Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Hàm ý một số giải pháp phát triển đô thị thành phố hồ chí minh trong tương lai

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (531.53 KB, 5 trang )

qUẢNTRIQUÀNLV

HÀM Ý MỘT SÔ GIẢI PHÁPPHÁT TRIEN
ĐÔ THỊ THÀNH PHÔ Hồ CHÍ MINH
TRONG TƯƠNG LAI
• NGUYỄN VĂN TIẾN

TĨM TẮT:

Nhìn một cách tổng thể, q trình đơ thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh có những nét
đặc trưng riêng gồm nhiều yếu tố phức hợp về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Bài viết
đề cập đến những thách thức và giải pháp phát triển đô thị Thành phô' Hồ Chí Minh trong
tương lai.
Từ khóa: đơ thị, phát triển, đơ thị hóa, Thành phơ' Hồ Chí Minh.

1. Đặt vấn đề
Thành phố Hồ Chí Minh với dân số gần 9 triệu
(Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, 2020) là
đơ thị lớn nhất Việt Nam về quy mô cũng như tiềm
lực kinh tế với vai trò trung tâm hạt nhân, động lực
phát triển kinh tế - xã hội ưong vùng kinh tế phía
Nam và Nam bộ. Cùng với triển vọng của q trình
hội nhập và hiện đại hóa, đơ thị hóa mang lại cho
thành phố nhiều cơ hội phát triển, tạo nên nền văn
hóa đa dạng giàu bản sắc, có khả năng đơ'i thoại,
hội nhập liên văn hóa, từ đó khởi phát động lực nội
sinh và ngoại sinh cho sự phát triển văn hóa và xã
hội. Tuy nhiên, việc xây dựng và phát triển Thành
phô' đang đối diện với không ít thách thức nảy sinh
mang tính toàn cầu, như: quản lý hành chính, khơng
gian, kinh tế, dân số, phúc lợi, mơi trường,... lìm


hiểu những khó khăn, thách thức, từ đó đưa ra giải
pháp phát triển đô thị thành phô' Hồ Chí Minh trong
tương lai là việc cần làm của chính quyền Thành
phô' và những nhà nghiên cứu.

2. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển
đơ thị Thành phơ' Hồ Chí Minh
Thành phơ' Hồ Chí Minh với tên gọi quen
thuộc từ xưa là Sài Gịn, là một vùng đất được
hình thành trên lằn ranh giới giữa 2 vùng phù sa
cũ và mới, nô'i từ Tây Ninh xuống Bà Rịa - Vũng
Tàu thuộc vùng Đông Nam Bộ cận kề mật thiết
với 3 vùng Tây Nguyên, duyên hải Nam Trung
Bộ và đồng bằng sơng Cửu Long có diện tích
khoảng 2.095 km12, chiếm 0,76% diện tích tồn
quốc, nằm ở tọa độ địa lý 10010 - 10038 vĩ Bắc
đến 106022 - 106054 kinh Đông. Thành phơ' Hồ
Chí Minh hiện có 24 quận, huyện, với 317
phường, xã, chia ra 19 quận đô thị nội thành với
254 phường rộng 494 km2 và 5 huyện nông thôn
ngoại thành với 63 xã, rộng 1.601 km2 (Cục
Thống kê Thành phơ' Hồ Chí Minh, 2020). Cư dân
Thành phơ' thuộc nhiều thành phần dân tộc khác
nhau, ngồi người Việt cịn có người Hoa, Khơ
me, Ân, Mạ, Stiêng và cả một sô' ngoại kiều, với

SỐ 13 - Tháng 6/2021 231


TẠP CHÍ CÕNG THƯƠNG


mật độ trung bình 4.292 người/km2 (Cục Thống
kê Thành phố Hồ Chí Minh, 2020).
Vào những thế kỷ đầu cơng ngun, vùng Sài
Gịn thuộc lãnh thổ vương quốc cổ Phù Nam. Đến
thế kỷ thứ VII, Phù Nam suy yếu và bị Chân Lạp
thơn tính, Sài Gịn trở thành vùng đất phụ thuộc
Chân Lạp. Năm 1620, chúa Nguyễn Phúc Nguyên
đã cho lập 2 đồn thu thuế ở Sài Gòn là Kas Brobei
và Brai Nokor tạo ra điều kiện thuận lợi cho cư dân
Việt và cả người Hoa vào lập nghiệp ở vùng đất Sài
Gòn. Từ thế kỷ XVII trở đi, Sài Gịn dần dần ttở
thành trung tâm hành chính quan ưọng và là đầu
mối trung tâm, phố chợ của một vùng đất đai rộng
lớn. Đầu thế kỷ XX, Chợ Lớn sáp nhập vào Thành
phố Sài Gòn và Sài Gòn trở thành đô thị lớn nhất xứ
Đông Dương thuộc Pháp. Từ năm 1905 đến năm
1935, đô thị hải cảng Sài Gịn đã được xây dựng và
hồn chỉnh, phố xá và khu vực đô thị, các công thự,
đường đi của đô thị Sài Gịn đã có phần bề thế,
khang trang cịn hơn cả một sô' đô thị khác ở Đông
Nam Á như Singapore, Kualampur, Băng Cốc,... Đơ

thị trung tâm Sài Gịn được tập trung chỉnh trang,
xây dựng nhiều ở các khu vực quận 1 và một phần
đất của quận 3 ngày nay (Mạc Đường, 2002). Vào
năm 1929, Sài Gòn - Chợ Lớn có hơn 300.000 dân
và dân số của nó đạt tới 498.000 người vào năm
1943 (Trịnh Duy Luân, 2004).
Do tác động của thực dân mới là đế quốc Mỹ,

tiến trình đơ thị hóa ở Sài Gịn trong thời kỳ 1954 1975 tiếp nối có bước phát triển mau chóng, nhưng
cũng tạo ra sự lộn xộn làm đảo lộn cấu trúc xã hội
(Lê Quang Hậu, 2002), đặc biệt là gia tăng dòng
người nhập cư. Ở miền Nam, từ năm 1955 cho đến
năm 1960, Mỹ và chính quyền Sài Gịn ra sức
cưỡng bức dân nhập cư công giáo (khoảng 1 triệu
đồng bào công giáo miền Bắc di cư vào Nam), lập
ra những vành đai dân cư bảo vệ an ninh từ xa cho
Sài Gòn và các căn cứ quân sự. Khoảng thời gian từ
năm 1960 cho đến đầu năm 1965, chính quyền Sài
Gịn xúc tiến thực hiện đơ thị hóa cưỡng bức tạo ra
một sự tăng vọt cư dân các đô thị miền Nam, nhất là
Thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn. Tỷ lệ dân số đô thị
miền Nam năm 1960 từ 10% so với tổng số dân
tăng lên 30% năm 1965 (Trần Văn Giàu, 1998).
Đến năm 1971, số dân ỗ Sài Gịn chiếm 43%

232 SỐ 13-Tháng 6/2021

tồn bộ số dân đơ thị miền Nam, nhưng nếu khơng
tính vùng ngoại ơ, tỷ lệ đó là 1/5. Nhìn chung, sự
phát triển dân số đơ thị Sài Gịn chủ yếu là ngun
nhân chiến tranh, cịn lý do kinh tế thì rất phụ. Vào
năm 1971, 3/4 những người dân đơ thị ở Sài Gịn
khơng phải sinh ra ở đây (Gabrien Kolko, 1991).
Do nhu cầu phục vụ chiến ttanh xâm lược, Sài Gòn
- Gia Định ngày càng được mở rộng. Mỹ tăng
cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, xa lộ, những
cơng trình kiến trúc và các khu căn cứ quân sự
khổng lồ. Công việc chỉnh ttang đơ thị Sài Gịn

được đẩy mạnh, sân bay được mở rộng và xây dựng
mới, khách sạn tối tân, nhà cao tầng, vũ trường,
casino, nhà hàng snack - bar, đại lộ mở rộng, các
dịch vụ hiện đại, một số xí nghiệp tối tân ra đời, xe
ơ tơ con thượng hạng cùng xe jeep quân sự,... đi lại
ngày càng nhiều ttên đường phố Sài Gòn.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, với sự tồn thắng
của chiến dịch Hồ Chí Minh, miền Nam hồn tồn
giải phóng, đất nước Việt Nam thơng nhất. Cuối
tháng 6 đến đầu tháng 7 năm 1976, Quốc hội khóa
VI họp kỳ họp đầu tiên tại Hà Nội, quyết định đổi
tên Sài Gịn là Thành phố Hồ Chí Minh. Từ sau
ngày đất nước thống nhất, q trình đơ thị hóa ở
Thành phố Hồ Chí Minh đã ttải qua nhiều thay đổi
qua 2 giai đoạn: 1976 - 1985 và từ năm 1986 đến
nay (Lê Văn Năm, 2002). Giai đoạn 1976 - 1985,
Thành phố chú ttọng phục hồi kinh tế sau chiến
tranh, chưa có cơng trình xây dựng gì lớn. Năm
1982 với sự giúp đỡ của Liên Xô, Viện Quy hoạch
bước đầu triển khai phương hướng cải tạo và xây
dựng Thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 1985,
Trung ương xác định Thành phố Hồ Chí Minh là
một trung tâm kinh tế lớn, một trung tâm giao dịch
quốc tế và du lịch của cả nước, có vị trí quan trọng
chỉ sau Thủ đơ Hà Nội. Thành phơ' Hồ Chí Minh
đến nay tiếp tục ttở thành một cực thu hút mạnh
luồng người từ các nơi đổ về tìm việc làm và cư
ngụ, đồng thời là trung tâm có tốc độ đơ thị hóa cao
nhất Việt Nam.
3. Những thách thức phát triển đô thị Thành

phơ' Hồ Chí Minh trong tương lai
Thành phố Hồ Chí Minh đặt mục tiêu trở thành
một vùng đô thị lớn phát triển năng động và bền
vững, có vai trị, vị thế quan trọng trong khu vực


QUẢN TRỊ-QUẢN LÝ

Đông Nam Á và hướng tới quốc tế. Q trình hiện
thực hóa mục tiêu này, Thành phố Hồ Chí Minh
đứng trước những thách thức sau:
3.1. Quy hoạch đơ thị
Hiện, Thành phố Hồ Chí Minh đang là một
trong những Thành phố hàng đầu trên thế giới với
số dân có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất bởi
biến đổi khí hậu. Như vậy, những thách thức lớn
đầu tiên về hạ tầng và dịch vụ đô thị ở đây là xây
dựng nhà ở để xóa nhà tạm bợ, giảm tải cho hệ
thông hạ tầng đường bộ và phát triển giao thông
công cộng, đảm bảo cho người dân được sử dụng
nước sạch, xây dựng các hệ thống xử lý nước thải
và tổ chức xử lý chất thải rắn. Thách thức chủ yếu
đặt ra là phát triển một quy hoạch chiến lược, linh
hoạt và hiệu quả, bao hàm việc điều phơi nhiều
chính sách chun và mang tính liên khu vực.
3.2. Đất đai đơ thị
Thành phố Hồ Chí Minh hiện chiếm vị trí số 1
cả nước về cả số dân với 8.993.082 người và mật độ
dân cư 4.363 người/km2 (Cục Thống kê Thành phố
Hồ Chí Minh, 2019). Kể từ giữa những năm 1990,

Thành phố mở rộng đô thị kiểu dàn ttải nhiều, lan
ra cả các tỉnh lân cận như Đồng Nai, Long An, Bình
Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu,... Thành phố phải đối
mặt với áp lực lớn về đất đai và sự dàn ttải đó vì
vậy địi hỏi cần có một phương thức quy hoạch và
quản lý tối ưu hơn. Việc phải làm là Thành phố cần
cải thiện an toàn đất đai và tuân thủ quy hoạch, xác
định rõ hơn các chức năng sử dụng của từng thửa
đất, củng cố các quyền gắn liền với các hoạt động
chuyển nhượng và lập một sổ ghi tập hợp toàn bộ
các hoạt động pháp lý đối với mọi tài sản và chủ sở
hữu để giúp đảm bảo an tồn về mặt đất đai.
3.3. Giao thơng đơ thị
Tình trạng dân sơ' tăng nhanh chóng của các hộ
gia đình ở Thành phố Hồ Chí Minh dẫn đến hiện
tượng ùn tắc giao thông ngày càng nghiêm trọng.
Xu hướng từ bỏ xe máy chuyển sang sử dụng ô tô sẽ
là một thách thức lớn trong tương lai khi các loại
tình giao thông công cộng khác (xe buýt, tàu điện
ngầm,...) của Thành phố tăng trưởng chưa bao giờ
tương xứng kịp với tốc độ tăng dân số. Những năm
Ịua, Thành phơ' có rất nhiều nỗ lực cải thiện năng
ực phục vụ vận tải công cộng (số tuyến, tần suất,

khả năng tiếp cận), xe buýt được người dân sử dụng
nhiều hơn. Sự tăng trưởng đó có thể lý giải bằng

việc mở rộng mạng lưới phục vụ ra tồn địa bàn
Thành phơ' cũng như cải thiện chất lượng dịch vụ.
Tuy nhiên, việc tồn tại quá nhiều đơn vị nhỏ lẻ

khiến cho việc quản lý gặp khó khăn cả về chất
lượng xe và đào tạo nhân sự. Mặt khác, việc thiếu
quỹ đất cũng cản trở đáng kể việc xây dựng và hiện
đại hóa các điểm trung chuyển và làn đường dành
riêng cho xe buýt. Như vậy, cải thiện chất lượng
dịch vụ và khả năng tiếp cận là một thách thức lớn
cần giải quyết.
3.4. Chỗ ở cho người thu nhập thấp trong đô thị
Trong suốt 3 thập niên 1999-2009-2019, dân sơ'
Thành phơ' Hồ Chí Minh tăng liên tục theo chiều
hướng năm sau cao hơn năm trước, khiến các quận
trung tâm và vùng ngoại vi tăng mật độ, kèm theo
sự phát triển đô thị bị dàn trải. Do đó, nhà ở trở
thành một chủ đề quan tâm chính của người dân,
các nhà đầu tư và cả chính quyền. Nhiều khu đơ
thị mới đã phát triển mơ hình nhà chung cư cao
tầng bên cạnh loại hình nhà liền kê' và biệt thự.
Thời gian gần đây chất lượng nhà ở nhìn chung đã
cải thiện nhờ các chính sách xóa bỏ nhà tạm bợ,
nhất là các khu dọc các sông, kênh mương. Mặc
dù có một thị trường xây dựng bất động sản hùng
hậu nhưng nguồn cung nhà ở tại thành phô' Hồ Chí
Minh vẫn thấp so với nhu cầu thực tế, nhất là đối
với các tầng lớp bình dân và trung lưu. Nguồn
cung bất động sản mới vẫn chủ yếu là nhà bán,
ngay cả khi chính quyền ln cơ' gắng phát triển

quỹ nhà cho thuê với mức giá hợp lý. Các dự án
nhà ở được hỗ trợ vẫn liên quan mật thiết với các
chương trình tái định cư cho người dân trong diện

giải tỏa để xây dựng các cơng trình hạ tầng hoặc
các dự án bất động sản. Mặc dù đã cải thiện các
thủ tục bồi thường và tái định cư nhưng những dự
án này vẫn là nguyên nhân chính gây ra các căng
thẳng giữa người dân, các nhà đầu tư và chính
quyền trong thời gian qua.
4. Đề xuất giải pháp
Để thực hiện được tham vọng trở thành một
ttong những vùng đơ thị hóa lớn tại khu vực Đơng
Nam Á, Thành phơ' Hồ Chí Minh cần phải giải
quyết được những vấn đề cốt lõi sau:

SỐ 13-Tháng 6/2021 233


TẠP CHÍ CƠNG THƯƠNG

Thứ nhất, phải nhận thức đầy đủ nhiệm vụ nâng
cao hiệu quả phát triển đô thị và nâng tầm quản lý
phát triển đô thị theo hướng văn minh, hiện đại là
nhiệm vụ cơ bản lâu dài, đồng thời là trọng tâm
trước mắt. Phát triển đô thị và quản lý phát triển đơ
thị có tầm quan trọng đặc biệt bảo đảm cho sự phát
triển bền vững, đảm bảo và giải quyết hài hịa các
lợi ích trước mắt và lâu dài, bộ phận và toàn cục, cá
thể và cộng đồng.
Thứ hai, việc quản lý quy hoạch, chọn mũi đột
phá, kết hợp chỉnh trang khu nội thành hiện hữu
với phát triển các đô thị mới theo các trung tâm
cần phải chặt chẽ, hợp lý. Không nên dàn trải và

kéo dài vì dễ gây nên vi phạm quy hoạch và ảnh
hưởng đến đời sống, niềm tin của nhân dân, tác
động xấu đến phát triển đô thị và công tác quản lý
phát triển đơ thị.
Thứ ba, Thành phố Hồ Chí Minh là xã hội đô thị,
người dân sinh sống ở Thành phố này là thị dân, do
vậy tổ chức chính quyền ở đây phải là chính quyền
đơ thị. Việc nghiên cứu để xây dựng chính quyền
đơ thị ở Thành phố Hồ Chí Minh phải được thực
hiện theo hướng văn minh, hiện đại. Mục đích quan
trọng của phát triển đơ thị và quản lý phát triển đô
thị là phục vụ nhân dân, làm cho nhân dân có cuộc
sống ngày càng tốt hơn.
Thứ tư, trong công tác lãnh đạo quản lý đô thị,
Thành phố Hồ Chí Minh rất cần đến khoa học dự
báo, đặc biệt là những nghiên cứu dự báo ưên tổng
thể toàn Thành phố. Có được những nghiên cứu dự

báo sẽ tránh được bất cập, bị động, hạn chế tầm nhìn
và nhất là trong quy hoạch chiến lược phát triển.
Thứ năm, phát triển đô thị và quản lý phát triển
đô thị Thành phố Hồ Chí Minh cần tập trung xây
dựng và thực hiện theo từng nhóm giải pháp phát
triển (động lực và cơ chế, nhân lực và tài lực, nhà
nước và xã hội, kinh tế và văn hóa, xã hội), khắc
phục lạc hậu, xung đột và phát triển văn hóa - xã
hội phải hài hòa đồng bộ với phát triển kinh tế, cả
phần mềm và phần cứng đơ thị, trong đó quan trọng
nhất là các chủ thể phát triển, quản lý phát triển
thúc đẩy và định hướng văn hóa - xã hội cho phát

triển kinh tế, điều chỉnh, cho mục tiêu phát triển
kinh tế và q trình hiện đại hóa, hạn chế xung đột,
tạo thế hài hòa với nhau.
5.
Kết luận
Thành phố Hồ Chí Minh đến nay là đơ thị lớn
nhất nước ta về quy mô cũng như tiềm lực kinh tế
với vai ttò trung tâm hạt nhân, động lực phát triển
kinh tế - xã hội ttong vùng kinh tế phía Nam và
Nam bộ. Thành phố Hồ Chí Minh ttong tương lai sẽ
làmột đại đô thị đa trung tâm, đa cực, một Thành
pho xanh và sạch. Đó là một trung tâm kinh tế phát
triển cao dựa ưên nền tảng dịch vụ và công nghiệp

có giá trị gia tăng cao, trung tâm khoa học - công
nghệ lớn, trung tâm giáo dục - đào tạo chất lượng
của cả nước và khu vực châu Á. Vì vậy, việc quan
tâm thực hiện đồng bộ các giải pháp chiến lược để
phát triển đơ thị Thành phố Hồ Chí Minh trong
tương lai là vô cùng cần thiết ■

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1.

Cục Thơng kê thành phố Hồ Chí Minh (2020). Danh mục quận, huyện.

2.

Cục Thơng kê thành phơ' Hồ Chí Minh (2020). Tình hình kinh tê'- xã hội tháng 12 và năm 2018 của thành phố


Hồ Chí Minh.
3.

Gabrien Kolko (1991). Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr. 208 - 209.

4.

Lê Quang Hậu (2002). Vài nét về q trình đơ thị hóa cưởng bức ở Sài Gòn thời kỳ 1954 -1975. Hội thảo: “Phát

triển đô thị bền vững”, Nxb Khoa học Xã hội, thành phơ' Hồ Chí Minh, tr. 584.

5.

Lê Vãn Năm (2002). Di dân nông thôn - Đô thị và sự phát triển đô thị bền vững - nghiên cứu trường hợp

thành phố Hồ Chí Minh. Hội thảo: “Phát triển đơ thị bền vững”, Nxb Khoa học Xã hội, thành phơ' Hồ Chí
Minh, tr. 198.

234 SỐ 13-Tháng 6/2021


QUẢN TRỊ-QUẢN LÝ

6. Mạc Đường (2002). Dân tộc học • Dơ thị và vấn đề đơ thị hóa. Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh.

I

7. Trần Văn Giàu (1998). Sài Gòn dưới ách thực dân Pháp (1859 - 1945). Nxb Thành phơ' Hồ Chí Minh.

I


'|

8. Trịnh Duy Ln (2004). Giáo trình Xã hội học đơ thị, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

I
I

Ngày nhận bài: 1/4/2021
Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 1/5/2021

I


Ngày châp nhận đăng bài: 21/5/2021

I
I
I

I

Thông tin tác giả:

J

NGUYỄN VĂN TIẾN


'|

I
I
I
I

Khoa Đào tạo Kiến thức chung
Trường Đại học Thủ Dầu Một

I

SOME SOLUTIONS TO HO CHI MINH CITY’S
URBANIZATION ISSUES IN THE FUTURE
• NGUYEN VAN TIEN

Faculty of General Knowledge
Thu Dau Mot University


ABSTRACT:



I
Overall, Ho Chi Minh City’s urbanization process has its own characteristics including many
Ị complex economic, political, cultural and social issues. This paper presents challenges facing
I Ho Chi Minh City’s urbanization process and proposes some solutions to these isses.
Keywords: urban area, development, urbanization, Ho Chi Minh City.
I

So 13 - Tháng 6/2021 235




×