn lịch sử cho thấy, pháp luật
chủ yếu được thể hiện dưới những hình thức là tập quán pháp, tiền lệ pháp và văn bản
quy phạm pháp luật.
1.2. Các loại nguồn pháp luật
Trên thế giới, nguồn của pháp luật khá phong phú, bao gồm: văn bản quy phạm pháp
luật; tập quán pháp; tiền lệ pháp; đường lối, chính sách của lực lượng cầm quyền; các
quan điểm, tư tưởng, học thuyết pháp lý, điều ước quốc tế; các quan niệm, chuẩn mực
đạo đức xã hội; lệ làng, hương ước của các cộng đồng dân cư, tín điều tơn giáo; các
hợp đồng dân sự, thương mại,…Trong đó văn bản quy phạm pháp luật, tập quán pháp
và tiền lệ pháp là những nguồn cơ bản, còn các nguồn khác là nguồn bổ sung, thay thế
khi khơng có loại nguồn cơ bản.
1.3. Nguồn của pháp luật Việt Nam
1.3.1. Văn bản quy phạm pháp luật
1.3.1.1. Khái niệm
VBQPPL tuy xuất hiện muộn hơn tập quán pháp và tiền lệ pháp nhưng càng ngày
cảng chiếm vai trò quan trọng. VBQPPL là hình thức pháp luật do các cơ quan nhà

nước ban hành dưới hình thức văn bản (pháp luật thành văn). VBQPPL là hình thức
pháp luật tiến bộ nhất, nó có khả năng phản ánh rõ nét nhất nội dung và các dấu hiệu
thuộc bản chất của pháp luật. tức là phản ánh rõ tính giai cấp, tính quy phạm phổ biến,
tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức và có hiệu lực cao trong việc điều chỉnh các
quan hệ xã hội. VBQPPL với các hình thức cụ thể như Hiến pháp, luật, sắc lệnh, v.v...
được sử dụng rộng rãi trong các nhà nước tư sản. Trong các nhà nước xã hội chủ nghĩa,
văn bản quy phạm pháp luật là hình thức pháp luật quan trọng, nếu khơng nói là hình
thức pháp luật duy nhất. Đối với Nhà nước Việt Nam, hình thức pháp luật là VBQPPL.
Theo Điều 2 Luật ban hình văn bản quy phạm pháp luật 2015:
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành
theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này.

4


Văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng được ban hành khơng đúng thẩm quyền,
hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này thì khơng phải là văn bản quy phạm
pháp luật.
1.3.1.2. Đặc điểm
Qua quá trình tìm hiểu ở các nguồn tin, VBQPPL mang một số đặc điểm sau đây:
Đầu tiên là VBQPPL do cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc cá nhân có thẩm
quyền ban hành hoặc phối hợp ban hành, bao gồm: Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc
hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tồ án
nhân dân tối cao, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, hội
đồng nhân dân các cấp, uỷ ban nhân dân các cấp. Ngoài ra, theo quy định của pháp luật
văn bản quy phạm pháp luật còn được ban hành bởi Đoàn Chủ tịch ủy ban trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ,
các chủ thể phối hợp với nhau để ban hành thông tư liên tịch (Theo điều 4 Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020).

Thứ hai, VBQPPL được ban hành theo hình thức do pháp luật quy định . Văn bản quy
phạm pháp luật được ban hành theo hình thức có nghĩa là đúng tên loại văn bản và
đúng thể thức, kĩ thuật trình bày. Theo quy định của pháp luật (Luật Ban hành văn bản
quy phạm pháp luật năm 2015, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành
văn bản quy phạm pháp luật năm 2020 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày
14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điêu và biện pháp thi hành Luật Ban
hành văn bản quy phạm pháp luật), VBQPPL phải có đủ và trình bày đúng những yếu
tố như: quốc hiệu; tiêu ngữ; tên cơ quan ban hành; số, kí hiệu văn bản; địa danh, thời
gian ban hành; tên vãn bản; trích yếu nội dung; chữ kí; nơi nhận.
Thứ ba, trình tự, thủ tục ban hành tuân theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy
phạm pháp luật năm 2015. VBQPPL được ban hành theo trình tự: lập chương trình xây
dựng văn bản; soạn thảo; lấy ý kiến đóng góp; thấm định, thẩm ưa; trình, thơng qua, kí
chứng thực và ban hành.
Thứ tư, nội dung VBQPPL gồm những quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung (quy
phạm pháp luật). Những quy tắc xử sự này là những khuôn mẫu của hành vi mà mọi
thành viên xã hội hoặc các cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức có liên quan phải xử sự
theo.
Thứ năm, VBQPPL được Nhà nước bảo đảm thực hiện . Nhà nước sử dụng mọi biện
pháp về kinh tế, chính trị, tư tưởng, đạo đức, văn hóa, pháp luật, trong đó có cả biện
5


pháp cưỡng chế nhà nước mang tính trừng phạt, để bảo đảm thực hiện các VBQPPL
mà mình đã ban hành. Biện pháp cưỡng chế có tính trừng phạt chỉ được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền áp dụng khi có vi phạm pháp luật xảy ra và việc áp dụng đó cũng
dựa trên cơ sở nhằm giáo dục, thuyết phục, cải tạo.
Thứ sáu, VBQPPL được thực hiện nhiều lần trong thực tế đời sống, được áp dụng khi
có sự kiện pháp lý xảy ra; được tất cả thành viên xã hội hoặc cá nhân, cơ quan nhà
nước, tổ chức có liên quan thực hiện nhiều lần cho tới khi nó bị đình chỉ hoặc bị sửa
đổi hoặc bị bãi bỏ một phần hay toàn bộ bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Thứ bảy, hiệu lực của VBQPPL là sự điều chỉnh có phạm vi (giới hạn) nhất định về
thời gian, khơng gian và đối tượng điều chỉnh. Tính bắt buộc chung đã ảnh hưởng đến
hiệu lực pháp lý của VBQPPL. VBQPPL có hiệu lực pháp lý trong phạm vi cả nước
hoặc từng địa phương tùy thuộc vào thẩm quyền của cơ quan ban hành cũng như nội
dung của mỗi VBQPPL. Thông thường, VBQPPL do cơ quan nhà nước ở trung ương
ban hành có hiệu lực pháp lý trên phạm vi cả nước, VBQPPL do cơ quan nhà nước ở
địa phương ban hành có hiệu lực pháp lý trên phạm vi địa phương đó. Ngồi ra, có
trường hợp VBQPPL do cơ quan nhà nước trung ương ban hành nhưng có hiệu lực
pháp lý trên phạm vi lãnh thổ địa phương xuất phát từ tính đặc thù của địa phương đã
quyết định tới nội dung VBQPPL. Dấu hiệu này là cơ sở để phân biệt với những văn
bản có nội dung đặt ra quy tắc xử sự nội bộ trong cơ quan nhà nước. Hiện nay, khá
nhiều văn bản như quy chế, điều lệ, quy định, nội quy... có nội dung là quy tắc xử sự
nội bộ được ban hành kèm theo hình thức văn bản quyết định, nghị quyết. Những quy
tắc xử sự được đặt ra để điều chỉnh hoạt động trong nội bộ một cơ quan nhà nước
không phải là quy phạm pháp luật vì các quy tắc xử sự đó khơng có tính bắt buộc
chung mà chỉ là văn bản được ban hành để điều hành quản lý nội bộ, chúng có tính
chất bắt buộc nhưng chỉ đối với các đơn vị trực thuộc, nhân viên của cơ quan đó.
1.3.1.3. Nguyên tắc xây dựng và ban hành
Theo Điều 5 Luật ban hình văn bản quy phạm pháp luật 2015, những nguyên tắc xây
dựng, ban hành VBQPPL bao gồm:
1. Bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm
pháp luật trong hệ thống pháp luật.
2. Tuân thủ đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản
quy phạm pháp luật.
3. Bảo đảm tính minh bạch trong quy định của văn bản quy phạm pháp luật.
6


4. Bảo đảm tính khả thi, tiết kiệm, hiệu quả, kịp thời, dễ tiếp cận, dễ thực hiện của văn
bản quy phạm pháp luật; bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong văn bản quy

phạm pháp luật; bảo đảm yêu cầu cải cách thủ tục hành chính.
5. Bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, không làm cản trở
việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên.
6. Bảo đảm công khai, dân chủ trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá
nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp
luật.
1.3.1.4. Hệ thống VBQPPL của Việt Nam
Các quy phạm pháp luật với tư cách là hạt nhân của hệ thống pháp luật luôn được
biểu hiện và xác định trong các văn bản pháp luật cụ thể. Các văn bản pháp luật dù đa
dạng, phong phú đến đâu, đều hợp thành một hệ thống văn bản mang tính thứ bậc. Tính
thứ bậc của các văn bản pháp luật được xác định bởi hiệu lực pháp luật của từng loại
văn bản, trong đó cao nhất là Hiến pháp, các văn bản pháp luật khác dù là các đạo luật
do Quốc hội thông qua cũng đểu phải phù hợp với Hiến pháp.
Căn cứ theo Điều 4 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, hệ thống
văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta bao gồm:
1. Hiến pháp.
2. Bộ luật, luật (sau đây gọi chung là luật), nghị quyết của Quốc hội.
3. Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; nghị quyết liên tịch giữa
Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam.
4. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.
5. Nghị định của Chính phủ; nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đồn Chủ tịch
Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
6. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
7. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tịa án nhân dân tối cao.
8. Thông tư của Chánh án Tịa án nhân dân tối cao; thơng tư của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ;
thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao; thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với

Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết
định của Tổng Kiểm toán nhà nước.
7


9. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây
gọi chung là cấp tỉnh).
10. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
11. Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt.
12. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh,
thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện).
13. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện.
14. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp
xã).
15. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã.
Sau đây là các cơ quan ban hành VBQPPL và loại VBQPPL tương ứng với từng cơ
quan:
 VBQPPL của Quốc hội
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao
nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Căn cứ theo Khoản 1, Điều 70 của Hiến pháp năm 2013 quy định: Quốc hội có quyền
“Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp”. Hiến pháp là văn bản quy phạm pháp luật do
Quốc hội ban hành, có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam, quy
định các vấn đề cơ bản nhất của Nhà nước như: hình thức và bản chất nhà nước, chế độ
chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa xã hội; quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; tổ
chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước.
Bên cạnh Hiếp pháp VBQPPL của Quốc hội còn bao gồm Luật (Bộ luật) và Nghị
quyết.
Luật là văn bản do Quốc hội ban hành nhằm điều chỉnh một một ngành, một lĩnh vực
cụ thể (kinh tế, xã hội, quốc phịng, an ninh, dân tộc, tơn giáo, văn hóa, giáo dục, y tế,

…). Phạm vi điều chỉnh các quan hệ xã hội của luật hẹp hơn so với bộ luật, khi cùng
điều chỉnh một vấn đề quy định tại Bộ luật sẽ mang tính quy định chung cịn Luật sẽ
quy định chi tiết hơn, Luật không được trái với quy định tại Bộ luật.
Bộ luật là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành có giá trị pháp lí cao
(chỉ sau Hiến pháp) nhằm điều chỉnh và tác động rộng rãi đến các quan hệ xã hội trong
một lĩnh vực lớn của xã hội. Hiện tại có 6 bộ luật: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ
luật Lao động, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật Hàng hải.
8


Nghị quyết là văn bản quyết định về những vấn đề cơ bản sau khi được hội nghị bàn
bạc, thông qua bằng biểu quyết theo đa số, biểu thị ý kiến hay ý định của một cơ quan,
tổ chức về một vấn đề nhất định.
Căn cứ theo Điều 15 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định:
1. Quốc hội ban hành luật để quy định:
a) Tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tịa án nhân dân,
Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước, chính quyền
địa phương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và cơ quan khác do Quốc hội thành
lập;
b) Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mà theo Hiến pháp phải
do luật định; việc hạn chế quyền con người, quyền công dân; tội phạm và hình phạt;
c) Chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia, ngân sách nhà nước; quy định, sửa
đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế;
d) Chính sách cơ bản về văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, cơng nghệ, mơi trường;
đ) Quốc phịng, an ninh quốc gia;
e) Chính sách dân tộc, chính sách tơn giáo của Nhà nước;
g) Hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân; hàm, cấp ngoại giao; hàm, cấp nhà
nước khác; huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước;
h) Chính sách cơ bản về đối ngoại;
i) Trưng cầu ý dân;

k) Cơ chế bảo vệ Hiến pháp;
l) Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội.
2. Quốc hội ban hành nghị quyết để quy định:
a) Tỷ lệ phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân
sách địa phương;
b) Thực hiện thí điểm một số chính sách mới thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc
hội nhưng chưa có luật điều chỉnh hoặc khác với quy định của luật hiện hành;
c) Tạm ngưng hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần luật, nghị quyết
của Quốc hội đáp ứng các yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm
quyền con người, quyền cơng dân;
d) Quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng,
an ninh quốc gia;
đ) Đại xá;
e) Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội.
9


 VBQPPL của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
VBQPPL của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bao gồm: Pháp lệnh và Nghị Quyết.
Pháp lệnh là văn bản do UBTVQH ban hành, khơng cần thủ tục trình quốc hội, do đặc
thù mang tính tình thế nên loại văn bản luật này ban hành theo thủ tục do UBTVQH tự
soạn thảo và ban hành, khi thực hiện xứ mạng lịch sử của nó, có những pháp lệnh sẽ
được nâng lên thành Luật theo thủ tục và trình tự ban hành Luật, có pháp lệnh sẽ hết
hiệu lực khi xứ mạng lịch sử của nó đã hồn thành, pháp lệnh khơng trái hiến pháp và
không được trái luật.
Căn cứ theo Điều 16 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định:
1. Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh để quy định những vấn đề được
Quốc hội giao.
2. Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành nghị quyết để quy định:
a) Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh;

b) Tạm ngưng hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần pháp lệnh, nghị
quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội đáp ứng các yêu cầu cấp bách về phát triển kinh
tế - xã hội;
c) Bãi bỏ pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; trường hợp bãi bỏ
pháp lệnh thì Ủy ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm báo cáo Quốc hội tại kỳ họp
gần nhất;
d) Tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả
nước hoặc ở từng địa phương;
đ) Hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân;
e) Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
 VBQPPL của Chủ tịch nước
Chủ tịch nước ban hành hai loại VBQPPL là Lệnh và Quyết định.
Quyết định là một loại văn bản do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền, tổ chức,
cá nhân ban hành nhằm công bố hay công nhận một vấn đề đối với tổ chức hay cá nhân
nào đó có tính thực thi bắt buộc.
Căn cứ theo Điều 17 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định:
Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định để quy định:
1. Tổng động viên hoặc động viên cục bộ, cơng bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp căn cứ
vào nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; cơng bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp
trong cả nước hoặc ở từng địa phương trong trường hợp Ủy ban thường vụ Quốc hội
không thể họp được;
10


2. Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước.
 VBQPPL của Chính phủ
Chính phủ là cơ quan ban hành Nghị định để hướng dẫn luật hoặc quy định những
việc phát sinh mà chưa có luật hoặc pháp lệnh nào điều chỉnh.
Căn cứ theo Điều 19 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định: Chính
phủ ban hành nghị định để quy định:

1. Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp
lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;
2. Các biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội,
pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch
nước; các biện pháp để thực hiện chính sách kinh tế - xã hội, quốc phịng, an ninh, tài
chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học,
cơng nghệ, mơi trường, đối ngoại, chế độ công vụ, cán bộ, công chức, viên chức,
quyền, nghĩa vụ của công dân và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền quản lý, điều hành
của Chính phủ; những vấn đề liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của từ hai bộ, cơ
quan ngang bộ trở lên; nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan
ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính
phủ;
3. Vấn đề cần thiết thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội
nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản
lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Trước khi ban hành nghị định này phải
được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
 VBQPPL của Thủ tướng Chính phủ
Thủ tướng Chính phủ ban hành các Quyết định. Đây là một loại văn bản do cơ quan
nhà nước, người có thẩm quyền, tổ chức, cá nhân ban hành nhằm công bố hay công
nhận một vấn đề đối với tổ chức hay cá nhân nào đó có tính thực thi bắt buộc.
Căn cứ theo Điều 20 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy địThủ tướng
Chính phủ ban hành quyết định để quy định:
1. Biện pháp lãnh đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính
nhà nước từ trung ương đến địa phương, chế độ làm việc với các thành viên Chính phủ,
chính quyền địa phương và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính
phủ;
2. Biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các thành viên Chính phủ; kiểm tra hoạt
động của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương
11



trong việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước.
 VBQPPL của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành các Thông tư, đây là VBQPPL
được ban hành nhằm giải thích, hướng dẫn thực hiện những văn bản của nhà nước ban
hành, thuộc phạm vi quản lí của từng ngành tương ứng với từng cơ quan, cá nhân có
thẩm quyền.
Căn cứ theo Điều 24 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định:
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành thông tư để quy định:
1. Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp
lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước,
nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ;
2. Biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình.
 VBQPPL của Tòa án nhân dân tối cao
Căn cứ theo Điều 21,22 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định:
Điều 21. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành nghị quyết để hướng dẫn việc
áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử thông qua tổng kết việc áp dụng pháp luật,
giám đốc việc xét xử.
Điều 22. Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành thông tư để thực hiện việc quản lý các
Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự về tổ chức và những vấn đề khác được Luật tổ
chức Tòa án nhân dân và luật khác có liên quan giao.
 VBQPPL của Viện kiểm sốt nhân dân tối cao
Căn cứ theo Điều 23 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định:
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành thông tư để quy định những vấn
đề được Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và luật khác có liên quan giao.
 VBQPPL của Tổng Kiểm toán Nhà nước
Căn cứ theo Điều 26 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định:

Tổng Kiểm toán nhà nước ban hành quyết định để quy định chuẩn mực kiểm tốn nhà
nước, quy trình kiểm tốn, hồ sơ kiểm tốn.
 VBQPPL của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân
Căn cứ theo Điều 27,28 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định:
Điều 27. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
12


Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành nghị quyết để quy định:
1. Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan nhà nước cấp trên;
2. Chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm
pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;
3. Biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phịng, an ninh ở địa
phương;
4. Biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của
địa phương.
Điều 28. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định để quy định:
1. Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan nhà nước cấp trên;
2. Biện pháp thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị
quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp về phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc
phòng, an ninh ở địa phương;
3. Biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương.
 VBQPPL liên tịch giữa UBTVQH hoặc Chính phủ với cơ quan trung ương của
tổ chức chính trị - xã hội
Nghị quyết liên tịch được ban hành bởi 2 chủ thể, một bên là cơ quan nhà nước, một
bên là tổ chức chính trị – xã hội để hướng dẫn thi hành những vấn đề khi pháp luật quy
định về việc tổ chức chính trị – xã hội đó tham gia quản lý nhà nước.

Căn cứ theo Điều 18 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật có quy định:
Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành nghị quyết liên tịch để quy định chi tiết những
vấn đề được luật giao.
 Thông tư liên tịch
Thông tư liên tịch là văn bản do nhiều cơ quan phối hợp với nhau để thống nhất nhằm
giải thích, hướng dẫn thực hiện những văn bản của nhà nước ban hành, thuộc phạm vi
quản lý liên quan tới các cơ quan đó. Căn cứ theo Điều 25 của Luật ban hành văn bản
quy phạm pháp luật có quy định:
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện
13


trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành thông tư liên tịch để quy định về việc
phối hợp giữa các cơ quan này trong việc thực hiện trình tự, thủ tục tố tụng.
1.3.1.5. Số, ký hiệu của VBQPPL
Mỗi VBQPPL của mỗi cơ quan ban hành đều có số và ký hiệu khác nhau để phân
biệt. Căn cứ theo Điều 10 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật có quy định
về cách đánh số, ký hiệu của VBQPPL như sau:
1. Số, ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật phải thể hiện rõ số thứ tự, năm ban
hành, loại văn bản, cơ quan ban hành văn bản.
2. Việc đánh số thứ tự của văn bản quy phạm pháp luật phải theo từng loại văn bản
và năm ban hành. Luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban
thường vụ Quốc hội được đánh số thứ tự theo từng loại văn bản và nhiệm kỳ của Quốc
hội.
3. Số, ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật được sắp xếp như sau:
a) Số, ký hiệu của luật, nghị quyết của Quốc hội được sắp xếp theo thứ tự như sau:
“loại văn bản: số thứ tự của văn bản/năm ban hành/tên viết tắt của cơ quan ban hành
văn bản và số khóa Quốc hội”;

b) Số, ký hiệu của pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội được sắp
xếp theo thứ tự như sau: “loại văn bản: số thứ tự của văn bản/năm ban hành/tên viết tắt
của cơ quan ban hành văn bản và số khóa Quốc hội”;
c) Số, ký hiệu của các văn bản quy phạm pháp luật không thuộc trường hợp quy
định tại điểm a và điểm b khoản này được sắp xếp theo thứ tự như sau: “số thứ tự của
văn bản/năm ban hành/tên viết tắt của loại văn bản - tên viết tắt của cơ quan ban hành
văn bản”.
Sau đâu là bảng thống kê tên viết tắt của một số loại văn bản:
ST
T

Hệ thống loại văn bản

Tên viết tắt

1
2
3
4
5
6
7
8

Hiến pháp của Quốc Hội
Bộ Luật của Quốc Hội
Luật của Quốc Hội
Nghị quyết Quốc hội
Pháp lệnh UBTV Quốc hội
Lệnh Chủ tịch nước

Nghị định Chính phủ
Quyết định Thủ tướng

HP
BL
L
NQQH
PL
LE

QĐTg
14


9
Thông tư các Bộ
10 Thông tư liên tịch các Bộ
11 Nghị quyết Tịa án Tối cao
12 Thơng tư Tịa án Tối cao
13 Thông tư Viện kiểm sát Tối cao
14 Quyết định Tổng kiểm toán
15 Nghị quyết HĐND tỉnh
16 Quyết định UBND tỉnh
17 Công văn hướng dẫn
1.3.1.6. Hiệu lực của VBQPPL

TT
TTLT
NQTA
TTTA

TTKS
QĐKT
NQHĐ
QĐUB
CV

Điều kiện quan trọng và cần thiết để thực hiện đúng pháp luật là việc xác định chính
xác hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật. Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp
luật là giới hạn tác động của nó theo thời gian, theo khơng gian và phạm vi đối tượng
tác động.
Đầu tiên là về hiệu lực theo thời gian
Hiệu lực về thời gian của văn bản quy phạm pháp luật là giá trị tác động của văn bản
lên các quan hệ xã hội phát sinh trong phạm vi kể từ khi nó bắt đầu (thời điểm phát
sinh) đến khi chấm dứt (thời điểm chấm dứt) hiệu lực.
Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật
Căn cứ theo Điều 151 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định:
Thời điểm có hiệu lực của toàn bộ hoặc một phần văn bản quy phạm pháp luật được
quy định tại văn bản đó nhưng khơng sớm hơn 45 ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký
ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước trung ương; không
sớm hơn 10 ngày kể từ ngày ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; không sớm hơn 07 ngày kể từ ngày ký ban
hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp
huyện và cấp xã.
Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì có thể có
hiệu lực kể từ ngày thơng qua hoặc ký ban hành, đồng thời phải được đăng ngay trên
Cổng thông tin điện tử của cơ quan ban hành và phải được đưa tin trên phương tiện
thông tin đại chúng; đăng Cơng báo nước Cộng hịa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc
Công báo tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chậm nhất là sau 03 ngày kể từ ngày
công bố hoặc ký ban hành.
Hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật

15


Về nguyên tắc, văn bản quy phạm pháp luật chỉ có hiệu lực điều chỉnh những quan hệ
xã hội phát sinh từ thời điểm có hiệu lực trở về sau. Nói một cách khác, thơng thường
văn bản quy phạm pháp luật khơng có hiệu lực trở về trước (hiệu lực hồi tố). Chỉ trong
những trường hợp thật cần thiết, văn bản quy phạm pháp luật mới được quy định hiệu
lực trở về trước. Căn cứ theo Khoản 2 Điều 152 của Luật ban hành văn bản quy phạm
pháp luật quy định không được quy định hiệu lực trở về trước đối với các trường hợp
sau đây:
Quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi đi mà vào thời điểm thực hiện
hành vi thì thì pháp luật khơng quy định trách nhiệm pháp lý;
Quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn.
Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, chính
quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt không được quy định hiệu lực
trở về trước.
Ngưng hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần cho đến khi có
quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong các trường hợp sau đây:
- Bị đình chỉ việc thi hành theo quy định tại khoản 3 Điều 164, khoản 2 Điều 165,
khoản 2 và khoản 3 Điều 166, khoản 2 và khoản 3 Điều 167 của Luật ban hành văn bản
quy phạm pháp luật. Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định bãi bỏ
thì văn bản hết hiệu lực; nếu khơng ra quyết định bãi bỏ thì văn bản tiếp tục có hiệu
lực;
- Cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật quyết định ngưng
hiệu lực của văn bản đó trong một thời hạn nhất định để giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội phát sinh.
Thời điểm ngưng hiệu lực, tiếp tục có hiệu lực của văn bản hoặc hết hiệu lực của văn
bản phải được quy định rõ tại văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền.
Quyết định đình chỉ việc thi hành, quyết định xử lý văn bản quy phạm pháp luật phải

được đăng Công báo, đưa tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng chậm nhất là
03 ngày kể từ ngày ra quyết định.
Hết hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần được quy định trong
Điều 154 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
- Hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản;
16


- Được sửa đổi, khi bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản mới của chính cơ quan Nhà
nước đã ban hành văn bản đó;
- Bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Trong trường hợp một văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy định
chi tiết hoặc hướng dẫn văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực trừ trường hợp văn bản
quy định chi tiết hoặc hướng dẫn được giữ lại toàn bộ hoặc một phần, vì cịn phù hợp
với quy định của văn bản quy phạm pháp luật mới.
Thứ hai là hiệu lực về không gian và đối tượng tác động
Hiệu lực về không gian của văn bản quy phạm pháp luật được hiểu là giá trị tác động
của văn bản được xác định trong phạm vi lãnh thổ, vùng hay khu vực nhất định.
Hiệu lực về đối tượng tác động của văn bản quy phạm pháp luật là giá trị tác động của
văn bản lên các quan hệ xã hội với những chủ thể nhất định (có thể là cá nhân, các cơ
quan nhà nước, tổ chức xã hội hay đơn vị kinh tế,…)
Văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở trung ương có hiệu lực
trong phạm vi cả nước và được áp dụng đối với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân, trừ
trường hợp văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền
hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy
định khác.
Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ở đơn vị hành
chính nào thì có hiệu lực trong phạm vi đơn vị hành chính đó và phải được quy định cụ
thể ngay trong văn bản đó. Trường hợp có sự thay đổi về địa giới hành chính thì hiệu

lực về khơng gian và đối tượng áp dụng của văn bản quy phạm pháp luật của chính
quyền địa phương được xác định như sau:
- Trường hợp một đơn vị hành chính được chia thành nhiều đơn vị hành chính mới
cùng cấp thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân của
đơn vị hành chính được chia vẫn có hiệu lực đối với đơn vị hành chính mới cho đến khi
Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính mới ban hành văn bản quy
phạm pháp luật thay thế;
- Trường hợp nhiều đơn vị hành chính được nhập thành một đơn vị hành chính mới
cùng cấp thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân của
đơn vị hành chính được nhập vẫn có hiệu lực đối với đơn vị hành chính đó cho đến khi
Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính mới ban hành văn bản quy
phạm pháp luật thay thế;
17


- Trường hợp một phần địa phận và dân cư của đơn vị hành chính được điều chỉnh về
một đơn vị hành chính khác thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân,
Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính được mở rộng có hiệu lực đối với phần địa
phận và bộ phận dân cư được điều chỉnh.
1.3.1.7. Nguyên tắc áp dụng VBQPPL
Căn cứ theo Điều 156 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định:
1. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.
Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn
bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có
hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.
2. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng
một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.
3. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có
quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm
pháp luật ban hành sau.

4. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm
pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra, trước ngày
văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới.
5. Việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong nước không được cản trở việc thực
hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Trong
trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp
dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp.
1.3.1.8.

So sánh VBQPPL với văn bản áp dụng pháp luật (VBADPL)

Trước khi xác định được VBQPPL thì thực tế đặt ra hiện nay cũng còn mập mờ giữa
VBQPPL và VBADPL. Chính vì lẽ đó thì vấn đề đầu tiên là cần thiết phải có sự phân
biệt rõ nét giữa VBQPPL và văn bản áp dụng pháp luật.
Giữa VBQPPL và VBADPL vẫn có vài điểm chung nhất định. Thứ nhất là VBQPPL
và VBADPL đều là những văn bản có vai trị quan trọng trong nhà nước ta, đều được
ban hành bởi những tổ chức cá nhân có thẩm quyền. Thứ hai là đều được nhà nước
đảm bảo thực hiện bằng bằng các biện pháp mang tính quyền lực nhà nước. Thứ ba là
được ban hành theo những trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Thứ tư là đều có
hiệu lực bắt buộc đối với các các nhân hoặc tổ chức liên quan và ngoài ra đều được
thể hiện dưới hình thức văn bản và dùng để điều chỉnh các quan hệ xã hội.
18


Tuy vậy giữa VBQPPL và VBADPL lại có rất nhiều điểm khác nhau:
Văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản áp dụng pháp luật
Khái
Văn bản quy phạm pháp luật là Văn bản áp dụng pháp luật là văn

niệm
văn bản có chứa quy phạm pháp bản chứa đựng các quy tắc xử sự
luật, được ban hành theo cá biệt, do cơ quan, cá nhân có
đúng thẩm quyền, hình thức, trình thẩm quyền ban hành, được áp
tự, thủ tục quy định của Pháp dụng một lần trong đời sống và
luật (Điều 2 Luật Ban hành văn bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng
bản quy phạm pháp luật năm chế Nhà nước
2015).
Đặc
+ Chứa quy phạm pháp luật
+ Chứa quy tắc xử sự đặc biệt
điểm
Quy phạm pháp luật là quy tắc xử + Áp dụng một lần đối với một tổ
sự chung, có hiệu lực bắt buộc chức cá nhân là đối tượng tác
chung, được áp dụng lặp đi lặp lại động của văn bản,Nội dung của
nhiều lần đối với cơ quan, tổ văn bản áp dụng pháp luật chỉ rõ
chức, cá nhân trong phạm vi cả cụ thể cá nhân nào, tổ chức nào
nước hoặc đơn vị hành chính nhất phải thực hiện hành vi gì.
định, do cơ quan nhà nước, người
+ Đảm bảo tính hợp pháp (tn
có thẩm quyền quy định trong
thủ đúng các van bản quy phạm
Luật này ban hành và được Nhà
pháp luật), phù hợp với thực tế
nước bảo đảm thực hiện.
(đảm bảo việc thi hành)
+ Áp dụng nhiều lần đối với
+ Mang tính cưỡng chế nhà nước
nhiều chủ thể trên phạm vi cả
cao

nước hoặc đơn vị hành chính nhất
định
+ Được nhà nước đảm bảo thực
hiện
Thẩm
quyền
ban
hành
Hình
thức,
tên gọi

Phạm
vi áp
dụng
Thời
gian có

Các văn bản này được ban hành
bởi cơ quan, cá nhân có thẩm
quyền ban hành, nhưng thường là
cá nhân ban hành nhiều hơn.
Chưa được pháp điển hóa tập
trung về tên gọi và hình thức thể
hiện
thường được thể hiện dưới hình
thức: Quyết định, bản án, lệnh,…
Áp dụng là đối với tất cả các đối Chỉ có hiệu lực đối với một hoặc
tượng thuộc phạm vi điều một số đối tượng được xác định
chỉnh trong phạm vi cả nước hoặc đích danh trong văn bản

đơn vị hành chính nhất định.
Thời gian có hiệu lực lâu dài, theo Thời gian có hiệu lực ngắn, theo
mức độ ổn định của phạm vi và vụ việc
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ban hành quy định tại chương II
Luật xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật 2015.
15 hình thức quy định tại điều
4 Luật ban hành VBQPPL 2015
(Hiến pháp, Bộ luật, Luật,….)

19


hiệu
lực
Cơ sở
ban
hành

Trình
tự ban
hành
Sửa
đổi,
hủy bỏ

đối tương điều chỉnh
Thường dựa vào ít nhất một văn
bản quy phạm pháp luật hoặc dựa

vào văn bản áp dụng pháp luật của
chủ thể có thẩm quyền. Văn bản
áp dụng pháp luật hiện tại không
là nguồn của luật
Được ban hành theo đúng trình tự Khơng có trình tự luật định.
thủ tục luật định tại Luật xây
dựng văn bản quy phạm pháp
luật.
Theo trình tự thủ tục luật định
Thường thì do tổ chức cá nhân
ban hành
Dựa trên Hiến pháp, Luật và các
văn bản quy phạm pháp luật của
chủ thể có thẩm quyền ban hành
cấp trên. Văn bản quy phạm pháp
luật là nguồn của luật

1.3.2. Tập quán pháp
1.3.2.1. Khái niệm
Hiện nay, pháp luật thành văn được sử dụng một cách phổ biến và rộng rãi do đó tập
quán pháp cũng vì thế mà ít được sử dụng đến. Vì mức độ phổ biến của tập quán pháp
không cao nên rất nhiều người vẫn còn xa lạ với thuật ngữ tập qn pháp.
Tập qn pháp là thói quen hình thành từ đời sống hay từ truyền thống văn hoá xã hội
trong một thời gian dài và được nhà nước thừa nhận, nâng lên thành pháp luật.
Tập quán vừa là một loại nguồn của pháp luật vừa là hình thức thể hiện của pháp
luật trên thực tế. Nhà nước thừa nhận một tập quán cộng đồng là tập quán pháp không
chỉ là sự chấp nhận của nhà nước đối với tập quán đó, khuyến khích xử sự theo tập
qn đó mà cịn là đưa quyền lực nhà nước vào trong tập quán đó. Do đó mà tập qn
pháp mang tính bắt buộc và cưỡng chế.
1.3.2.2. Vai trò và ý nghĩa

Khi nhà nước thừa nhận một tập quán thành tập quán pháp, điều đó có ý nghĩa đối với
cả nhà nước và xã hội. Đối với nhà nước, tập quán pháp đóng vai trò quan trọng tạo
nên hệ thống pháp luật của quốc gia. Nhà nước thừa nhận một tập quán là tập quán
pháp nhằm mục đích để đáp ứng nhu cầu quản lý của nhà nước. Đối với xã hội, việc
nhà nước thừa nhận một tập quán là tập quán pháp có ý nghĩa thể hiện sự chấp thuận
của nhà nước đối với một thói quen ứng xử của cộng đồng. Đó là sự thống nhất giữa ý
chí nhà nước với ý chí cộng đồng. Qua việc thừa nhận một tập quán thành tập qn
pháp cũng góp phần giữ gìn và phát huy tập quán đó.
1.3.2.3. Cách thức thừa nhận
20


Nhà nước thừa nhận tập quán thành tập quán pháp bằng nhiều cách thức khác nhau
như:
+ Có thể liệt kê danh mục các tập quán được nhà nước thừa nhận;
+ Viện dẫn tập quán trong pháp luật thành văn;
+ Áp dụng tập quán để giải quyết các vụ việc phát sinh trong thực tiễn…
Như vậy, tập quán có thể được tạo ra từ hoạt động của các cơ quan lập pháp, cũng có
thể được tạo ra từ hoạt động xét xử của cơ quan tư pháp. Nhìn chung, nhà nước chỉ
thừa nhận những tập quán không trái với giá trị đạo đức xã hội và trật tự cơng cộng.
Có thể thấy, tập quán pháp được sử dụng phổ biến trong thời kỳ chưa có pháp luật
thành văn. Tuy nhiên tập qn có hạn chế là khơng xác định, tản mạn, thiếu thống nhất,
…Do đó, khi mà pháp luật thành văn ngày càng phát triển và trở nên phổ biến thì tập
quán pháp cũng theo đó mà bị thu hẹp phạm vi sử dụng. Trong điều kiện hiện nay, tập
quán đóng vai trò là nguồn bổ sung cho các VBQPPL. Pháp luật của các quốc gia
thường có quy định cụ thể đối với thứ tự áp dụng của tập quán pháp.Tại Việt Nam,
trong Bộ luật dân sự năm 2015, Nhà nước ta đã thừa nhận tập quán. Việc thừa nhận này
trước hết thông qua một nguyên tắc tại Điều 5 Bộ luật dân sự năm 2015: “Trường hợp
các bên khơng có thỏa thuận và pháp luật khơng quy định thì có thể áp dụng tập quán
nhưng tập quán áp dụng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân

sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này”. Đồng thời, Bộ luật dân sự năm 2015 cũng đã
đưa ra nhiều quy định chi tiết thừa nhận tập quán như áp dụng tập quán lựa chọn dân
tộc cho con (khoản 1 Điều 29); giải thích giao dịch dân sự (khoản 1 Điều 121); Xác
định ranh giới giữa các bất động sản (Khoản 1 Điều 175); xác lập quyền sở hữu (Điều
211); xác định trách nhiệm dân sự (khoản 4 Điều 605). Từ đó, có thể khẳng định, tập
quán chính thức được thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội như các quy tắc
xử sự do Nhà nước đặt ra.
1.3.3. Tiền lệ pháp
1.3.3.1. Khái niệm
Tiền lệ pháp hay còn được gọi là Án lệ là việc Nhà nước thừa nhận các bản án của
Toà án hoặc quyết định của cơ quan hành chính, lấy các bản án hoặc quyết định đó làm
căn cứ để giải quyết những sự việc tương tự xảy ra trong thời gian sau này.
1.3.3.2. Cơ quan ban hành
Tiền lệ pháp có thể được thể hiện trong các bản án, quyết định hành chính hoặc tư
pháp. Tuy nhiên, các nước trên thế giới thường chỉ chấp nhận tiền lệ pháp do tòa án tạo
21


ra nên tiền lệ pháp ngày nay còn được gọi là án lệ. Ví dụ, án lệ do Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao Việt Nam ban hành.
1.3.3.3. Phân loại
Trên thực tế, có hai loại tiền lệ, một là tiền lệ để tạo ra các quy tắc và nguyên tắc
pháp lý mới. Thứ hai, tiền lệ được hình thành bởi q trình tịa án giải thích các điều
khoản luật định.
1.3.3.4. Nguồn gốc
Tiền lệ pháp cũng là nguồn gốc và hình thức của luật. Đây là loại nguồn pháp lý khá
phức tạp, mặc dù nó đã phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Pháp luật tồn tại trong bản
án, quyết định hành chính và thực tiễn dưới hình thức tiền lệ. Các bản án, quyết định
này ban đầu do cơ quan có thẩm quyền ban hành đối với những trường hợp cụ thể để
cá nhân, tổ chức tự xác định nhưng lập luận của các văn bản này và cơng nhận các bản

án, bản án này là điển hình, mẫu mực, xử lý khách quan, công minh..., Cách tiếp cận
“dễ hiểu và thỏa đáng” đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận, chấp nhận và phát
triển thành khuôn mẫu chung để xử lý các trường hợp tương tự khác.
1.3.3.5. Ý nghĩa
Việc áp dụng tiền lệ pháp ngoài ý nghĩa giải quyết một vụ án cụ thể còn thiết lập ra
một tiền lệ để xử những vụ án tương tự sau này, do đó, sẽ tạo bình đẳng trong việc xét
xử các vụ án giống nhau, giúp tiên lượng được kết quả của các vụ tranh chấp, tiết kiệm
công sức của các Thẩm phán, Người tham gia tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng, tạo ra
sự công bằng trong xã hội. Án lệ là khuôn thước mẫu mực để các thẩm phán tuân theo
vì được đúc kết, chọn lọc kỹ và mang tính chuyên nghiệp. Khi ấy thẩm phán chỉ cần
đối chiếu để đưa ra phán quyết, tránh chuyện mỗi người nhìn nhận, đánh giá vấn đề
một kiểu. Từ đó tránh được chuyện dư luận xã hội cho rằng việc xét xử của tịa án là
khơng bình đẳng. Đồng thời, áp dụng án lệ còn giúp các đơn vị khi đàm phán, soạn
thảo và ký kết hợp đồng giao dịch dân sự, thương mại biết phòng tránh rủi ro…
1.3.3.6. Tiêu chuẩn để văn bản trở thành tiền lệ pháp
Tiền lệ pháp được hình thành từ cơ quan tư pháp nhưng không phải bất cứ nghị quyết,
văn bản, quyết định,... của các cơ quan tư pháp đều được coi là án lệ. Để trở thành án lệ
thì một bản án, một quyết định phải có những đặc điểm sau:
- Phải có vấn đề pháp lý: Nội dung của bản án được coi là án lệ phải liên quan đến
vấn đề pháp lý, khi các vấn đề pháp lý đã rõ, thì thầm phản áp dụng luật đã có sẵn
trước các sự kiện thực tế trong vụ án, những bản án trong các vụ án này không tạo ra
án lệ. Một trong những yếu tố quan trọng để tạo ra án lệ là quyết định của thẩm phán
22


trong vụ án cụ thể liên quan đến các vấn đề pháp luật mới nảy sinh hoặc một nghi vấn
pháp luật. Đó là các vấn đề có liên quan đến câu hỏi luật cần áp dụng đối với sự kiện
thực tế nảy sinh trong vụ án là gì và nó được áp dụng vào các sự kiện thực tế trong vụ
án. như thế nào? Thực chất vấn đề là pháp luật chưa có lời giải đáp cho câu hỏi thực
tiễn. Do đó khi xét xử thẩm phán cần tìm ra lời giải đối với vấn đề pháp luật đặt ra

trong vụ án. Điều này cũng đồng, nghĩa với việc phán quyết của thẩm phán trong vụ
việc cụ thể này đã tạo ra một án lệ (một tiền lệ pháp) cho các vụ việc trong tương lai.
- Phải có quan điểm : Trong bản án phải thể hiện thái độ, quan điểm của thẩm phán
hoặc của các thẩm phán trong hội đồng xét xử về các vấn đề pháp luật được đặt ra. Nếu
khơng có quan điểm, đường lối giải quyết trong bản án thì khơng thể trở thành án lệ (vì
án lệ có thể hiểu ở góc độ là đường lối xét xử vụ án). Quan điểm và thái độ của thẩm
phán đối với vấn đề pháp lý mới nảy sinh trong vụ án sẽ được chấp nhận khi thẩm phán
có những lập luận đưa ra trong một án lệ phải hợp lý và có lơ-gic pháp luật.
- Phải xuất phát từ tranh chấp: Án lệ do thẩm phán tạo ra phải xuất phát từ tranh chấp
giữa các bên trong vụ án. Điều này có nghĩa là án lệ được tạo ra trong bối cảnh phải có
một tranh chấp xác định. Thẩm phán đứng trước nhiệm vụ phải đưa ra phán quyết
trong tranh chấp giữa các bên, bằng cách này thẩm phán đã tạo ra luật trong một trường
hợp cụ thể.
- Phải có thẩm quyền: Án lệ được tạo ra bởi tịa án có thẩm quyền. Án lệ được thiết
lập ngay tại Tịa án, tuy nhiên khơng phải tịa án nào cũng tạo ra án lệ mà những bản
án, quyết định thuộc các Tịa Có thẩm quyền mới đáp ứng điều kiện để trở thành án lệ.
- Phải được công bố và hệ thống hóa : Các phán quyết phải được Cơng bố và hệ thống
hóa. Việc cơng bố và hệ thống hóa án lệ phải tn theo một trình tự thủ tục chặt chẽ.
1.3.4. Điều ước quốc tế
1.3.4.1. Khái niệm
Điều ước quốc tế là sự thỏa thuận giữa các chủ thể của luật quốc tế với nhau trên cơ
sở tự nguyện, bình đẳng nhằm thiết lập những quy tắc pháp lý bắt buộc gọi là những
quy phạm luật quốc tế để ấn định, thay đổi hoặc hủy bỏ những quyền và nghĩa vụ đối
với nhau.
1.3.4.2. Thẩm quyền kí
Thẩm quyền ký điều ước quốc tế là chủ thể Luật quốc tế bao gồm:

Đại diện có thẩm quyền đương nhiên: Ngun thủ quốc gia, người đứng đầu
Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao; đại
diện cho quốc gia tại tổ chức quốc tế hoặc hội nghị quốc tế.

23



Đại diện có thẩm quyền theo ủy quyền.
1.3.4.3. Phân loại
Căn cứ số lượng các bên tham gia:
• Điều ước hai bên (song phương): là điều ước do hai chủ thể của luật quốc tế ký
với nhau.
• Điều ước nhiều bên (đa phương): là điều ước do nhiều chủ thể ký kết với nhau.
Căn cứ vào chủ thể ký kết điều ước:
• Điều ước quốc tế có tính chất chính phủ: Là do các chính phủ trực tiếp ký kết
với nhau.
• Điều ước quốc tế có tính chất phi chính phủ: Là do các chủ thể khơng phải là
chính phủ của các quốc gia ký kết với nhau.
Căn cứ vào lĩnh vực điều chỉnh:
• Điều ước về chính trị
• Điều ước về kinh tế
• Điều ước quốc tế về quyền con người
• Điều ước quốc tế về các lĩnh vực hợp tác, …
1.3.4.4. Hình thức
Tên gọi của điều ước quốc tế hoàn toàn phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên.
Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, phụ thuộc vào phạm vi và nội dung của điều ước mà
điều ước quốc tế có thể có một số tên gọi khác nhau (hình thức) như: Hiệp ước, cơng
ước, định ước, nghị định thư, hiệp định…
Hiến chương là điều ước quốc tế nhiều bên, ấn định những nguyên tắc cơ bản về quan
hệ giữa các nước với nhau.
Hiệp ước (hiệp định) là văn kiện ấn định về những vấn đề có ý nghĩa lớn trong quan
hệ quốc tế.
Công ước là điều ước có tính chất chun mơn về khoa học kỹ thuật hay một lĩnh vực

nào đó.
Nghị định thư là văn kiện để giải thích, bổ sung, sửa đổi một điều ước quốc tế đã
được ký hoặc để ấn định một biện pháp cụ thể nhằm thực hiện một hiệp ước.
Ngoài ra, cịn có các hình thức khác như: Tun bố, thơng báo, tạm ước, hịa ước…
1.3.4.5. Khái qt quy trình kí kết điều ước quốc tế
Giai đoạn 1: Giai đoạn hình thành các văn bản điều ước.
Ở giai đoạn này, các bên sẽ thực hiện các hành vi như: chuẩn bị đàm phán, đàm phán,
soạn thảo và thông qua văn bản điều ước. Thực hiện xong các hành vi này, điều ước
24


×