TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BÁO CÁO
HỌC PHẦN: LUẬT SO SÁNH
HỆ THỐNG PHÁP LUẬT
VƯƠNG QUỐC ANH
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện: Nhóm 06
Ths. NGUYỄN ANH THƯ
Nhóm học phần: KL105_01
Bộ môn: Luật thương mại
QUẢN LÝ …………
Cần Thơ, tháng 09 năm 2022
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHĨM 6
HỌ VÀ TÊN
MSSV
ĐÁNH GIÁ
CHÚ THÍCH
Nguyễn Lê Thế Minh
B1902783
100%
Mục 2.3
Trịnh Như Băng
B1903073
100%
Mục 1.4
Nguyễn Minh Thuận
B2009733
100%
PowerPoint
Nguyễn Nhựt Cường
B1903078
100%
Mục 1.1, 1.2
Nguyễn Thị Phương
B1903140
100%
Mục 2.4
Lê Thị Xuân Mai
C2100127
100%
Mục 1.3
Nguyễn Thị Bích Ngọc
B2009793
100%
Mục 3.1, 3.2
Nguyễn Hữu Duy Khánh
B1902769
100%
Mục 2.1, 2.2
Lê Nguyễn Kim Ngân
B1705455
100%
Mục 4.1, 4.2
Đặng Quốc Lâm
B2009697
100%
Mục 3.3
Phạm Nguyễn Yến Nhi
B1903130
100%
Tổng hợp Word
MỤC LỤC
1. CÁC THÀNH PHẦN CHỦ YẾU CỦA PHÁP LUẬT NƯỚC ANH
1.1. Giới thiệu sơ lược về Vương quốc Anh ....................................................... 1
1.2. Thơng luật ...................................................................................................... 1
1.2.1. Lịch sử hình thành ....................................................................................... 1
1.2.2. Đặc điểm của Thông luật ............................................................................. 4
1.2.3. Mô hình tố tụng............................................................................................ 5
1.3. Luật cơng bằng.............................................................................................. 6
1.3.1. Lịch sử hình thành ....................................................................................... 6
1.3.2. Đặc điểm của Luật cơng bằng ...................................................................... 9
1.3.3. Mơ hình tố tụng ............................................................................................ 9
1.4. Mối tương quan giữa Thông luật và Luật công bằng khi tiến thành cải tổ
................................................................................................................................ 10
2. HIẾN PHÁP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC
2.1. Hiến pháp bất thành văn của Anh .............................................................. 15
2.2. Hình thức nhà nước ....................................................................................... 16
2.2.1. Hình thức chính thể ..................................................................................... 16
2.2.2. Hình thức cấu trúc ........................................................................................ 17
2.2.3. Chế độ chính trị ........................................................................................... 18
2.3. Nghị viện và Nguyên thủ quốc gia .............................................................. 19
2.3.1. Nghị viện ....................................................................................................... 19
2.3.2. Nguyên thủ quốc gia .................................................................................... 22
2.4. Làm luật.......................................................................................................... 23
2.4.1. Chủ thể có thẩm quyền xây dựng dự thảo ................................................... 23
2.4.2. Chủ thể có thẩm quyền thơng qua văn bản Luật .......................................... 24
2.4.3. Chủ thể có thẩm quyền cơng bố Luật ........................................................... 26
3. HỆ THỐNG CƠ QUAN TÒA ÁN VÀ CẤU TRÚC NGUỒN LUẬT
3.1. Nhận xét chung về cấu trúc tòa án Anh ...................................................... 27
3.2. Các cơ quan tòa án ........................................................................................ 29
3.2.1. Cấp xét xử cao nhất ...................................................................................... 29
3.2.2. Tòa cấp trên (Senior Court) ........................................................................ 32
3.2.3. Tòa cấp thấp ................................................................................................ 36
3.3. So sánh hệ thống tòa án Anh và hệ thống tòa án Việt Nam ...................... 40
4. NGHỀ LUẬT VÀ ĐÀO TẠO LUẬT Ở NƯỚC ANH .................................. 44
4.1. Khái niệm nghề luật ...................................................................................... 44
4.2. Đào tạo luật ................................................................................................... 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Hệ thống pháp luật nước Anh
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT VƯƠNG QUỐC ANH
1.1. Giới thiệu sơ lược về Vương quốc Anh
Vương quốc Anh là một quốc gia nằm ở phía tây bắc châu Âu, có diện tích
rộng thứ 78 và là quốc gia đơng dân thứ 22 trên thế giới. Đây là quốc gia được
liên hiệp từ bốn quốc gia riêng lẻ: England (Anh), Scotland, Wales và Northern
Ireland. Trong đó, England, Scotland và Wales hợp nhau tạo thành Great Britain.
Vương quốc Anh có tên gọi đầy đủ và chính thức là “Vương quốc Liên hiệp Anh
và Bắc Ireland” (tên tiếng Anh là The United Kingdom of Great Britain and
Northern Ireland, gọi tắt là The UK), mọi người vẫn thường hay gọi ngắn gọn là
“nước Anh”, mặc dù khơng hồn tồn chính xác nhưng tên gọi này được sử dụng
khá phổ biến để nói đến Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland.
Thủ đô của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là London – đây
cũng là thủ đô của England, thủ đô của Scotland là Edinburgh, thủ đô của Xứ
Wales là Cardiff và thủ đô của Bắc Ireland là Belfast.
Sự hình thành Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland gồm nhiều giai
đoạn: Đầu tiên là sự hợp nhất giữa Wales và England vào năm 1535 khi mà Đạo
luật Liên minh được thông qua và cơng nhận. Tiếp theo đó, Scotland cũng trở
thành một phần của Vương quốc Anh vào năm 1707 sau khi hai nước thông qua
một hiệp định chung đồng ý thành lập một liên minh chính trị gọi là Vương quốc
Đại Anh (Kingdom of Great Britain). Cuối cùng, Đạo luật Liên Minh 1801 hợp
nhất Vương quốc Đại Anh và Ireland thành Vương quốc Liên hiệp Anh và
Ireland. Trước năm 1922, Vương quốc Anh bao gồm toàn bộ Ireland, nhưng khi
Nhà nước Tự do Ireland tách ra thành một quốc gia độc lập, chỉ còn Bắc Ireland
là một phần của Vương quốc Anh cho đến ngày nay.
1.2. Thơng luật
1.2.1. Lịch sử hình thành
a) Giai đoạn trước năm 1066
Từ thế kỉ I đến thế kỉ V, nước Anh đã chịu sự thống trị của đế chế La Mã nhưng
khơng để lại ảnh hưởng gì đáng kể, kể cả về mặt pháp luật. Sau thời kì này, nước Anh
thốt khỏi ách thống trị của đế chế La Mã, lãnh thổ Anh chia thành nhiều miền phong
kiến khác nhau, đứng đầu là các lãnh chúa phong kiến và bị chia làm nhiều vương
GVHD: Ths. Nguyễn Anh Thư
1
Nhóm 06
Hệ thống pháp luật nước Anh
quốc nhỏ với các hệ thống pháp luật mang tính địa phương, chủ yếu là ảnh hưởng từ
các quy tắc tập quán và thực tiễn của các bộ lạc người Germanic.
Về pháp luật:
Trong gần 4 thế kỷ cai trị nước Anh đế quốc La Mã đã để lại những ảnh hưởng
nặng nề với nền văn hóa Anh cũng như cách thức xây dựng hệ thống đường xá, thói
quen sử dụng tiếng Latinh,..Tuy nhiên, đế quốc La Mã đã không ban cho người dân hệ
thống pháp luật La Mã. Vì lẽ đó, luật La Ma hầu như không áp dụng ở Anh, nguồn luật
áp dụng chủ yếu là các tập quán địa phương, chưa có hệ thống pháp luật thống nhất,
tồn tại nhiều vùng, miền khác nhau với nhiều tập quán khác nhau, những tập quán này
được người Anh gọi là Luật.
Ví dụ: Luật Dane được áp dụng ở miền Bắc, Luật Mercia ở miền Trung và Luật
Wessex ở miền Tây và miền Nam. Đặc điểm của tập quán: áp dụng theo nguyên tắc
vùng, các tập quán rất đa dạng giữa các vùng, tập quán của vùng nào chỉ áp dụng cho
vùng đó khi các bên có tranh chấp thường áp dụng tập quán địa phương để phân xử.
Những người già sẽ đứng ra giải thích chính xác các tập quán địa phương áp dụng cho
các tranh chấp đó.
Về tư pháp:
Các tịa án của các lãnh chúa phong kiến với phương thức xét xử sử dụng các
yếu tố siêu nhiên, thần thánh. Sự hiện diện của nhiều hệ thống tòa án khác nhau được
gọi là các tịa án truyền thống. Ở mỗi địa phương, đều có các tịa địa hạt được chủ trì
bởi các giám mục và các hạt trưởng, thực hiện việc xét xử dựa trên những tập qn địa
phương. Ngồi ra, cịn có Tịa án Giáo hội sử dụng luật của Giáo hội ,tòa án ở các
thành phố áp dụng Luật thương gia và Tòa Lãnh chúa áp dụng các quy tắc tập quán
phong kiến.
b) Giai đoạn từ năm 1066 - 1485
Đây là giai đoạn hình thành Thơng Luật, bắt đầu vào năm năm 1066 người
Norman đánh bại người Anglo – Sacxon trong trận Hastings, thống trị nước Anh.
William I vốn là một người Pháp lên ngơi vua, ơng vẫn duy trì tập qn pháp của Anh.
Nhưng trên thực tế lại cố làm cho mọi người quên đi ảnh hưởng của quá khứ và xây
dựng một chế độ phong kiến tập quyền nhằm nắm độc quyền trong mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội kể cả lĩnh vực tư pháp. Thuật ngữ “Luật chung” (Common Law) xuất
phát từ quan điểm cho rằng các tòa án do nhà vua lập ra, áp dụng các tập quán chung
GVHD: Ths. Nguyễn Anh Thư
2
Nhóm 06
Hệ thống pháp luật nước Anh
của vương quốc, trái ngược với những tập tục luật pháp địa phương áp dụng ở các
miền hay ở các tòa án của điền trang, thái ấp phong kiến.
Đến thời vua Henry II (1133 - 1189) là giai đoạn phát triển của một hệ thống
Common law có tính chất quốc gia. Vua Henry II đã gửi các thẩm phán hồng gia tới
nắm tịa án ở các nơi. Trong nhiều thập kỉ, họ đã phải cạnh tranh với các tòa án ở địa
phương như tòa án của tỉnh, tòa án giáo hội, tòa án của lãnh chúa phong kiến… ơng
đưa các thẩm phán từ tịa án Hoàng gia đi khắp nơi trong nước và sưu tầm, chọn lọc
cách thức giải quyết các tranh chấp. Sau đó những thẩm phán này sẽ trở về thành Luân
Đôn và thảo luận về những vụ tranh chấp đó với các thẩm phán khác.
Những phán quyết này sẽ được ghi lại và dần trở thành án lệ, hay theo Tiếng
Latinh là stare decisis. Theo đó, khi xét xử thẩm phán sẽ chịu sự ràng buộc bởi những
phán quyết đã có từ trước đó. Đến cuối thế kỉ XIII, các Tịa án Hồng gia thắng thế
trong việc xét xử vì chất lượng xét xử tốt và trình độ chun mơn cao. Dần dần, các
tòa án địa phương lấy án lệ của Tòa án Hồng gia làm khn mẫu.
Common law bắt đầu chiếm vị trí quan trọng và thu hút nhiều cơng việc pháp lý,
mặc dù trong một thời gian dài đã phải cạnh tranh với nhiều hệ thống pháp lý: luật tập
quán địa phương, luật thương gia hay các quy tắc tập quán phong kiến đã tạo ra một hệ
thống luật chung và sáng tạo ra một hệ thống tòa án thống nhất đầy quyền năng, Thuật
ngữ "Common Law" bắt đầu xuất hiện từ năm 1154 dưới thời vua Henry II.
Các nguyên tắc bền vững của luật chung đã được tạo ra bởi ba tòa án được vua
Henry II thành lập là Tịa án Tài chính để xét xử các tranh chấp về thuế, Tịa án thỉnh
cầu Phổ thơng đối với những vấn đề không liên quan trực tiếp đến quyền lợi của nhà
vua và Tịa án Hồng Đế để giải quyết những vụ việc liên quan trực tiếp đến quyền lợi
của Hồng gia. Đầu tiên, Tịa án Hồng Đế có thẩm quyền kiểm tra sự lạm quyền của
chính nhà vua, từ đó hình thành ra ngun tắc căn bản của luật chung là sự tối thượng
của pháp luật. Ngày nay nguyên tắc này không phải chỉ áp dụng cho vua, mà mọi hành
vi của chính quyền đều có thể bị đưa ra xét xử trước tòa án.
Thời kỳ này sự ra đời và phát triển của hệ thống trát hay là lệnh gọi ra tòa. Một
người muốn kiện lên tòa án Hoàng gia phải đến Ban thư ký của nhà vua (chancery),
đóng phí và được cấp trát. Trát nêu rõ cơ sở pháp lý mà bên nguyên đưa ra cho vụ việc
của mình. Hệ thống trát có vai trị quan trọng như câu khẩu hiệu: "no writ no remedy"
(tạm dịch là khơng có trát thì khơng có chế tài). Hệ thống trát mang đặc trưng của pháp
luật Thông luật, chứng tỏ vai trò quan trọng của các thủ tục tố tụng. Đó là điều mà giới
GVHD: Ths. Nguyễn Anh Thư
3
Nhóm 06
Hệ thống pháp luật nước Anh
Luật gia Anh cho rằng luật La Mã chỉ giúp cho việc tìm kiếm giải pháp đúng đắn cho
tranh chấp nhưng chưa cho phép thắng kiện.
Thơng luật hình thành tách biệt với quyền lập pháp. Thơng luật hình thành bằng
con đường nội tại. Sự hình thành thơng luật có tính liên tục và kế thừa lịch sử pháp
luật các giai đoạn trước. Nguyên tắc Stare Decisis (tiền lệ phải được tuân thủ) được
hình thành và trở thành nguyên tắc rất quan trọng trong hệ thống thông luật.
1.2.2. Đặc điểm của Thông luật
Thông luật không được tìm thấy trong các Bộ luật ,Đạo luật
Theo đó Thơng luật được tìm thấy trong các phán quyết của các thẩm phán, ghi
nhận lại kết quả giải quyết những tình huống có thật trong thực tiễn. Nói một cách
chính xác, Thơng luật được tìm thấy trong tập hợp tiền lệ pháp được tích lũy trong
nhiều năm.
Thơng luật Anh được hình thành thông qua thực tiễn xét xử
Các thẩm phán của toà án hoàng gia được đưa đi xét xử lưu động trên khắp lãnh
thổ Anh để sưu tập, chắc lọc cách thức giải quyết tranh chấp, sau đó trở về và cùng
nhau thảo luận các vụ tranh chấp đó, những phán quyết của toà án hoàng gia được ghi
chép lại và dần dần hình thành án lệ.
Thơng luật Anh coi trọng luật tố tụng hơn luật nội dung
Biểu hiện rõ nhất cho đặc điểm này phải nói đến sự tồn tại của hệ thống trát
(Writ) hay còn gọi là lệnh, hiểu chung nhất trát là một loại giấy nhân danh đức Vua ra
lệnh cho bị đơn hoặc phải tuân thủ các yêu cầu của bên nguyên hoặc bị xét xử và tuân
thủ phán quyết. Điều kiện có được trát là trình thỉnh cầu lên nhà Vua thơng qua văn
phịng hồng gia (Đại pháp quan) nếu được văn phịng hồng gia chấp nhận bên
ngun sẽ đóng phí rồi được cấp trát. Sự tồn tại của trát là một trong những biểu hiện
bên ngoài cho thấy pháp luật Anh coi trọng thủ tục khiến cho người dân khó tiếp cận
được với cơng lý, cụ thể là khơng có trát là khơng có quyền, nếu không lựa chọn đúng
loại trát, vụ việc sẽ bị bãi bỏ sau vài lần theo đuổi vụ kiện tụng và phải tiến thành theo
đuổi lại vụ kiện từ đầu. Điều này làm cho Thông luật dần dần trở nên cứng nhắc.
Sự hình thành Thơng luật có tính liên tục và kế thừa lịch sử pháp luật giai
đoạn trước
Tính kế thừa thể hiện ở việc Thơng luật Anh hình thành trên cơ sở tập quán địa
phương chứ không tiếp nhận pháp luật nước ngoài ở đây là Luật Lã Mã.
GVHD: Ths. Nguyễn Anh Thư
4
Nhóm 06
Hệ thống pháp luật nước Anh
Tính liên tục thể hiện ở chỗ do xã hội Anh chưa trải qua một cuộc biến động nào
sâu sắc tới mức làm thay đổi bản chất của pháp luật và cũng chưa trải qua một cuộc
pháp điển hóa nào tồn diện.
Nội dung và phương thức áp dụng nguyên tắc “Stare decisis” - “tiền lệ phải
được tuân thủ”
Nguyên tắc stare decisis nguyên tắc tiền lệ phải được tuân thủ. Theo nguyên tắc
này các thẩm phán khi xét xử phải căn cứ vào những bản án đã có trước đó nếu như có
sự tương tự về mặt tình tiết. Nghĩa là, những vụ việc có tình tiết tương tự nhau sẽ áp
dụng như nhau. Nguyên tắc này được coi là nguyên tắc xương sống cho sự tồn tại và
phát triển của Thông luật. Ban đầu nguyên tắc này khơng chính thức bắt buộc nhưng
dần dần vào khoảng giữa thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX nguyên tắc này chính thức áp
dụng. Khi pháp luật thành văn không tồn tại, nguyên tắc này là điều kiện tiên quyết đối
với bất cứ hệ thống pháp luật nào muốn duy trì tính có thể dự đốn trước ở một mức
độ nhất định và sự tôn trọng các quy định của pháp luật. Nguyên tắc Stare decisis chưa
bao giờ trở thành luật nhưng xây dựng dựa trên hoạt động của các tịa án và tịa án có
thể quyết định sửa đổi ngun tắc này. Chính vì vậy, tịa án cao nhất nước Anh tuyên
bố vào năm 1966 rằng: Thượng nghị viện sẽ không bị bắt buộc phải theo các án lệ của
mình nữa.
1.2.3. Mơ hình tố tụng
Quy trình tố tụng thời kỳ này gắn liền với sự ra đời và phát triển của hệ thống trát
(tạm dịch là lệnh ra tịa). Trát là văn bản hành chính dưới dạng một bức thư được
chứng thực bằng dấu đóng trên trát được dùng vào mục đích hành chính và tư pháp.
Vua cấp trát nghĩa là Vua ra lệnh cho bên liên quan thi hành công lý ngay lập tức với
bên đương sự có tên trong trát. Vua khơng trực tiếp cấp trát mà ủy quyền cho viên đại
pháp quan.
Trát được sử dụng như một loại giấy thông hành do Vua cấp để bên ngun đơn
có thể bước qua cửa Tịa án Hồng gia, tiếp cận với công lý nhằm giải quyết những
oan khuất của mình. Mỗi loại khiếu kiện sẽ có một loại trát tương ứng, vì vậy, tùy
thuộc vào bản chất của việc khiếu kiện mà bên nguyên cần giành được loại trát phù
hợp mới hi vọng đơn khiếu kiện của mình được Tịa án Hồng gia thụ lý và giải quyết.
Vào thế kỷ XV, thủ tục tố tụng ngày càng bị chi phối mạnh bởi hệ thống trát do
đó thủ tục tố tụng thường được coi trọng hơn cả quyền lợi đang bị tranh chấp trong vụ
kiện. Nếu đơn khiếu kiện không rơi vào một trong những vụ việc đã có trát lưu hành,
GVHD: Ths. Nguyễn Anh Thư
5
Nhóm 06
Hệ thống pháp luật nước Anh
bên nguyên đơn sẽ mất quyền khởi kiện, hoặc nếu bên nguyên giành được trát nhưng
trát đó khơng phù hợp với bản chất của vụ kiện, bên nguyên cũng bị tòa bác đơn.
Đến thế kỷ thứ XVI, khi đó xuất hiện một thực tiễn pháp lý là khi luật “Common
Law” không đủ sức để giải quyết một vụ việc, và người đi kiện cho rằng cách giải
quyết của Common Law là chưa thỏa đáng. Chính điều này là cơ sở để xuất hiện hệ
thống mới là hệ thống pháp luật cơng bằng.
Tính linh hoạt của Thông luật là kịp thời giải quyết các quan hệ xã hội pháp luật
các thẩm phán có vai trị quan trọng trong việc xây dựng và áp dụng luật dưới hình
thức án lệ. Đối với những quan hệ xã hội có nhu cầu giải quyết bằng pháp luật trước
tịa ln được đáp ứng, khơng có trường hợp Tịa từ chối giải quyết với lý do khơng có
luật, nếu chưa có tiền lệ thì có thể tạo ra tiền lệ mới. Mang tính thực tiễn cao do các
thẩm phán khi giải quyết vụ việc khơng nhằm mục đích tạo ra các quy tắc mà chủ yếu
nhằm giải quyết tranh chấp của các bên về những vấn đề nhất định trong một vụ việc
cụ thể. Mang tính mềm dẻo bởi các quy tắc tồn tại trong các phán quyết của tịa án
khơng rõ ràng như các quy phạm pháp luật trong văn bản pháp luật thành văn nên khi
một quy tắc không hợp lý hoặc không phù hợp nữa với điều kiện kinh tế - xã hội mới
thì các thẩm phán sẽ tìm cách phân biệt để tránh áp dụng tiền lệ đó hay hủy bỏ khơng
như văn bản pháp luật thành văn là cái gì đó q khơ khan và cứng nhắc.
Tính cứng nhắc của hệ thống thể hiện ở chỗ thẩm phán buộc phải tuân thủ theo
những tiền lệ mà họ cho rằng không đầy đủ hoặc không mang giá trị pháp lý cao.
Thẩm phán sẽ khó khăn khi nhận định trong những điều kiện hồn cảnh như nhau
nhưng tình tiết vụ việc lại hoàn toàn khác nhau, trong trường hợp này thẩm phán phải
so sánh và hình thành nên một tiền lệ mới, và như vậy sẽ làm phức tạp thêm khi áp
dụng luật. Khơng mang tính hệ thống và các quy tắc tồn tại trong bản án không rõ ràng
như các quy phạm pháp luật trong các văn bản pháp luật thành văn gây ra trở ngại
trong nhận thức và áp dụng pháp luật thống nhất. Điều khó khăn nhất là xác định các
quy tắc, suy luận và tìm kiếm chúng trong lời lẽ của các thẩm phán được ghi lại trong
bản án khi giải quyết một vụ việc cụ thể với nhiều tình tiết phức tạp. 1
1.3. Luật cơng bằng
1.3.1. Lịch sử hình thành
Sự khủng hoảng của Thơng luật
1
Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình luật so sánh, Nxb CAND, Hà Nội, 2017, tr 201.
GVHD: Ths. Nguyễn Anh Thư
6
Nhóm 06
Hệ thống pháp luật nước Anh
Khi mới ra đời trong giai đoạn đầu, Thông luật không bị cản trở bằng yếu tố kỹ
thuật nhưng trong quá trình phát triển, đặc biệt trong mối quan hệ với hệ thống trát,
Thông luật đã dần trở nên phức tạp, cứng nhắc và dẫn đến những bất công trong xét
xử, các thẩm phán cũng khơng tìm được nguồn luật thích hợp để áp dụng giải quyết
những tranh chấp mới này và vẫn phải áp dụng các quy định cũ của Thông luật để xét
xử, thực tế này đã làm nảy sinh nhu cầu tìm kiếm giải pháp mới để khắc phục bất công
trong xã hội và giải pháp đó chính là Equity được văn phòng Đại pháp quan khai thác
để giải quyết các vụ việc không được giải quyết hoặc chưa được giải quyết thỏa đáng
bởi các tịa án Hồng gia. Các thẩm phán cũng khơng tìm được nguồn luật thích hợp
để áp dụng giải quyết những tranh chấp mới này và vẫn phải áp dụng các quy định cũ
của Thông luật để xét xử.
Nhà Vua với vị trí cấp xét xử cao nhất
Sự cứng nhắc của Thông luật, đặc biệt trong thủ tục xét xử, nhiều người khởi
kiện không thỏa mãn với phán quyết của các Tịa án hồng gia thường tiếp tục khiếu
kiện lên Vua nhằm tìm kiếm sự trợ giúp đặc biệt. Họ coi Vua là người có quyền lực tối
cao và là biểu tượng của công lý, lẽ công bằng. Đơn thỉnh cầu trước khi đến tay nhà
Vua sẽ được chuyển đến cho vị Đại pháp quan. Đại pháp quan có quyền tiếp nhận và
trình lên đức Vua đơn thỉnh cầu của các bên khi Tịa án Hồng gia khơng thể đưa ra
các phán quyết công bằng theo quy định của Thông luật.
Ảnh hưởng của Luật giáo hội và uy tín của Vị Đại chưởng ấn trong bộ máy
quyền lực của Nhà Vua
Vào thế kỉ XV, giáo hội đóng một vai trò rất quan trọng trong xã hội và đời sống
tinh thần của nhân dân. Đại pháp quan thường là giám mục cơ đốc giáo nên ln có
được niềm tin của các thần dân. Do đó, nhà Vua muốn thơng qua vai trò của Đại pháp
quan, lợi dụng đức tin của thần dân để giải quyết các tranh chấp, đồng thời để tạo sự
ổn định trong xã hội vì giai đoạn này giai cấp tư sản bắt đầu hình thành và mâu thuẫn
với giai cấp phong kiến.
Do những thỉnh cầu gửi lên càng ngày càng nhiều, tranh chấp càng ngày càng đa
dạng, phức tạp, chưa kể là có những đơn thỉnh cầu, những tranh chấp vặt vãnh, dần
dần nhà Vua trao toàn quyền cho vị Đại pháp quan giải quyết các vụ việc. Các vụ kiện
được xét xử dựa theo cảm tính, quan niệm chủ quan về đạo đức,về sự công bằng của
nhà Vua và Đại pháp quan. Đại pháp quan có quyền nhân danh nhà Vua độc lập giải
GVHD: Ths. Nguyễn Anh Thư
7
Nhóm 06
Hệ thống pháp luật nước Anh
quyết các đơn thỉnh cầu dựa trên quan niệm chủ quan của mình. Đại pháp quan có tồn
quyền quyết định các vấn đề như: thủ tục xét xử, nguồn luật áp dụng.
Đại pháp quan là linh mục nên chịu ảnh hưởng của những luật lệ, quy tắc của
giáo hội và một phần của luật La Mã. Thủ tục tố tụng giải quyết các vụ việc là thủ tục
thành văn lấy từ Luật giáo hội áp dụng vào vụ việc.
Sự hình thành Tịa đại pháp quan
Đại pháp quan là thư ký của Vua và là người chịu trách nhiệm quản lý bộ máy
hành chính của nhà nước, là người phát hành trát, do đó có kiến thức sâu sắc về Thông
luật và các giải pháp của Thơng luật. Trong q trình sử dụng cơng lý để giải quyết các
vụ việc, cùng với thời gian, các phán quyết của Đại pháp quan đã phát triển thành tập
hợp những quy phạm pháp luật đặc biệt, được nhắc đến dưới danh nghĩa “Equity”.
Trong vài thế kỷ đầu kể từ khi ra đời, Equity đã phát triển độc lập, bên ngồi Tịa án
Hồng gia.
Trong suốt thế kỷ XV, Đại pháp quan quyết định vụ việc cho là thích hợp. Các
phán quyết này sau đó đã được các viên Đại pháp quan kế nhiệm phát triển thêm, tùy
thuộc vào nhận thức cá nhân của mỗi viên Đại pháp quan về sự công bằng và lẽ phải.
Từ cuối thế kỷ XVI, các phán quyết của Đại pháp quan đã được xuất bản định kỳ
và ngay tức khắc, Đại pháp quan bị ràng buộc bởi tiền lệ pháp, giống như các thẩm
phán của Tịa án Hồng gia. Hoạt động của đại pháp quan ngày càng mang tính tư
pháp và văn phịng của Đại pháp quan đã trở thành Tòa đại pháp với thẩm phán duy
nhất là bản thân viên Đại pháp quan.
Từ khoảng nửa đầu thế kỷ XVIII, Đại pháp quan đã được trợ giúp trong hoạt
động xét xử bởi viên trợ lý, chịu trách nhiệm lưu giữ hồ sơ và sổ sách của Tòa đại
pháp. Như vậy, trong thế kỷ XVIII, các quy phạm pháp luật được áp dụng ở tòa Đại
pháp cũng đã bị cố định bởi các phán quyết của tịa đại pháp trong q khứ và được
định hình thành những quy phạm theo đúng nghĩa pháp luật, giống kiểu quy phạm của
Thông luật.
Như vậy, từ đầu thế kỷ XVI, ở Anh tồn tại song song hai hệ thống pháp luật là
Thông luật và Luật công bằng với hai hệ thống quy phạm riêng biệt quy phạm Thông
luật chỉ được áp dụng ở tịa Thơng luật và quy phạm cơng bằng chỉ được áp dụng ở
Tịa cơng bằng. Sự hình thành và phát triển của Luật công bằng là nhằm sửa đổi và bổ
GVHD: Ths. Nguyễn Anh Thư
8
Nhóm 06
Hệ thống pháp luật nước Anh
sung cho Thông luật, để hồn tất Thơng luật chứ khơng nhằm mục đích thay thế Thông
luật.
1.3.2. Đặc điểm của Luật công bằng
Về cơ bản, giống như Thông luật, Luật công bằng được tạo ra bởi các thẩm phán
chứ không phải bởi con đường lập pháp. Tuy nhiên, ban đầu Luật công bằng ra đời với
mục đích bổ sung cho Thơng luật nên so với Thơng luật thì Luật Cơng bằng có một số
đặc điểm như các quy phạm thể hiện tính đạo đức, linh hoạt, mềm dẻo và ảnh hưởng
nhiều bởi Luật Giáo hội. Ngồi ra hoạt động xét xử của tịa cơng bằng thể hiện tính
chất cá nhân, chủ quan. Mặt khác, các thủ tục pháp lý, thủ tục xét xử đa dạng, đơn giản
hơn so với Thông luật (không bị ràng buộc nặng nề bởi hệ thống trát).
Luật cơng bằng có hệ thống phương tiện pháp lý hoàn toàn mới mẻ, linh hoạt
hơn Thơng luật:
- Tính mềm dẻo: Khơng bị ràng buộc bởi án lệ, chỉ dựa trên sự cơng bằng vì luật
công bằng là quan điểm của cá nhân thẩm phán.
- Tính mới mẻ, linh hoạt: Có thêm 3 cơng cụ mới là tuyên bố quyền của bên
nguyên đơn, buộc bị đơn thực hiện một hành vi nào đó hoặc cấm bị đơn thực hiện một
hành vi nào đó. Nhờ những giải pháp pháp lý của tịa cơng bằng mà những quy định về
ủy thác (giao tài sản cho người khác quản lý) phát triển mạnh.
1.3.3. Mơ hình tố tụng
Tổ chức nhân sự của Tịa cơng bằng đơn giản hơn Tịa Thơng luật. Thẩm phán
của tịa cơng bằng sẽ đưa ra quyết định thơng qua q trình xét hỏi bị đơn mà khơng có
sự tham gia của bồi thẩm đồn.
Thủ tục tố tụng của Tịa cơng bằng đơn giản hơn Tịa Thơng luật. Tịa đại pháp
mở đầu q trình tố tụng không phải bằng trát mà bằng đơn thỉnh cầu, không có mẫu
in sẵn, Với đơn viết tay như thế, mọi oan ức của người dân có thể nhờ cơng lý mà
được giải quyết. Đại pháp quan sẽ phát hành trát triệu tập địi bên bị cáo phải có mặt
tại tịa mà không cần nêu lý do hay cơ sở pháp lý nếu bên nguyên có lý và cần được
bảo vệ. Bên bị cáo sẽ bị tịch thu tài sản, bắt giữ, thậm chí bị bỏ tù nếu khơng có mặt tại
tịa.
Về mặt chứng cứ luật cơng bằng ít coi trọng hơn so với Thơng luật. Tại Tịa đại
pháp, Đại pháp quan xét xử dựa vào nội dung vụ việc và quyền lợi của các bên tranh
chấp. Thẩm phán của Thông luật chỉ đóng vai trị là trọng tài (các bên phải tự đưa ra
GVHD: Ths. Nguyễn Anh Thư
9
Nhóm 06
Hệ thống pháp luật nước Anh
chứng cứ không bên nào bắt buộc được bên kia trình ra), thì thẩm phán của tịa cơng
bằng có thể can thiệp và bắt buộc các bên trình ra chứng cứ hoạt động xét xử của Tịa
cơng bằng thể hiện tính chất cá nhân, chủ quan của các Đại pháp quan.
Tại Tòa đại pháp, Đại pháp quan xét xử dựa vào nội dung vụ việc và quyền lợi
của các bên tranh chấp, còn tại Tòa án Thơng luật thì lại rất coi trọng chứng cứ. Trong
quá trình xét xử, Đại pháp quan tiến hành thẩm vấn nhằm phát hiện tình trạng lương
tâm của bị đơn để gột rửa lương tâm cho bị đơn khi cần thiết. Bên bị sẽ phải trả lời
những câu hỏi trên cơ sở tuyên thệ do Đại pháp quan đưa ra. Những câu hỏi thông
minh của Đại pháp quan buộc bị đơn tự khai ra các tình tiết của vụ việc, trên cơ sở đó
có thể khép bị đơn vào một tội, một lỗi nào đó. Đây là thủ tục tố tụng đặc biệt khơng
hề được sử dụng tại Tịa án Thông luật ở cùng thời.
1.4. Mối tương quan giữa Thông luật và Luật công bằng khi tiến hành cải tổ
từ thế kỷ XIX
Giai đoạn trước cải cách tòa án 1873-1875
Luật công bằng chỉ được xem là một bộ phận bổ sung cho Thông luật.
Trước cải cách, các thẩm phán luôn tỏ ra tinh thần tôn trọng pháp luật. “Luật
công bằng đi sau Thông luật” là một trong những định lý do Tịa cơng bằng đưa ra. Vì
thế, Luật cơng bằng ra đời chỉ đóng vai trị hỗ trợ, làm giảm tính cứng nhắc của Thơng
luật, giúp cho Thơng luật hồn hiện hơn. Nhờ Luật cơng bằng, q trình xét xử được
diễn ra phù hợp với những yêu cầu của đạo đức và lương tâm.
Các phán quyết của Tịa cơng bằng khơng chỉ được áp dụng ở Tịa cơng bằng mà
cịn được các thẩm phán của Tịa Thơng luật tham khảo với tư cách là những lẽ phải, lẽ
công bằng để bổ sung cho “luật”. Như vậy, tính đến trước cuộc cải cách Tịa án, nước
Anh đã có hai hệ thống tịa án độc lập với nhau. Trong đó, mỗi tịa án áp dụng một thủ
tục tố tụng và quy phạm pháp luật riêng biệt.
Giai đoạn sau cải cách tòa án
Nguyên nhân cuộc cải cách: Do mỗi tòa án sử dụng một thủ tục tố tụng cũng như
pháp luật hoàn toàn khác nhau đã làm tăng thêm tính phức tạp, gây tốn kém cho người
khởi kiện. Vì thế, người Anh đã tiến hành cuộc cải cách để chấm dứt tính hai mặt của
thủ tục tố tụng , họ không loại bỏ một hệ thống tòa án nào mà thực hiện sáp nhập cả
hai hệ thống tòa án thành một bằng các luật về tổ chức tòa án từ năm 1873 đến 1875.
GVHD: Ths. Nguyễn Anh Thư
10
Nhóm 06
Hệ thống pháp luật nước Anh
Kết quả cuộc cải cách:
- Thứ nhất, xóa bỏ sự tồn tại song song của hai nhánh tịa án, chấm dứt tính hai
mặt của thủ tục tố tụng. Trước cải cách, nguyên đơn thay vì phải nộp hai đơn khác
nhau tại hai tòa khác nhau thì sau cải cách chỉ cần nộp một đơn tại một tịa. Tịa này
vừa có thẩm quyền đối với vụ việc của Thơng luật vừa có thẩm quyền đối với vụ việc
của Luật công bằng. Tuy nhiên, việc cải cách chỉ mang tính hình thức, những quy định
của Thơng luật và Luật công bằng vẫn được áp dụng theo hai trình tự, thủ tục khác
nhau. Cụ thể: Bộ phận Vành móng ngựa Hồng gia hoạt động theo thủ tục tố tụng vấn
đáp và tranh tụng của Thông luật, bộ phận công lý theo thủ tục thành văn của Luật
công bằng.
- Thứ hai, cuộc cải cách đã bãi bỏ hình thức đơn kiện trát, thay vào đó tất cả vụ
việc dù được tiến hành theo thủ tục nào cũng bắt đầu bằng một loại trát chung là trát
hầu tòa.
❖ So sánh Thơng luật và Luật cơng bằng
Thơng Luật
Nguồn gốc
Vị trí
Luật cơng bằng
Xuất phát từ Tịa Án Hồng Gia.
Xuất phát từ tịa Đại Pháp quan.
Là quy phạm chủ yếu.
Quy phạm Luật công bằng có
chức năng bổ sung cho quy phạm
Thơng luật.
Sự ra đời của Luật công bằng bắt
Thông luật Anh ra đời vào thế kỉ XIII và phải đầu vào thế kỉ XV khi Nhà vua
Thời điểm
đến thế kỉ XV thì mới hoàn thiện khi hội tụ
đầy đủ các yếu tố cơ bản: có hệ thống tịa án
tập trung; có đội ngũ Thẩm phán, luật sư giàu
kinh nghiệm; các phán quyết được cơng bố và
xuất bản
thành lập ra tịa án cơng bằng
được xét bằng các thẩm phán xuất
thân từ linh mục. Và đến thế kỉ
XVI Luật cơng bằng chính thức
được bổ sung vào hệ thống pháp
luật Anh.
Không cần sự tham gia của bồi
Phải có bồi thẩm đồn;Tranh tụng bằng lời,
Thủ tục xét xử
thẩm đoàn, xem xét vấn đề trên
theo nguyên tắc tố tụng đối kháng.
hồ sơ và thẩm vấn.
Thủ tục pháp
Bị ràng buộc bởi án lệ, thủ tục phức tạp.
GVHD: Ths. Nguyễn Anh Thư
11
Thường mang tính tùy nghi, phụ
Nhóm 06
Hệ thống pháp luật nước Anh
thuộc vào thẩm phán, trên cơ sở
đạo đức và lương tâm.
lý
Trước năm 1066, nước Anh bị phân quyền các Thứ nhất, về lĩnh vực dân sự: khi
cứ, pháp luật mỗi nơi mỗi khác và được điều nguyên tắc “stare dicisis” –
chỉnh bởi tập quán mỗi địa phương. Đến khi nguyên tắc tiền lệ phải được tuân
Wiliam lên ngôi, ông đã thực thi quyền lực của thủ ra đời nó đã trở thành tiền đề
quan chánh án tối cao, chỉ giải quyết những cho sự tồn tại và phát triển của
vấn đề làm Hoàng gia lo ngại ở Westminster Thơng luật. Tuy nhiên cũng chính
và những tranh chấp hết sức đặc biệt; còn nguyên tắc này cũng tạo ra sự
những vấn đề ở địa phương vẫn tiếp tục do các cứng nhắc trong việc đưa ra phán
tòa án quận/huyện và tòa án bách hộ khu giải quyết của các thẩm phán bởi
quyết. Tuy nhiên, khi thực hiện cuộc cải cách khơng có án lệ để điều chỉnh các
của mình, Wiliam đệ nhất đã gặp những khó quan hệ mới nên thẩm phán
khăn về tài chính, để khắc phục tình trạng đó thường áp dụng các án lệ cũ để
Chính phủ Hồng gia trung ương can thiệp vào giải quyết vụ việc. Một hạn chế
các quan hệ dân sự và hình sự có liên quan đến khác đó là chế tài của Thơng luật
nghĩa vụ nộp thuế nhằm tạo ra nguồn thu mới
cho Hoàng gia. Bằng cách đó, tư pháp Hồng
gia đã phát triển trong giai đoạn từ thế kỉ XII
tới thế kỉ XIII từ thẩm quyền đặc biệt để giải
quyết những vụ việc tài chính quốc gia trở
trong lĩnh vực này chủ yếu là phạt
tiền vì thế chưa đủ mạnh để ngăn
chặn các bên phá vỡ giao dịch
hợp đồng. Từ đó dẫn đến sự bất
bình lớn trong giới tư sản nói
thành thẩm quyền chung, giải quyết phạm vi riêng và cộng đồng người dân nói
rộng rãi các vụ việc, từ đó xuất hiện q trình chung.
xét xử lưu động của Tịa án Hồng gia. Bên Thứ hai, chế tài trong lĩnh vực
cạnh quá trình xét xử lưu động là q trình
thảo luận tại Ln Đơn của các Thẩm phán
Hoàng gia xung quanh các ghi chép qua từng
vụ việc ở từng địa phương, từ quá trình thảo
luận này, các Thẩm phán rút ra kết luận luật và
tập quán của địa phương nào là tối ưu nhất khi
áp dụng trên thực tiễn. Do ảnh hưởng từ những
kết luận này, dần dần các quy định chung được
hình sự ngày càng nghiêm khắc,
các hình phạt đau đớn vẫn được
áp dụng do ảnh hưởng từ các tập
quán
pháp
trước
đó
Thứ ba, thủ tục tố tụng ngày càng
trở nên phức tạp bởi sự tồn tại của
hệ thống trát. Thực tiễn áp dụng
hệ thống trát trong hoạt động xét
các thẩm phán áp dụng trên khắp đất nước dựa xử của tịa án Hồng gia đã làm
trên thói quen tham khảo (bởi tiền lệ pháp cho thẩm quyền của các tịa án
GVHD: Ths. Nguyễn Anh Thư
12
Nhóm 06
Hệ thống pháp luật nước Anh
chưa ra đời nên chưa có tính bắt buộc áp này bị giới hạn nghêm trọng vì
dụng), và từ đó hình thành nên luật chung nếu đương sự khơng có trát thích
trong hệ thống pháp luật nước Anh.
hợp thì tịa án khơng thể tiến hành
xét xử vụ việc. Do sự cứng nhắc
của Thông luật và sự phức tạp
trong thủ tục tố tụng được sử
dụng tại tịa án Hồng gia đã làm
cho bên ngun rất nhiều trường
Ngun nhân
hợp bị bác đơn hoắc bị thua kiện
vì lí do kĩ thuật.Từ những thực tế
trên đã nảy sinh nhu cầu tìm kiếm
những giải pháp để khắc phục khi
người dân không thể tiếp cận với
công lý hay họ không thỏa mãn
với các giải pháp của tịa Thơng
luật. Khi đó người dân sẽ tìm
cách thỉnh cầu lên nhà vua để tìm
sự công bằng, thỉnh cầu của
nguyên đơn sẽ được xem xét bởi
Đổng lý văn phòng trước khi
dâng lên nhà vua. Dần dần, nhà
vua giao toàn quyền giải quyết
cho Đổng lý văn phịng vì vậy
Văn phịng đại pháp đã phát triển
thành Tịa đại pháp. Trong q
trình sử dụng cơng lí để giải quyết
các vụ việc, cùng với thời gian,
các phán quyết của Đại pháp quan
đã phát triển thành tập hợp những
quy phạm pháp luật đặc biệt, đó
là những quy phạm của Luật cơng
bằng.
GVHD: Ths. Nguyễn Anh Thư
13
Nhóm 06
Hệ thống pháp luật nước Anh
Trước khi Thông luật ra đời, tập quán pháp là Thông luật ra đời và phát triển
nguồn luật chiếm ưu thế tuyệt đối, mỗi địa ngày càng mạnh trên tồn lãnh
phương khác nhau có tập quán khác nhau nên thổ nước Anh, tuy nhiên cùng với
giải quyết các vụ việc các vụ việc tương tự sự phát triển đó, Thơng luật cũng
nhau ở mỗi nơi mỗi khác. Thẩm quyền xét xử bộc lộ những khuyết điểm và sự
Mục đích
vào tay các lãnh chúa phong kiến cịn Tịa án cứng nhắc của mình. Vì thế Luật
Hồng gia chỉ xét xử một số vụ việc đặc biệt Công bằng ra đời nhằm khắc
liên quan đến sự tồn vong của vương quốc, phục những khiếm khuyết của
liên quan đến Hồng gia và thuế. Vì thế, Luật Thơng luật, đem đến sự cơng
chung ra đời là nhằm mục đích thống nhất các bằng cho người dân.
tập quán pháp, kế thừa và lựa chọn tập quán
pháp để tạo ra các quy tắc xử xự chung trên
tồn lãnh thổ. Qua đó cũng nhằm tăng cường
quyền lục của nhà vua, giảm bớt quyền lực của
lãnh chúa phong kiến.
GVHD: Ths. Nguyễn Anh Thư
14
Nhóm 06
Hệ thống pháp luật nước Anh
CHƯƠNG 2
HIẾN PHÁP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC
2.1. Hiến pháp bất thành văn của Anh
Vương quốc Anh (England, Scotland, Wales và Northern Ireland) khác với các
quốc gia lớn khác trên thế giới ở chỗ là khơng có một bản hiến pháp thành văn. Tuy
rằng quốc gia này là nơi có một trong những bản hiến pháp lâu đời nhất trên thế giới.
Hiến pháp Vương quốc Anh không phải một văn bản chính thức duy nhất mà là
một tập hợp, được xây dựng dựa trên một số lượng lớn các tiền lệ, hay “Thông luật” từ
thế kỷ XI cho đến nay. Bổ sung cho văn bản luật pháp này cịn có những định chế do
Nghị viện ban hành, gọi là Luật Công lý, và Luật pháp của Cộng đồng Âu châu (EC) –
trong một số trường hợp còn được sử dụng vượt trên luật pháp của Vương quốc. Đây
là lý do mà nhiều người nói rằng Hiến pháp của nước Anh là hiến pháp khơng thành
văn, khơng pháp điển hố hoặc gọi đó là hiến pháp thực tế.
Hiến pháp Vương quốc Anh chủ yếu rút ra từ bốn nguồn: pháp luật thành văn
(luật được thông qua bởi cơ quan lập pháp), thông luật (các tiền lệ được tòa án áp
dụng, luật được thành lập thơng qua các bản án của tịa án), các cơng ước nghị viện và
các tác phẩm có thẩm quyền.
Kể từ cuộc Cách mạng Vinh quang năm 1688, khái niệm chủ quyền tối cao thuộc
về nghị viện là nền tảng của hiến pháp lập pháp Anh, nghĩa là các đạo luật do Nghị
viện thông qua là nguồn luật tối cao và cuối cùng của luật pháp ở Anh. Theo đó Nghị
viện có thể thay đổi hiến pháp một cách đơn giản bằng cách thông qua các đạo luật
mới thông qua Đạo luật Nghị viện (một đạo luật mới phải được thông qua bởi Hạ viện,
Thượng viện và phải được ký bởi Nữ hồng hoặc Vua). Đã có một số cuộc tranh luận
về quyền lực của nghị viện khơng cịn nguyên vẹn khi tham gia Liên minh châu Âu
(EU). Lập luận được sử dụng bởi những người đề xuất rời bỏ EU vào cuộc bỏ phiếu
trưng cầu dân ý năm 2016 (Brexit).
Vương quốc Anh là một trong những quốc gia hiện đại đầu tiên trên thế giới có
khái niệm nghiêm túc về luật pháp và dân chủ. Nó khơng có bản Hiến pháp thành văn,
phù hợp với nguyên tắc chủ quyền tối cao thuộc về nghị viện, Nghị viện có tồn quyền
trong việc ban hành các đạo luật mà khơng bị ràng buộc bởi Hiến pháp như các quốc
gia có Hiến pháp thành văn. Như vậy, Liên hiệp Vương quốc Anh khơng có bản hiến
pháp duy nhất như hầu hết các quốc gia trên thế giới, cụ thể như Hoa Kỳ có Hiến pháp
GVHD: Ths. Nguyễn Anh Thư
15
Nhóm 06
Hệ thống pháp luật nước Anh
Hợp chúng quốc Hoa Kỳ năm 1787, Pháp có Hiến pháp Pháp năm 1958... Vậy tại sao
Vương quốc Anh chỉ có hiến pháp khơng thành văn mà khơng có hiến pháp thành văn
như các nước tư bản khác là vì:
- Thứ nhất, nhà nước tư sản Anh là nhà nước tư sản đầu tiên. Cuộc cách mạng
tư sản Anh cũng là cuộc cách mạng luật pháp lớn lao đầu tiên. Nó đem lại nhiều sáng
kiến pháp luật nổi tiếng, nhưng không thể sáng tạo đầy đủ được, trong đó nó chưa
nghĩa ra được hình thức hiến pháp.
- Thứ hai, ở Anh các nguyên tắc và những quy chế mang tính lập hiến tạo nên
chính thể tư sản là kết quả của cả một quá trình đấu tranh lâu dài giữa giai cấp tư sản
và thế lực quý tộc cũ. Nên ngay từ đầu không thể có một văn bản cơ bản mang tính
hiến pháp đầy đủ.
Là một hiến pháp bất thành văn, Hiến pháp của Vương quốc Anh có tính linh
hoạt cao, có thể dễ dàng phát triển và thích ứng với sự thay đổi của thời gian.
2.2. Hình thức nhà nước
Hình thức nhà nước là cách tổ chức quyền lực nhà nước và những phương pháp
để thực hiện quyền lực nhà nước, hình thức nhà nước là một khái niệm chung được
hình thành từ ba yếu tố cụ thể: Hình thức chính thể, hình thức cấu trúc và chế độ chính
trị.
2.2.1. Hình thức chính thể
Hình thức chính thể là phương thức lập ra chủ thể đứng đầu nắm giữ quyền lực
nhà nước. 2Có hai loại hình thức chính thể là: chính thể qn chủ và chính thể cộng
hịa.
Chính thể qn chủ là hình thức trong đó quyền lực tối cao của nhà nước tập
trung toàn bộ hay một phần trong tay nhà nước theo ngun tắc thừa kế. Hình thức
chính thể qn chủ được chia làm hai loại:
Quân chủ tuyệt đối (quân chủ chuyên chế): Trong chế độ này, mọi quyền lực
tối cao tập trung vào người đứng đầu nhà nước (Vua, Nữ hoàng,…). Hiện nay, hình
2
Phan Trung Hiền: Lý luận về nhà nước và pháp luật quyển 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr. 37.
GVHD: Ths. Nguyễn Anh Thư
16
Nhóm 06
Hệ thống pháp luật nước Anh
thức chính thể quân chủ tuyệt đối chỉ còn tồn tại ở một số quốc gia Hồi giáo như Ả
Rập Xê Út, Vatican, Oman và Brunei.3
Quân chủ hạn chế (quân chủ lập hiến): quyền lực Nhà nước tối cao được chia
đôi, một bên là vua cịn bên kia là một nhóm người do nhân dân bầu ra được gọi là
Quốc hội hoặc Nghị viện. Nhà vua trong chế độ này chỉ là một biểu tượng của dân tộc.
Hình thức lập hiến có nghĩa là "lập ra" "hiến pháp"; khi có hiến pháp thì tất cả mọi
người, kể cả nhà vua, khi muốn làm gì cũng phải tuân theo những điều mà hiến pháp
đã quy định. Hiện nay, chính thể quân chủ lập hiến tồn tại ở nhiều quốc gia trên thế
giới như Vương quốc Anh, Nhật Bản, Đan Mạch, Thụy Điển, Canada, Campuchia,…
Chính thể cộng hịa là hình thức chính thể trong đó quyền lực tối cao của nhà
nước thuộc về một cơ quan được bầu ra trong một nhiệm kỳ nhất định. Chính thể cộng
hịa cũng bao gồm hai hình thức chính là cộng hịa dân chủ và cộng hịa q tộc. Trong
đó, cộng hịa dân chủ thì quyền tham gia bầu cử để lập ra cơ quan đại diện (quyền lực)
của nhà nước được quy định về mặt pháp lý đối với các tầng lớp nhân dân lao động;
còn cộng hòa quý tộc thì quyền đó chỉ quy định đối với tầng lớp q tộc. Hiện nay,
trên thế giới khơng cịn nước nào theo hình thức chính thể cộng hịa q tộc, chủ yếu
theo hình thức chính thể cộng hịa dân chủ hoặc kết hợp hai loại trên.
Vương quốc Anh là nước quân chủ lập hiến. Nhà vua (Nữ hoàng, Quốc
vương,…) là nguyên thủ quốc gia, quyền lập pháp thuộc về Nghị viện, quyền hành
pháp thuộc về Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu Chính phủ do Vua
bổ nhiệm.
2.2.2. Hình thức cấu trúc.
Hình thức cấu trúc nhà nước là cách thức tổ chức và phân bố quyền lực nhà nước
theo lãnh thổ, mối quan hệ giữa các chủ thể của lãnh thổ đó của quyền lực nhà nước.
Có hai hình thức cấu trúc nhà nước cơ bản là: nhà nước đơn nhất và nhà nước liên
bang.
Hình thức cấu trúc nhà nước đơn nhất là hình thức trong đó lãnh thổ của nhà
nước có chủ quyền chung, có hệ thống cơ quan quyền lực và quản lý thống nhất từ
trung ương đến địa phương và có các đơn vị hành chính bao gồm tỉnh (thành phố),
Chu Nguyên Dương: “Tổng quan về cơ quan lập pháp của các nước trên thế giới”, Nghiên cứu lập pháp,
đăng ngày 1/11/2005 [truy cập ngày
3
20/9/2022].
GVHD: Ths. Nguyễn Anh Thư
17
Nhóm 06
Hệ thống pháp luật nước Anh
huyện (quận), xã (phường). Các nhà nước đơn nhất tiêu biểu như Vương quốc Anh,
Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Pháp,…
Hình thức cấu trúc nhà nước liên bang là sự liên kết, hợp thành từ các bang,
các vùng lãnh thổ có chủ quyền, các nhà nước thành viên thành một nhà nước thống
nhất. Nhà nước liên bang có hai hệ thống cơ quan quyền lực và quản lý; một hệ thống
chung cho toàn liên bang và một hệ thống riêng trong mỗi thành viên; có chủ quyền
quốc gia chung của nhà nước liên bang và đồng thời mỗi thành viên cũng có chủ
quyền riêng. Các nhà nước liên bang tiêu biểu như Mỹ, Đức, Nga, Mexico,…
Vương quốc Anh là nhà nước đơn nhất. Bởi lẽ, từ nay 1994 đến nay Vương quốc
Anh có 4 cấp chính quyền địa phương như sau: 4
Cấp vùng (Regional level), trong đó lãnh thổ Anh được chia làm 9 vùng (Region)
bao gồm North East, North West, Yorkshire and the Humber, East Midlands, West
Midlands, East, South East, South West, và London.
Cấp dưới vùng là cấp hạt (Counti level), ngoại trừ London thì Anh có 6 hạt đô thị
(metropolitan counties) và 27 hạt nông thôn (non-metropolitan district).
Cấp dưới của hạt là quận, huyện (district level), nước Anh có 36 quận
(metropolitan district) và 201 huyện (non-metropolitan district).
Dưới quận, huyện là phường, xã (parish level). Ngoài 4 đơn vị hành chính phổ
biến thì cịn có 02 loại đơn vị hành chính đặc biệt đó là 32 boroughs (tên gọi các quận
của thủ đơ London) và 56 chính quyền địa phương đơn nhất (unitary authorities). Tuy
có 4 cấp chính quyền địa phương nhưng các cấp chính quyền địa phương này được
xây dựng theo hai mơ hình khác nhau tùy theo khu vực lãnh thổ (mơ hình một cấp
chính quyền địa phương và mơ hình nhiều cấp chính quyền địa phương). Các hội đồng
được ở thành lập hai cấp chủ yếu là cấp hạt và cấp quận, huyện, ngoài ra cịn có chính
quyền cơ sở cấp xã hoặc cụm dân cư (civil parishes). Chính quyền địa phương các cấp,
một mặt phải chịu trách nhiệm trước cử tri, mặt khác phải chịu trách nhiệm trước
Chính phủ về các hoạt động của mình.
2.2.3. Chế độ chính trị.
Chế độ chính trị là hệ thống các nguyên tắc, phương thức, biện pháp, thủ đoạn
mà nhà nước sử dụng để thực hiện quyền lực nhà nước. Có thể chia chế độ chính trị
4
Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Luật hiến pháp nước ngồi, Nxb. CAND, Hà Nội, 2015, tr.387-388.
GVHD: Ths. Nguyễn Anh Thư
18
Nhóm 06
Hệ thống pháp luật nước Anh
thành hai dạng cơ bản là chế độ chính trị dân chủ và chế độ chính trị phản dân chủ.
Dân chủ là chế độ chính trị mà nhân dân có quyền tham gia vào việc tổ chức, hoạt
động của các cơ quan nhà nuớc, bàn bạc, thảo luận và quyết định những vấn đề quan
trọng của nhà nuớc. Ngược lại, Phản dân chủ là chế độ mà nhân dân khơng có quyền
tham gia vào việc tổ chức bộ máy nhà nước hoặc vào việc bàn bạc, thảo luận và quyết
định những vấn đề quan trọng của nhà nước.
Chính trị Vương quốc Anh là một nền dân chủ nghị viện, vận hành theo chế dộ
quân chủ lập hiến. Quốc vương (trước ngày 8-9-2022 là Nữ hoàng) là nguyên thủ quốc
gia, còn thủ tướng là do Vua bổ nhiệm. Thủ tướng đảm nhiệm vị trí đứng đầu Chính
phủ. Đây là hệ thống chính trị đa nguyên với sự ủy thác một phần quyền lực. Có 3
chính Đảng chính gồm: Cơng Đảng, Đảng Bảo Thủ và Đảng Dân chủ tự do. Ở Vương
quốc Anh, Tuyên ngôn Nhân quyền (1689) đã mở ra bước ngoặt to lớn trong lịch sử
Anh, bởi nó vạch ra các quyền tự do cụ thể cho người dân, bao gồm quyền tự do mang
vũ khí để tự vệ, tự do khỏi các loại thuế do nhà Vua áp đặt mà khơng có sự đồng ý của
Quốc hội và tự do khỏi các hình phạt tàn bạo và bất thường, song song với đó Nghị
viện sẽ họp thường xuyên; sẽ có bầu cử tự do và tự do ngơn luận trong Nghị viện. Bên
cạnh đó, từ sau khi kết thúc Thế chiến thứ Hai đến nay, Đảng Bảo thủ và Cơng đảng
ln thống lĩnh chính trị nước Anh, thay nhau lên nắm quyền. Và sự tồn tại chính thức
của các đảng đối lập cũng là áp lực buộc đảng cầm quyền phải điều chỉnh, kiềm chế
hoạt động của mình theo đúng quỹ đạo của một nhà nước dân chủ.
2.3. Nghị viện và Nguyên thủ quốc gia
2.3.1. Nghị viện
Nghị viện của các nước dân chủ trên thế giới đều xem Quốc hội Anh là khuôn
mẫu do có lịch sử lâu dài nhất, bởi vì người ta cho rằng nước Anh là quê hương của
Nghị viện, thuật ngữ “cơ quan lập pháp” (Legislature) để chỉ Nghị viện có nguồn gốc
ở nước Anh được xuất hiện vào thế kỷ XVII. Lịch sử ra đời của Nghị viện thuở ban
đầu khơng hồn tồn gắn với hoạt động làm luật, mà bắt đầu từ hoạt động giám sát
Nhà vua, đến việc thông qua ngân sách, rồi đến thành lập, giám sát và bãi miễn hành
pháp. Sự xuất hiện hành vi làm luật của Nghị viện Anh buổi ban đầu như là một sự
mặc cả kèm theo của Nghị viện với Nhà vua, khi Nhà vua yêu cầu họ thu tăng thuế
cho Hồng gia.
GVHD: Ths. Nguyễn Anh Thư
19
Nhóm 06
Hệ thống pháp luật nước Anh
❖ Nguyên tắc phân chia
Nghị viện Anh theo chế độ lưỡng viện, gồm Hạ viện do bầu cử và Thượng viện
với đa số thành viên được chỉ định.
Hạ viện (The House of Commons) hay còn gọi là Viện Thứ dân, gồm 650 thành
viên được bầu đại diện cho các khu vực bầu cử tại Anh, Scotland, Wales và Bắc
Ireland trên cơ sở dân số. Mỗi khu vực bầu cử có khoảng 60.000 cử tri. Thành viên Hạ
viện được bầu trong số những công dân Vương quốc Anh trên 18 tuổi theo nhiệm kỳ 5
năm/lần. Tất cả mọi công dân từ 18 tuổi trở lên trừ những người mất trí hoặc những
người đang phải chịu án phạt tù hoặc đang bị tạm giam vì truy cứu trách nhiệm hình sự
đều có quyền bầu cử. Từ năm 1928 phụ nữ cũng có quyền bầu cử như nam giới.
Công dân Liên hiệp Vương quốc Anh sống ở nước ngồi có đăng ký, cơng dân
thuộc khối thịnh vượng chung (Commonwealth) và công dân Alien sống trên lãnh thổ
Liên hiệp Vương quốc Anh cũng có quyền bầu cử. Theo Luật về đại diện của nhân dân
năm 1983 (Representation of the People Act 1983) phương pháp bầu cử được quy định
là bầu cử đa số tương đối (Relative majority method), người thắng cử là người cao
phiếu nhất không phụ thuộc vào số phiếu người đó thu được có vượt 50% số phiếu bầu
hay không. Phương pháp này người Anh thường gọi là “First past the post” nghĩa là
người đến trước là người thắng. Phương pháp này thường gắn với chế' độ bầu cử đơn
danh ở mỗi đơn vị bầu cử (Single - member Constituencies). Toàn bộ Liên Hiệp
Vương quốc Anh và Bắc Ireland chia làm 659 khu vực bầu cử (Constituencies). Mỗi
khu vực bầu cử chỉ bầu một đại biểu. Cử tri lựa chọn một người trong danh sách các
ứng cử viên và đánh dấu “X” vào ô tương ứng với tên người mình lựa chọn.
Thượng viện (The House of Lords) hay cịn gọi là Viện Q tộc khơng phải cơ
quan dân cử, thành viên Thượng viện thường là những quý tộc, gọi là Thượng nghị sĩ,
phục vụ suốt đời. Tuy nhiên, từ năm 1999, đạo luật Thượng viện đã chấm dứt quyền
thừa kế chức vụ thành viên Thượng viện. Số lượng thành viên của Thượng viện không
cố định mà thay đổi theo thời gian và được chia thành ba nhóm: Thượng nghị sĩ trọn
đời do Nữ hoàng chỉ định theo đề nghị của thủ tướng hoặc Thượng viện; tổng giám
mục và giám mục với số lượng hạn chế; còn lại bầu trong số những người thừa kế của
các cựu Thượng nghị sĩ.5
5
Nguyễn Ngọc Linh: “Cơ cấu tổ chức Nghị viện Anh”, Luật Minh Khuê, />
chuc-cua-nghi-vien-vuong-quoc-anh.aspx, đăng ngày 10/5/2021 [truy cập ngày 18/9/2022].
GVHD: Ths. Nguyễn Anh Thư
20
Nhóm 06
Hệ thống pháp luật nước Anh
❖ Cơ cấu tổ chức
Đối với Hạ viện:
Chủ tịch viện (Speaker) do viện bầu ra trong số thành viên của viện với sự đồng
ý của Nhà vua, theo nhiệm kỳ của viện (5 năm), nhiệm vụ cơ bản của Chủ tịch Viện là
đại diện cho viện Thứ dân trong quan hệ với Nhà vua, Chính phủ và các thiết chế Nhà
nước khác cũng như trong quan hệ đối ngoại của Viện, lãnh đạo hoạt động của viện.
Chủ tịch Viện đóng vai trị quan trọng đối với tổ chức và hoạt động của viện trong
phạm vi chức năng của mình, Chủ tịch Hạ viện ln ln là một bộ trưởng trong
Chính phủ và là thành viên của Nội các. Sau khi hết nhiệm kỳ, Chủ tịch viện được
nhận tước vị Nam tước và trở thành thành viên của Thượng nghị viện. Giúp việc cho
Chủ tịch viện có 3 Phó chủ tịch (Deputy Speakers) do Viện bầu ra trong số thành viên
của viện. Trong số 3 phó chủ tịch có 1 phó chủ tịch thứ nhất, Phó chủ tịch này kiêm
Chủ nhiệm Uỷ ban giao thông và phương tiện. Phó chủ tịch thứ nhất thay thế vị trí của
Chủ tịch trong trường hợp Chủ tịch viện vắng mặt, đồng thời chủ toạ các phiên họp
của Uỷ ban tồn viện.
Để thực hiện tốt chức năng của mình, việc thành lập ra các Uỷ ban, mỗi uỷ ban
có số lượng thành viên khác nhau phụ trách một vấn đề hay một lĩnh vực nhất định,
hiện nay có 42 Ủy ban chuyên trách của Hạ viện được xây dựng để dễ dàng giám sát
Chính phủ, có thể kể tên một số như: Uỷ ban hành chính (Administration Committee),
Uỷ ban văn hóa, truyền thơng và thể thao (Culture, Media & Sport Committee), Uỷ
ban nhân quyền (Human Rights), 6…
Hạ viện là nơi tập trung của quyền lực. Bất cứ một bộ luật nào khác, trừ dự luật
tư (private bill) nếu được hạ viện thơng qua ở ba khóa họp liên tiếp và chuyển tới
thượng viện ít nhất một tháng trước khi khóa họp thứ ba kết thúc, đương nhiên sẽ trở
thành luật, cho dù thượng viện ở khóa họp nào cũng bác bỏ. Như vậy cho thấy rằng vai
trò và chức năng của hạ viện là rất lớn, quyền lực tối cao nằm trong tay hạ viện.
Đối với Thượng viện:
Cơ cấu tổ chức của Thượng nghị viện gồm: Chủ tịch Thượng viện là thành viên
của Nội các do Nữ hoàng bổ nhiệm theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ 5
năm. Chủ tịch Thượng viện đồng thời là người đứng đầu cơ quan tư pháp. Vì chức
6
UK Parliament: “State of the parties”, [truy cập ngày
15/9/2022].
GVHD: Ths. Nguyễn Anh Thư
21
Nhóm 06