Tải bản đầy đủ (.docx) (24 trang)

(TIỂU LUẬN) báo cáo đề tài NGHIÊN cứu về THỰC TRẠNG vô cảm TRONG một bộ PHẬN GIỚI TRẺ ở THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (649.05 KB, 24 trang )

HỌC VIỆN CƠNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THƠNG
CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG VÔ CẢM TRONG MỘT BỘ PHẬN GIỚI
TRẺ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

Mơn: PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Giảng viên: Th.S Đỗ Văn Việt Em
Sinh viên: Dương Mẫn Nhi
MSSV: N18DCCN143
Lớp: D18CQCN02-N

TP. Hồ Chí Minh - Tháng 10/2020


LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, chúng ta đang sống trong một thời kì cơng nghệ 4.0, một thời kì với rất
nhiều thuận lợi giúp cho con người, đặc biệt là giới trẻ có điều kiện học hỏi, trau dồi và
tiếp cận với nhiều phương tiện hiện đại. Thế nên con người ngày càng gắn bó, phụ thuộc
vào những thiết bị cơng nghệ và dường như khơng cịn thời gian giao tiếp với nhau, dẫn
đến một thực trạng vô cùng nguy hiểm, đó là vơ cảm. Vơ cảm thể hiện ở việc không
quan tâm đến mọi chuyện diễn ra xung quanh, con người hầu như trở nên vơ tình trước
cuộc sống của người khác, để “mạnh ai nấy sống”.
Do đó bài báo cáo “Nghiên cứu về thực trạng vô cảm trong một bộ phận giới trẻ
ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” sẽ cho thấy nguyên nhân, những hậu quả
nghiêm trọng và đưa ra một số giải pháp nhằm giải quyết thực trạng này.

1



MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
PHẦN I: TỔNG QUÁT
1.1.
1.2.
1.3.
1.4.
1.5.
1.6.
1.7.
1.8.

Lý do ng
Lịch sử n
Mục tiêu
Phạm vi
Mẫu khả
Vấn đề k
Luận điể
Phương

PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN
PHẦN III: LUẬN CỨ THỰC TẾ
KẾT QUẢ KHẢO SÁT
PHẦN IV: KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO

2



PHẦN I: TỔNG QUÁT
❖ Đề tài: NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG VÔ CẢM TRONG MỘT BỘ PHẬN
GIỚI TRẺ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY.
-

Đối tượng nghiên cứu: thực trạng vô cảm.
Khách thể: sự vô cảm của giới trẻ.
Phạm vi: giới trẻ (18-25 tuổi) ở Thành phố Hồ Chí Minh (Quận 9, Quận
Thủ Đức,…).
1.1. LÝ DO NGHIÊN CỨU
Một ngày nọ em đi học bằng xe bt, lần đó vì xe đơng nên em phải
đứng. Xung quanh có rất nhiều thanh niên đang ngồi, người ngồi bấm
điện thoại, người ngồi nhìn xa xăm. Lúc sau có một bà cụ già yếu ớt,
đi đứng khó khăn lên xe. Tưởng rằng những bạn thanh niên đó sẽ đứng
dậy và nhường ghế cho bà cụ, nhưng khơng một ai nhường mà chỉ liếc
nhìn bà rồi quay đi.
Vì thế em nhận thấy vấn đề vô cảm đang là một vấn đề nhức nhối đối
với giới trẻ hiện nay nên em đã chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu.

1.2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
a. Tên đề tài luận văn: THÁI ĐỘ BÀNG QUAN TRONG GIA ĐÌNH

CỦA TRẺ VỊ THÀNH NIÊN
Tác giả: Lê Thị Thùy Linh
Ngày, tháng, năm xuất bản: 30/8/2015
Tóm tắt: Luận văn nghiên cứu thực trạng thái độ bàng quan trong
gia đình của trẻ vị thành niên và các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ
này. Trên cơ sở đó, đề xuất những khuyến nghị bước đầu nhằm
tăng cường thái độ hợp tác, chia sẻ của trẻ trong gia đình.

b. Tên đề tài: BỆNH “VƠ CẢM”

Tác giả: Nhóm ARES
Ngày, tháng, năm xuất bản: 4/1/2014
Tóm tắt: Vấn đề vơ cảm khơng phải là một vấn đề gì lạ lẫm với
mọi người. Trước đây, vấn đề về căn bệnh vô cảm đã nổi lên khá
3


lâu trong xã hội. Tuy đã có khá nhiều các ý kiến, cách khắc phục
của các chuyên gia tâm lý và nhà xã hội học đưa ra nhưng đến nay
tất cả chỉ cịn nằm trên giấy và mang tính lý thuyết nhiều hơn là
mang tính thực tiễn. Nắm bắt được thơng tin và nhu cầu như thế
nên nhóm Ares đã tiếp tục nghiên cứu tìm hiểu để đi đến một giải
pháp khả thi, cải thiện tình hình vơ cảm của xã hội hiện nay.

1.3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
-

Tìm ra nguyên nhân dẫn đến thực trạng vô cảm trong giới trẻ hiện
nay.
Đánh giá mức độ tiêu cực, hậu quả của hiện tượng vô cảm.
Đề xuất các phương hướng, biện pháp để loại bỏ tình trạng vơ cảm
trong giới trẻ hiện nay.

1.4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Giới trẻ (18-25 tuổi) ở Thành phố Hồ Chí Minh (Quận 9, Quận Thủ
Đức,…).

-


1.5. MẪU KHẢO SÁT
Hình thức khảo sát: Google form.
Số lượng: Khoảng 1000 người tham gia khảo sát.
Phạm vi khảo sát: Phạm vi độ tuổi từ dưới 18 đến trên 25 tuổi.

-

1.6. VẤN ĐỀ KHOA HỌC


Tìm ra ngun nhân dẫn đến thực trạng vơ cảm trong giới trẻ hiện
nay.
- Vơ cảm là gì?
- Ngun nhân dẫn đến tình trạng vơ cảm ở giới trẻ ngày nay là
gì?
- Tại sao tình trạng vơ cảm hiện nay ngày càng phổ biến?
4




Đánh giá mức độ tiêu cực, hậu quả của hiện tượng vơ cảm.
- Xã hội sẽ ra sao nếu tình trạng vô cảm ngày càng lan rộng?
- Con người sẽ ngày càng đánh mất đi những phẩm chất đạo
đức nếu để tình trạng vơ cảm lấn át đúng khơng?



Đề xuất các phương hướng, biện pháp để loại bỏ tình trạng vô cảm

trong giới trẻ hiện nay.
- Giới trẻ phải hành động như thế nào để hiện trạng này khơng
cịn xảy ra trong tương lai nữa?
- Cách giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội cần thay đổi
như thế nào để khắc phục được tình trạng này?

1.7. LUẬN ĐIỂM KHOA HỌC
-

Luận điểm 1:
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng vơ cảm ở giới trẻ hiện
nay nhưng nhìn chung là do cách sống, cách giáo dục của gia đình, nhà
trường và xã hội cịn q thờ ơ, hời hợt.

-

Luận điểm 2:
Thực trạng vô cảm làm mất đi sự quan tâm giữa người với người, đẩy
mọi người ra xa nhau và làm mất đi những phẩm chất đáng quý trong
một con người.

-

Luận điểm 3:
Cần có sự chung tay của xã hội, nhà trường và các cơ quan đoàn thể
cùng xây dựng một môi trường lành mạnh nhằm giảm thiểu sự vô cảm,
mà trên hết là tự thân mỗi người phải thay đổi và quan tâm, giúp đỡ
người khác.

1.8. PHƯƠNG PHÁP CHỨNG MINH

-

Phương pháp suy luận: quy nạp.
Phương pháp thu thập thông tin: nghiên cứu tài liệu, khảo sát bằng
google form.
5


PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng vô cảm ở giới trẻ hiện nay
nhưng nhìn chung là do cách sống, cách giáo dục của gia đình, nhà trường và xã
hội cịn q thờ ơ, hời hợt.
-

Vô cảm là một trạng thái cảm xúc của con người. Đây là một trạng thái mà khi
đó, con người khơng có một tình cảm nào đối với những sự vật, sự việc diễn ra
xung quanh, chỉ quan tâm đến quyền lợi của bản thân. Họ thờ ơ, thản nhiên
trước nỗi đau, nỗi bất hạnh của những người khác. Ra đường gặp cái đẹp
không mảy may rung động; gặp cái tốt không ủng hộ; thấy cái xấu, cái ác
khơng dám lên án, khơng dám chống lại...

-

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng vô cảm ngày nay:


Nguyên nhân từ phía bản thân:
Do bị ngoại cảnh tác động hoặc do bị cái xấu hãm hại dẫn đến
mất niềm tin vào cuộc sống.
Do lối sống ích kỉ, thực dụng, hưởng thụ nên người ta thấy cuộc

sống thật đơn điệu, vô nghĩa dẫn đến những cảm xúc đạo đức bị
hạn chế.
Một số người sống thiếu bản lĩnh, sống khép mình, sợ va chạm,
khơng muốn những mất mát, khổ đau của người khác đụng chạm
vào sự bình an thanh thản trong lịng mình và cuộc sống của
mình.



Ngun nhân từ phía gia đình:
Ít khi dạy con em mình đồng cảm, u thương giúp đỡ, biết bao
dung và tha thứ cho người khác.
Cha mẹ quá cưng chiều con nên sẵn sàng đáp ứng những nhu cầu
vô lối của con một cách vô điều kiện, nên tạo cho con lối sống
chỉ biết nhận, không biết cho, sống nghèo nàn cảm xúc, vô tâm
trước tình người, làm ngơ trước nỗi đau của người khác.
Có nhiều bậc cha mẹ, phụ huynh thiếu gương mẫu về lối sống và
giao tiếp.



Nguyên nhân từ phía nhà trường:
6


Chủ yếu chạy đua theo thành tích về văn hố, ít quan tâm hoặc
chưa đầy đủ về giáo dục đạo đức (mơn Giáo dục cơng dân chỉ
dạy qua vì là môn phụ, không rèn luyện kỹ năng sống), thiên về
dạy chữ, nhẹ về dạy người.
Hiện nay, một bộ phận giáo viên ít quan tâm đến số phận, hồn

cảnh khó khăn, tâm sự vui buồn của học sinh, có xu hướng phai
nhạt tình u thương.
Mơi trường giáo dục bị ảnh hưởng xã hội cũng gây nhiều bất ổn
cho giáo dục đạo đức lối sống, giữa lý thuyết và thực tế chênh
nhau khá lớn.

-



Nguyên nhân từ phía xã hội:
Do ảnh hưởng của cuộc Cách mạng khoa học công nghệ nên mọi
người ngày càng ít tương tác trực tiếp, dần xa lánh nhau hơn.
Việc mất đi cảm xúc do giao tiếp với công nghệ, máy móc là điều
dễ hiểu. Điện thoại di động, Internet, Facebook,… là những minh
chứng rất rõ cho luận điểm trên. Theo Báo cáo Digital
Marketing 2019 của WeareSocial và Hootsuite chỉ ra rằng tính
đến đầu năm 2019, có tới 58 triệu người dùng mạng xã hội trên
thiết bị di động, con số này tăng đến 8 triệu người dùng so với
năm 2018. Theo báo cáo mới nhất vào tháng 2/2020 thì Việt Nam
đã có 67 triệu người trên tổng số 97 triệu người dùng Internet.[1]
Qua những con số thống kê trên có thể nhận ra rằng thế giới ảo
đang gián tiếp xây nên một bức tường ngăn cách giữa bản thân
người dùng với thế giới thực. Vì thế giới trẻ đang dần đánh mất
đi con người thật của mình trong thế giới ảo.
Những tiêu cực của lối sống phương tây qua sách báo, phim ảnh,
mạng… làm cho giá trị đạo đức truyền thống bị mai một, con
người ít quan tâm lẫn nhau.




Ngồi ra văn hóa bầy đàn khiến cho người ta ngại, không thể hiện sự
quan tâm đến xung quanh. Ví dụ trong một trường hợp cụ thể, khi bạn
muốn giúp đỡ một ai đó đang trong cơn hoạn nạn, song tất cả những
người xung quanh đều từ chối làm điều đó thì sẽ khơng ai hành động và
dần sẽ thành thói quen, làm lây lan tính vơ cảm.

Một cuộc khảo sát được tiến hành tại 20 trường THPT ở 12 quận/huyện của
TP.HCM với 1.800 phiếu. Trong đó có 12 trường cơng lập và 8 trường ngồi
7


cơng lập. Kết quả của cuộc khảo sát này có đến 37,6% các em sống thiếu nhân
ái, vô cảm.[2]
Những nguyên nhân trên đã khiến vơ cảm có cơ hội lây lan một cách mạnh mẽ.
Nhưng nếu có những hành động kịp thời chúng ta vẫn có thể ngăn chặn được thực
trạng ấy.
2.2. Thực trạng vô cảm làm mất đi sự quan tâm giữa người với người, đẩy
mọi người ra xa nhau và làm mất đi những phẩm chất đáng quý trong một
con người.
-

Thái độ ứng xử trước nỗi đau, tai họa của người khác là phản ứng tự nhiên
mang tính người, là thước đo đạo đức, là sự sát hạch đạo đức xã hội một cách
nghiêm khắc nhất. Trước nỗi đau, tai họa và bất công mà người khác phải chịu
đựng, nhưng ai đó khơng phản ứng được tức là đã bị tê liệt về tinh thần xã hội.
Đó là sự suy đồi về lối sống, suy thoái về đạo đức.[3]

-


Khi sự gắn kết giữa người với người trong xã hội bị rạn nứt, thậm chí bị đứt
gãy thì nó làm cho con người không dám tin vào điều thiện, không dám đứng
lên chiến đấu chống cái xấu và cái ác. Vơ cảm triệt tiêu tính tự phản ứng như
một lẽ tự nhiên trước những tiêu cực, bất công, ngang trái.[3]

-

Khi căn bệnh này khơng được ngăn chặn thì xã hội sẽ mất đi sự gắn kết cần
thiết. Những phẩm chất tốt đẹp như lòng thương người sẽ dần biến mất, mọi
người khơng cịn quan tâm đến nhau. Xã hội sẽ không tránh khỏi bị sụt lở nền
tảng đạo đức và tinh thần, gây hoang mang, làm nảy nở cái xấu, cái ác. Trong
những hoàn cảnh nhất định, cái thiện và cái tốt sẽ bị cái xấu, cái ác tấn công,
xâm hại; lẽ phải bị triệt tiêu, công lý bị đẩy lùi.

-

Vơ cảm cịn có thể gây chết người. Đặc biệt nếu như một người giữ mạng sống
của nhiều người như tài xế, chẳng hạn một người tài xế vô cảm sẽ coi mạng
sống của hành khách chẳng ra gì dẫn đến những hậu quả khôn lường.

Như vậy, những hành vi vô cảm không chỉ đơn thuần làm hủy hoại nhân cách con
người mà cịn làm xói mịn nền tảng đạo đức, làm rối loạn trật tự xã hội và xa hơn
nữa là kìm hãm sự phát triển của đất nước.

8


2.3. Cần có sự chung tay của xã hội, nhà trường và các cơ quan đoàn thể cùng
xây dựng một môi trường lành mạnh nhằm giảm thiểu sự vô cảm, mà trên hết là
tự thân mỗi người phải thay đổi và quan tâm, giúp đỡ người khác.





Về phía bản thân mỗi người:
Mỗi chúng ta cần phải biết đồng cảm với mọi người, biết trau dồi, học
hỏi những bài học trong cuộc sống về sự công bằng, biết yêu thương
mọi người xung quanh và đặc biệt phải có quyết tâm thay đổi, hồn
thiện bản thân mình hơn.
-

Tham gia các hoạt động thiện nguyện, giúp đỡ những người gặp khó
khăn nhằm tạo nên một mơi trường tích cực, góp phần loại bỏ hiện
tượng vô cảm ở khu vực.

-

Vận động, tuyên truyền mọi người giúp đỡ nhau, phê phán hành động
ích kỉ, vơ cảm. Ngoài ra, cần phải học hỏi những tấm gương đạo đức
trong xã hội.

-

Tránh xa những tệ nạn xã hội, cảnh giác với lối sống vơ cảm.

Về phía gia đình:
Gia đình chính là nơi hình thành nhân cách con người nên trước hết, các
thế hệ trong gia đình phải biết quan tâm lẫn nhau, từ đó giáo dục, xây
dựng lối sống yêu thương đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau. Khi con còn nhỏ
dạy con cách nhận biết cảm xúc của người khác.

-



Cha mẹ trong gia đình khi dạy bảo con cái cũng cần phải lắng nghe,
thấu hiểu cảm xúc của con cái, không chỉ dạy con nhận biết cảm xúc
của người khác mà còn hướng dẫn trẻ hiểu biết nguồn gốc của cảm xúc
đó. Giáo dục dạy bảo con cháu lối sống đẹp, biết nhận và cũng biết cho,
đó vừa là trách nhiệm vừa là tình cảm.[4]

Về phía nhà trường:
Mơi trường giáo dục ở trường học không chỉ là nơi trang bị cho con
người những kiến thức ở trong sách vở mà còn trang bị cả về nhân cách,
đạo đức làm người, một khi nhà trường biết quan tâm đúng mực đến
giới trẻ thì kết quả sẽ rất khả quan.[5]
9




-

Ngoài ra, nhà trường nên dạy học sinh biết cách ứng xử, quan tâm đến
mọi người xung quanh. Cần giáo dục học sinh lòng tin vào cái tốt, cái
thiện, biết tránh xa và phát hiện cái xấu để cảnh giác và đấu tranh với
nó.

-

Mỗi thầy, cơ ln quan tâm đến đồng nghiệp, chia sẻ với đồng nghiệp

những vui buồn và quan tâm thương yêu học sinh bằng tình cảm chân
thành nhất.[4]

-

Có kế hoạch và tích cực giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng ứng xử, kỹ
năng sinh hoạt tập thể bằng mọi hình thức có sức hấp dẫn lơi cuốn các
em tạo ra mối liên hệ mật thiết để các em có điều kiện tiếp xúc cảm
thơng với nhau. Tổ chức tốt các phong trào đền ơn đáp nghĩa, làm việc
từ thiện … học tập noi theo các gương sống tốt, xây dựng môi trường
giáo dục thân thiện, lành mạnh để học sinh học tập tu dưỡng và rèn
luyện.[4]

Về phía xã hội:
Xã hội nên quan tâm nhiều đến giới trẻ, tạo ra nhiều cơ hội giúp các em
được sống theo chuẩn mực đạo đức của xã hội, giúp họ biết cách quan
tâm, yêu thương, giúp đỡ đỡ mọi người, giới trẻ ngày nay không phải là
họ không muốn sống cho ra người mà cịn muốn sống tốt hơn thế nữa
chính vì vậy các bạn trẻ cần được xã hội giúp đỡ.[5]
-

Các cấp có thẩm quyền cần có kế hoạch xây dựng một lối sống đẹp văn
minh thân thiện trong toàn xã hội để tạo dựng niềm tin cho thế hệ trẻ.
Tích cực tuyên truyền giáo dục trên các phương tiện thơng tin đại chúng
bằng nhiều hình thức và những tấm gương người tốt việc tốt.

-

Mặc dù xây dựng nền tảng đạo đức xã hội luôn là điều cốt yếu, nhưng
cũng cần có những quy định pháp lý để chống bệnh vô cảm. Nếu thấy

bệnh nhân nguy kịch mà nhân viên y tế từ chối việc cứu chữa thì dù với
bất cứ lý do gì cũng phải bị xử lý nghiêm minh; nếu gặp người bị nạn
trên đường mà không cứu giúp thì sẽ bị truy cứu với những chế tài
riêng. Trách nhiệm công vụ thể hiện đạo đức công vụ, đạo đức xã hội.
Đối với hệ thống công quyền cần cải cách hành chính một cách mạnh
mẽ hơn, đưa ra những quy định khoa học, cụ thể, rõ ràng về trách nhiệm
của từng người trong guồng máy công vụ để nếu một người không làm
10


đúng chức trách của mình thì lập tức bị bật ra khỏi hệ thống. Nếu một
nền hành chính được thực thi một cách khoa học thì dần dần sẽ tạo ra
một thói quen, buộc những ai ở trong guồng máy cũng phải làm hết
chức phận của mình.[3]
Vơ cảm khơng phải là tội ác, nhưng nó chính là con đường dẫn đến những tội ác,
hơn nữa cịn có tốc độ “lây lan” đến chóng mặt, khi một người vơ cảm thì mọi
người xung quanh sẽ vô cảm theo cuối cùng là cả một xã hội vô cảm. Nhưng nếu
chúng ta biết cách giải quyết và cùng chung tay đẩy lùi triệt để thì chắc chắc rằng
chẳng bao lâu nữa, đất nước Việt Nam sẽ tự hào sánh vai với các cường quốc năm
châu như Bác Hồ từng mong ước và hi vọng.

PHẦN III: LUẬN CỨ THỰC TẾ
KẾT QUẢ KHẢO SÁT
3.1. Mẫu khảo sát:

11


Phần 1: THÔNG TIN CÁ NHÂN
Câu 1:


Câu 2:

Câu 3:

12


Phần 2: CÂU HỎI KHẢO SÁT

Câu 1:

Câu 2:

Câu 3:

13


Câu 4:

Câu 5:

Câu 6:

14


Câu 7:


Câu 8:

3.2. Kết quả khảo sát:
Mẫu khảo sát thực tế này dựa trên 1.273 người ngẫu nhiên trên địa bàn Thành phố Hồ
Chí Minh, trong thời gian từ ngày 8/10/2020 – 27/10/2020, đã thu được nhiều kết quả
như sau:

15


Phần 1: THÔNG TIN CÁ NHÂN
Câu 1:

Câu 2:

Câu 3:

16


Phần 2: CÂU HỎI KHẢO SÁT
Câu 1:

Câu 2:
Câu 3:
Câu 4:

17



Câu 5:

Câu 6:

18


Câu 7:

Câu 8:

19


3.3. Phân tích kết quả khảo sát:
Qua khảo sát từ 1.273 người đang sinh sống trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh,
trong đó có 53,8% là nữ, 46,2% là nam với mức độ tuổi khác nhau: dưới 18 tuổi chiếm
14,5%, từ 18 đến 25 tuổi chiếm 78,1%, trên 25 tuổi chiếm 4,7% và 2,7% ở độ tuổi khác.
Tỉ lệ là học sinh chiếm 34,2%, sinh viên chiếm 50,4% và 15,4% là số khác. Qua đó ta có
thể thấy rằng thực trạng vơ cảm có sức ảnh hưởng vơ cùng to lớn đến giới trẻ Việt Nam
phân bố rộng ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh.
Đối với giới trẻ Việt Nam khi được hỏi rằng bạn hãy đánh giá về thực trạng vơ cảm
hiện nay thì có 658 người (51,7%) đánh giá là nhức nhối, 512 người (40,2%) đánh giá là
bình thường và 103 người (8,1%) khơng quan tâm lắm. Từ những số liệu trên ta có thể
khẳng định rằng vô cảm thực sự là một vấn đề khá nhức nhối ở Việt Nam.
Khi khảo sát về mức độ thường xuyên giúp đỡ mọi người khi họ gặp khó khăn thì kết
quả nhận được là 29,9% đánh giá là có, 25,2% đánh giá là khơng, 28,2% đánh giá là thỉnh
thoảng, 11,1% là thường xuyên và chỉ có 5,6% đánh giá là sẽ giúp đỡ người khác bất cứ
khi nào. Hay khi được hỏi về việc sẽ làm khi thấy người khác gặp khó khăn thì kết quả là
57,7% sẽ giúp đỡ tùy vào hoàn cảnh, 29,9% là mặc kệ họ và 12,4% là sẵn sàng giúp đỡ.

Và khi khảo sát về mức độ có thường xuyên để ý đến mọi chuyện diễn ra xung quanh
khơng thì có 31,2% đánh giá có, 29,9% đánh giá khơng và 38,9% đánh giá là lúc có lúc
khơng. Những kết quả trên cho thấy rằng vẫn còn nhiều người chưa thực sự sẵn lòng để
giúp đỡ những người gặp khó khăn, hoạn nạn và nếu cứ tiếp diễn như vậy thì khả năng
cao họ sẽ dần khơng cịn một tình cảm nào đối với những sự vật, sự việc diễn ra xung
quanh, dẫn đến vơ cảm.
Nhưng bên cạnh đó khi hỏi về cảm giác khi giúp đỡ người khác đa phần câu trả lời là
thoải mái (35%), 32,5% cảm thấy vui, 23,9% cảm thấy bình thường và 8,5% khơng cảm
nhận được gì. Cùng với đó là 45,7% câu trả lời đơi lúc cảm thấy phiền, 32,5% không cảm
thấy phiền và 21,8% luôn cảm thấy phiền khi giúp đỡ người khác. Qua đó ta có thể thấy
gần một nửa số người tham gia khảo sát đã từng cảm thấy phiền khi giúp đỡ người khác,
cùng với đó là 1/3 số người khơng mấy vui vẻ khi giúp đỡ mọi người. Từ đó dễ dàng nhìn
thấy được hiện tượng vô cảm đang ảnh hưởng đến một số lượng lớn giới trẻ hiện nay.
Qua khảo sát với 2 câu hỏi cuối là bạn có thích làm việc tốt khơng và đánh giá mức
độ tốt bụng của mình, ta có thể thấy tỉ lệ giới trẻ thích làm việc tốt chiếm tỉ lệ rất cao
(45,4%) và 43,8% tự đánh giá mức độ tốt bụng ở mức cao. Nhưng bên cạnh đó vẫn cịn
4% giới trẻ khơng thích làm việc tốt và 6,4% tự đánh giá không tốt bụng. Qua đó có thể
thấy được rằng một phần giới trẻ hiện nay đang dần bị vơ cảm hóa. Để khắc phục được
tình trạng ấy thì biện pháp tất yếu là tự thân mỗi người phải thay đổi và quan tâm, giúp đỡ
người khác.
20


21


PHẦN IV: KẾT LUẬN
Đề tài đã nghiên cứu về thực trạng vô cảm trong một bộ phận giới trẻ ở Thành phố
Hồ Chí Minh. Qua đó nhận thấy được rằng vô cảm đã dần ăn sâu vào đời sống của một
phần giới trẻ, làm suy đồi giá trị đạo đức.

Vô cảm bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, từ sự phát triển quá nhanh của xã hội khiến
cho con người không bắt kịp được. Cũng từ đó họ bị cuốn sâu vào sự bộn bề, lo toan mà
quên mất đi tấm lòng yêu thương, sẻ chia với những người xung quanh mình.
“Một xã hội vơ cảm là một xã hội chết!”. Chắc hẳn chẳng ai muốn sống một cuộc
sống tẻ nhạt, vô tri vô giác như một cỗ máy. Con người ta sống ở trên đời cần phải yêu
thương, chia sẻ cho nhau những lúc khốn khó. Thấy nỗi khổ của người khác như nỗi khổ
của bản thân mình thì mới có thể giúp đỡ một cách thực tâm được.
Đối với thế hệ trẻ thì thái độ sống vơ cảm cần phải ngăn chặn trước. Dù ở trong hoàn
cảnh nào, chúng ta vẫn có thể dùng chính trái tim mình để sưởi ấm những trái tim khác
đang đầy những vết xước hơn. Bởi vậy, mỗi cá nhân cần phải tự nhận thức được suy nghĩ
của bản thân mình. Rằng khi yêu thương và sẻ chia thương yêu thì chúng ta sẽ thấy bản
thân mình sống có ích, sống tốt đẹp hơn.

22


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hoàng Lâm, Báo cáo Digital Marketing Việt Nam 2019: “Có tới 64 triệu người

dùng Internet trên tổng số 97 triệu người Việt Nam”, Andrews University, 2019
2. Phạm Anh, Học sinh đang sống vô cảm, thiếu nhân ái, Pháp Luật Thành phố Hồ

Chí Minh, 2015
3. Hồ Quang Lợi, Vô cảm – Cái chết từ trong tâm hồn, Hà Nội mới, 2014
4. Nguyễn Mạnh Thân, Khắc phục bệnh vô cảm trong học sinh, Hội Liên hiệp Phụ nữ

tỉnh Khánh Hòa, 2019
5. Administrator, Thực trạng giới trẻ hiện nay trước căn bệnh sống vô cảm,

Vieclam123, 2019


23



×