Tải bản đầy đủ (.docx) (18 trang)

Quản trị rủi ro trong đầu tư vàng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (201.04 KB, 18 trang )


LỜI MỞ ĐẦU
Kính thưa Thầy và tất cả các bạn.
Qua môn học Quản trị rủi ro, chúng ta đã hiểu được rủi ro là gì và nắm bắt được các
biện pháp hữu hiệu nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất. Trong cuộc sống của
chúng ta có rất nhiều việc đi kèm với rủi ro và trong kinh doanh thì yếu tố rủi ro hầu như
thường trực và hiện hữu trước mắt các nhà quản lý cũng như nhà đầu tư.
Trong thời kì nền kinh tế đang có những diễn biến phức tạp và có nhiều biến động
như hiện nay, thì việc tìm kiếm những kim loại quý thay thế cho tiền cũng là vấn đề nóng hổi
được dư luận và các nhà đầu tư quan tâm rất nhiều. Một trong những kim loại quý được chú ý
nhiều nhất đó là vàng. Và câu hỏi lớn đặt ra là thị trường vàng hiện nay đang biến động như
thế nào?, những rủi ro xung quanh nó ra sao? Và làm thế nào để hạn chế cũng như phòng
ngừa các rủi ro khi đầu tư vàng xuống mức thấp nhất?
Để làm sáng tỏ và hiểu rõ những vấn đề trên, nhóm chúng em chọn đề tài “Quản trị
rủi ro trong đầu tư vàng” nhằm mục đích tìm hiểu thị trường vàng, phân tích các mối quan hệ
của thị trường vàng và những rủi ro tiềm ẩn trong đó và đưa ra một số giải pháp phòng ngừa
rủi ro cũng như các phương thức để đầu tư vàng đạt hiệu quả cao nhất.
Hy vọng bài tiểu luận giúp các bạn có thêm kiến thức về các khía cạnh của thị trường
vàng và trang bị cho mình các công cụ phòng ngừa rủi ro khi đầu tư vàng trong tương lai.
Mặc dù cố gắng trình bày một cách xúc tích nhưng chắc chắn bài tiểu luận không thể tránh
khỏi thiếu xót, rất mong được sự quan tâm góp ý của Thầy và các bạn để bài tiểu luận hoàn
thiện hơn.
Tập thể Nhóm 6 xin chân thành cảm ơn.
1
NỘI DUNG
1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VÀNG
1.1 Vàng là gì?
Vàng cùng với bạc, đồng là 3 kim loại đầu tiên được tìm thấy đầu tiên trên thế giới,
năm 5000 trước công nguyên. Vàng được xem là kim loại quý, biểu tượng của quyền lực và
sự giàu có. Vàng có sức chịu đựng oxi hóa cao, lâu bị hư hao.
Vàng có thể kết hợp với nhiều chất khác để cho những sản phẩm phục vụ cho công


nghiệp. Một năm thế giới tiêu thụ khoảng 450 tấn vàng trong ngành công nghiệp chiếm 11%
nhu cầu thế giới. Nhu cầu trang sức chiếm 70% và 13% còn lại là nhu cầu đầu tư.
Mỏ vàng nằm rải rác ở 60 quốc gia. Vì vàng trong thiên nhiên có kết hợp với một ít
kim loại khác, nên không tinh khiết, cần phải qua quá trình tinh lọc. Nam Phi là nước có
nhiều mỏ vàng nhất thế giới khoảng 40.000 tấn. Cả thế giới ước tính có khoảng 145.000 tấn
vàng. Vàng có dưới dạng vàng hạt hoặc vàng thỏi (Úc, Hổng Kông, Thụy sĩ).
1.2 Thị trường vàng thế giới.
Ấn Độ là nước tiêu thụ vàng nguyên liệu nhiều nhất thế giới, với nhu cầu hàng năm
lên đến 800 tấn, chiếm ¼ nhu cầu vàng vật chất của thế giới. Do đó nếu tính luôn vàng nữ
trang thì Ấn Độ là nước có nhiều vàng nhất thế giới. Các hộ gia đình ở nước có nền kinh tế
lớn thứ 3 Châu Á này tích lũy 20,000 tấn vàng qua nhiều thế hệ. Ở Ấn Độ, vàng là món quà
thông dụng nhất trong các kỳ lễ hội và là một phần không thể thiếu trong của hồi môn. Do đó
nhu cầu vàng trang sức sẽ tăng mạnh trong mùa lễ hội và mùa kết hôn bắt đầu tư tháng 11 đến
tháng 3.
Nước Mỹ là nước có dự trữ ngoại hối bằng vàng lớn nhất thế giới, tiếp theo là Đức và
quỹ tiền tệ IMF.
Vàng cũng như ngoại tệ được giao dịch trên toàn thế giới, và gần như 24/24.
Ký hiệu vàng giao dịch trên thị trường là XAU.
Đơn vị tính thông thường USD/ounce.
2
Mỗi ngày thị trường thế giới giao dịch khoảng 2.500 - 3.000 tấn vàng. Ở Mỹ có
khoảng 20 - 30 quỹ đầu tư vàng. Khi muốn giá vàng tăng 1 USD thì phải giao dịch khoảng 50
tấn vàng.
Ngày dao động nhiều nhất của vàng thông thường là $30/ounce/ngày.
1.3 Thị trường vàng trong nước.
1.3.1 Loại vàng giao dịch
SJC, AAA là những loại vàng được giao dịch chủ yếu trên thị trường. Bên cạnh đó thị
trường Việt Nam cũng có giao dịch vàng nguyên liệu nhưng không nhiều.
1.3.2 Chủ thể tham gia
Bao gồm các NHTMCP, DN kinh doanh vàng (những chủ thể đóng vai trò tạo lập giá

trên thị trường), nhà đầu tư, cá nhân v.v
1.3.3 Phương thức giao dịch.
Hình thức giao dịch phổ biến là giao dịch qua điện thoại, giao dịch trực tiếp tại quầy
hay giao dịch rồi sau đó tiến hành thanh toán sau.
1.3.4 Giờ giao dịch.
Các giao dịch diễn ra chủ yếu từ 8h sáng đến 5h chiều. Giao dịch buổi tối rất ít, giá
không cạnh tranh.
1.4 Các mối quan hệ về đơn vị tính.
Các đơn vị tính toán:
1 kg = 32.148 ounce.
1 ouce = 0.8294 lượng.
1 kg = 26.66 lượng
Cách quy đổi giá quốc tế ra giá trong nước và những điều cần lưu ý.
Giá vốn nhập về = (Giá quốc tế * tỷ giá USD/VND)/0.8294 + 140,000 (bao gồm chi
phí gia công , thuế, chi phí bảo hiểm)
Các chi phí liên quan đến việc nhập khẩu vàng nguyên liệu về gia công:
Phí vận chuyển, bảo hiểm: $1/ounce.
Thuế nhập khẩu: 0.5% giá trị nhập khẩu.
Chi phí gia công từ vàng nguyên liệu sang vàng miếng SJC: 30.000/lượng .

1.5 Các hình thức kinh doanh vang tại Việt Nam.
1.5.1 Kinh doanh vàng trên tài khoản.
Đây là nghiệp vụ mua bán vàng ghi sổ chứ không thực hiện việc giao nhận vàng.
Hình thức kinh doanh này chủ yếu phục vụ cho nhu cầu đầu cơ và thường giao dịch qua mạng
internet hoặc hệ thống giao dịch chuyên dụng.
Những thuật ngữ thường dùng:
+ SL order (stop loss): lệnh dừng lỗ.
+ PT order (Profit taking): lệnh chốt lời.
3
+ Limit order: lệnh giới hạn, được sử dụng trong trường hợp đặt mua thấp hơn giá thị trường,

hoặc đặt bán cao hơn thị trường.
+ Market order: lệnh thị trường, được sử dụng khi muốn giao dịch liền với giá thị trường.
+ Lot: là đơn vị giao dịch. 1 lot = 100 ounce.
+ Day order: lệnh cho hiệu lực trong ngày.
+ GTC (Good till cancel): lệnh có hiệu lực đến khi hủy lệnh.
+ Margin call: thông báo nộp thêm tiền ký quỹ.
+ Swap: là chi phí lãi phải trả cho việc duy trì trạng thái mua hoặc bán qua đêm.
+ Close position: tất toán trạng thái mua hoặc bán.
+ Spread: mức chênh lệch giữa giá mua vào và giá bán ra.
+ Pips: điểm.
+ Cancel order: hủy lệnh.
+ Modify order: chỉnh sửa lệnh.
+ Quote: yết giá mua bán.
Ưu điểm: Chỉ phụ thuộc vào nhu cầu quốc tế; Hình thức đặt lệnh phong phú đa đạng giúp
hạn chế rủi ro cho nhà đầu tư; Thời gian giao dịch linh hoạt hơn.
Nhược điểm: Chưa được NHNN cho phép, thủ tục mở tài khoản phức tạp, không rõ đối tác
quốc tế và phải biết tiếng Anh.
1.5.2 Kinh doanh vàng vật chất
Kinh doanh vàng giao ngay (spot): thông thường trường hợp này ngân hàng sẽ cho
nhà đầu tư vay 93% giá trị, nhà đầu tư chỉ cần ký quỹ 7%.
Kinh doanh kỳ hạn (forward): nhà đầu tư ký hợp đồng mua hoặc bán vàng, với tỷ giá
được xác định tại thời điểm hiện tại nhưng thời hạn thanh toán là 1 ngày trong tương lai (1
tuần, 2 tuần, 1 tháng …).
Bằng cách sử dụng hợp đồng ký hạn, nhà đầu tư không cần phải vay mà lãi vay đã
được tính sẵn vào giá. Nhà đầu tư chỉ cần ký quỹ 5% - 10% giá trị giao dịch. Nếu giá biến
động thuận lợi, nhà đầu tư có thể tất toán hợp đồng kỳ hạn và thu phần chênh lệch.
Cách tính tỷ giá kỳ hạn = Tỷ giá spot + tỷ giá spot * (lãi vay VND – lãi vay USD) * số
ngày/360
Hợp đồng quyền chọn (option): nếu nhà đầu tư mua quyền chọn mua/bán vàng thì
nhà đầu tư có quyền mua/bán hoặc không mua/bán vàng tùy ý trong khoảng thời gian hợp

đồng còn hiệu lực. Khách hàng chỉ cần trả 1 khoảng phí ban đầu. Tuy nhiên khoảng phí hơi
cao do đó nhà đầu tư chỉ nên mua hợp đồng quyền chọn khi dự đoán thị trường sẽ biến động
trong thời gian tới.
Ưu điểm: hình thức kinh doanh quen thuộc với nhà đầu tư, thủ tục đơn giản.
Nhược điểm: phụ thuộc vào cung cầu quốc tế và cung cầu trong nước. Giờ giao dịch ngắn,
mức chênh lệch giữa giá mua và giá bán không cạnh tranh và không thống nhất ở mỗi nơi.
Ngoài ra việc không thể đặt lệnh chốt lời, chốt lỗ cũng là 1 bất lợi.
1.5.3 Kinh doanh vàng nguyên liệu
Đây là hình thức kinh doanh vàng hạt và chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của các ngân
hàng, doanh nghiệp kinh doanh vàng, nữ trang. Giao dịch sôi động khi nguồn cung SJC trên
thị trường không đáp ứng nhu cầu trong nước, do đó nhà đầu tư chuyển sang nắm giữ vàng
nguyên liệu. Sau đó nhà đầu tư có thể đem đến Công ty SJC nhờ gia công hoặc bán lại nếu
được giá.
4
Ưu điểm: Tiết kiệm thời gian gia công và giúp cho doanh nghiệp kinh doanh nữ trang có
nguồn nguyên liệu để gia công. Tận dụng cơ hội kinh doanh trong trường hợp vàng SJC đang
khan.
Nhược điểm: là hình thức giao dịch ít phổ biến, cần có các phương tiện kỹ thuật để kiểm
chứng vàng.
1.5.4 Kinh doanh qua sàn ACB.
Đây là hình thức kinh doanh qua Trung tâm giao dịch vàng Sài Gòn của Ngân Hàng Á
Châu.
Cách thức giao dịch: Khách hàng đến các chi nhánh của Ngân Hàng Á Châu để ký
Hợp đồng giao dịch vàng. Khi có nhu cầu mua bán, hoặc hủy lệnh, khách hàng phải điền vào
phiếu lệnh rồi gửi cho Giao dịch viên tại quầy.
Cơ chế khớp lệnh: liên tục và tự động.
Khối lượng giao dịch tối thiểu là 50 lượng. Bước nhảy về khối lượng là 50 lượng.
Bước nhảy về giá là 1,000 đồng/lượng.
Phí giao dịch: 2,000 đồng/lượng
Tỷ lệ ký quỹ: 7% giá trị giao dịch.

Tỷ lệ cảnh báo: 5% có nghĩa là khi giá trị ký quỹ giảm xuống 5% so với giá trị vay,
NH sẽ thông báo cho KH ký quỹ thêm.
Tỷ lệ xử lý: 4% có nghĩa là khi giá trị ký quỹ giảm xuống 4% so với giá trị vay, NH sẽ
tự động tất toán trạng thái mua bán của KH.
Ưu điểm: Nhà đầu tư có thể cập nhật các thông tin về giá cả, nhu cầu của thị trường một cách
tương đối chính xác, phí giao dịch thấp, mức độ tin cậy cao.
Nhược điểm: Nhập lệnh chậm, thường nghẽn mạng vào giờ cao điểm. Giờ giao dịch ngắn
sáng từ 8h đến 11h, chiều từ 13h đến 16h. Không thể đặt lệnh dừng lỗ, chốt lời 1 cách tự
động. Không giao dịch qua điện thoại nên tốn nhiều thời gian.
*Những điều cần lưu ý:
Kinh doanh qua sàn chỉ thích hợp cho những nhà đầu tư có ý định đầu tư dài hạn. Còn
nhà đầu tư lướt sóng cơ hội chốt lời sẽ khó hơn vì thông thường giờ giao dịch của sàn vàng thì
giá vàng quốc tế ít biến động.
Trước giờ nghỉ trưa, cần phải hủy hết các lệnh mua bán chưa khớp.
2. VAI TRÒ CỦA VÀNG
Vàng không chỉ là một loại hàng hóa đơn thuần như những loại hàng hóa khác, vàng
còn là một loại tiền tệ đặc biệt dùng để trao đổi trong hơn 5 000 năm nay. Bên cạnh đó, không
giống như những đồng tiền trên thị trường như Đô la Mỹ, đồng Euro, đồng Yên, đô la Úc,…
những đồng tiền này thường gắn liền và được kiểm soát bởi chính phủ của đồng tiền nước đó
và nền kinh tế của nước đó. Sự tăng giảm nền kinh tế sẽ ảnh hưởng đến giá trị đồng tiền đó.
Trong khi đó, vàng và bạc là một loại đồng tiền đặc biệt bởi hai loại hàng hóa này mang tính
chất của một công cụ trao đổi nhưng lại không chịu sự kiểm soát hay ảnh hưởng bởi nền kinh
tế cụ thể nào. Chính điều này giữ giá trị của vàng lâu dài hơn so với các đồng tiền khác.
2.1 Vàng giúp đa dạng hóa danh mục đầu tư
Đa dạng hóa danh mục đầu tư là việc bỏ vốn đầu tư vào các loại tài sản có độ rủi ro
khác nhau dựa, xây dựng lên một cơ cấu tài sản hợp lý để có thể phân tán rủi ro hay hạn chế
tối đa rủi ro đầu tư. Đa dạng hoá danh mục đầu tư tuy không hoàn toàn xoá bỏ hết rủi ro,
5
nhưng nó có thể làm giảm bớt mức rủi ro theo một nguyên tắc đầu tư "không nên để tất cả
trứng vào cùng một rổ".

Có nhiều lý do để giải thích tại sao cần phải đa dạng hóa danh mục đầu tư. Một cách
đơn giản, việc mở rộng phạm vi đầu tư vào nhiều công ty, nhiều lĩnh vực không có nhiều sự
liên kết với nhau, nhà đầu tư có thể kiềm chế bớt sự biến động giá cả với danh mục của mình
do thực tế, rất hiếm khi xảy ra trường hợp: tất cả các ngành đi lên hay đi xuống với cùng một
tốc độ và trong cùng một thời kỳ. Do đó, đa dạng hóa sẽ đảm bảo sự hoạt động ổn định hơn, ít
rủi ro hơn cho nhà đầu tư.
Hầu hết các danh mục đầu tư ban đầu chỉ tập trung vào những tài sản truyền thống như
cổ phiếu và trái phiếu. Lý do để nắm nhiều tài sản khác nhau là để bảo vệ danh mục đầu tư
tránh được những rủi ro từ biến động giá của một loại chứng khoán nhất định. Danh mục đầu
tư có bao gồm vàng sẽ ổn định hơn so với danh mục khác.
2.2 Vàng là công cụ phòng chống lạm pháp

Khi hàng hóa và dịch vụ tăng nhà đầu tư có khuynh hướng mua vàng do sức mua và
giá trị của vàng có khuynh hướng ổn định. Do đó mỗi khi lo sợ về lạm phát, nhà đầu tư lại
mua vàng.
Ở thời điểm hiện tại, VN đang phải đối phó với nạn lạm phát tăng cao. Chỉ số giá tiêu
dùng sẽ ở mức hai con số trong năm nay. Lạm phát tăng thể hiện sự tương quan giữa tiền và
hàng hoá. Với cùng một số tiền như nhau thì người ta sẽ mua được một số lượng hàng hóa ít
hơn. Từ điều này có thể thấy rằng, khi có lạm phát thì người giữ tài sản sẽ có lợi hơn người
giữ tiền hay nói cách khác hàng hóa là công cụ phòng ngừa rủi ro lạm phát. Vì vậy, không chỉ
có vàng mà các loại hàng hóa khác như kim loại quý, bất động sản, các mặt hàng như cà phê,
cao su, dầu đều là những công cụ chống lạm phát hữu hiệu. Tuy vậy, vàng là một loại hàng
hóa đặc biệt hơn cả, có giá trị cao, luôn duy trì được giá trị trao đổi cao trên thị trường và đặc
biệt là khả năng thanh khoản trên thị trường. Tất cả những yếu tố trên đã biến vàng thành
công cụ để chống lạm phát hữu hiệu.
Chính tính chất như một loại hàng hóa của vàng cũng đem lại cho vàng một sức
hút hấp dẫn trong vai trò là công cụ đầu tư chống lạm phát. Kinh tế ngày càng phát triển, chỉ
số lạm phát ngày càng tăng và vàng sẽ là công cụ đầu tư giữ được giá trị cao nhất.
Trong bối cảnh tình hình chính trị bất ổn, vàng cũng là loại tài sản tích trữ duy nhất
bởi giá trị của các đồng tiền có thể thay đổi theo diễn biến chính trị. Trong khi đó, vàng luôn

giữ được giá trị của mình dưới bất kì hoàn cảnh nào.
2.3 Vàng là công cụ đầu tư thay thế đồng USD
Vàng thường được sử dụng như một công cụ đầu tư hiệu quả thay thế đồng USD –
đồng tiền được giao dịch nhiều nhất thế giới. Nếu đồng USD tăng giá, thì vàng sẽ giảm.
Ngược lại USD giảm giá thì vàng sẽ tăng. Do đó vàng là cách đầu tư hiệu quả nhất trong việc
phòng chống rủi ro giảm giá của đồng USD.
2.4 Vàng giúp kiểm soát rủi ro
Nhìn chung, vàng ít biến động hơn hầu hết các loại hàng hóa khác cũng như thị trường
chứng khoán. Với việc sở hữu tài sản ít biến động trong danh mục đầu tư, rủi ro của nhà đầu
tư sẽ giảm.
2.5 Dự trữ ngoại hối
6
Về lý thuyết, vàng có đầy đủ chức năng của tiền tệ đó là: thước đo giá trị, phương tiện
thanh toán, phương tiện cất trữ và tiền tệ thế giới. Vàng khác tiền giấy ở chỗ tiền vàng luôn
giữ được giá trị lâu dài, không phải là tài sản nợ của bất kỳ quốc gia nào do đó giá trị tiền
vàng không phụ thuộc vào tình hình chính trị và sự kiểm soát của các quốc gia như tiền giấy.
Đó chính là lý do vàng được lựa chọn là phương tiện cất trữ phổ biến, đặc biệt trong thời kỳ
khủng hoảng kinh tế hay leo thang chính trị. Vàng cũng đóng vai trò tiền tệ thế giới do vàng
được chấp nhận thanh toán ở các quốc gia, không phân biệt biên giới lãnh thổ.
Trên thực tế, mặc dù vai trò tiền tệ của vàng có giảm theo thời gian cùng với sự phát
triển của tiền giấy nhưng không thể hoàn toàn mất đi đặc biệt là chức năng cất trữ giá trị và
tiền tệ quốc tế. Do vậy, với chức năng là cơ quan thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, hầu hết
NHTW các nước đều có chính sách quản lý vàng thông qua việc quản lý vàng thuộc dự trữ
ngoại hối quốc gia và quản lý thị trường vàng trong nước. Đối với hoạt động quản lý vàng
thuộc dự trữ ngoại hối quốc tế, hầu hết NHTW các nước đều được giao quản lý tài sản dự trữ
trong đó có vàng để thực thi chính sách tiền tệ. Đối với hoạt động quản lý thị trường vàng
trong nước, tùy vào mức độ sử dụng vàng như một loại tiền tệ ở từng quốc gia mà chính sách
quản lý cũng khác nhau.
Ở những nước phát triển, giá trị đồng nội tệ ổn định hoặc có đồng nội tệ là đồng tiền
tự do chuyển đổi, thị trường tài chính và các công cụ đầu tư tài chính phát triển thì vàng chỉ

đóng vai trò là hàng hóa hoặc công cụ đầu tư tài chính thông thường. Do vậy, thường không
còn hạn chế đối với hoạt động kinh doanh vàng ở các thị trường này. Ở rất nhiều nước, vàng
được giao dịch như hàng hóa tại các Sở giao dịch hàng hóa chính thức.
Các Sở giao dịch hàng hóa được thành lập dưới dạng công ty, có tư cách pháp nhân
độc lập, do tư nhân đầu tư 100% hoặc kết hợp giữa vốn tư nhân và Nhà nước. Hoạt động của
sở do các ủy ban chuyên trách như Ủy ban chứng khoán và hàng hóa giám sát và quản lý. Khi
đó, NHTW không thực hiện chức năng quản lý đối với hoạt động kinh doanh vàng.
Ngược lại, ở những nước đang phát triển, các phương tiện thanh toán, đầu tư còn
nghèo nàn, giá trị đồng bản tệ ổn định thì việc dùng vàng làm phương tiện cất trữ giá trị, tự
bảo hiểm chống lạm phát còn rất phổ biến khiến vai trò tiền tệ của vàng được phát huy. Do
vậy, NHTW các nước này (Trung Quốc, Myanma, Việt Nam…) thường có chính sách quản lý
chặt chẽ đối hoạt động kinh doanh vàng để đảm bảo thực thi hiệu quả chính sách tiền tệ quốc
gia. Đối với Việt Nam, công tác quản lý vàng (với vai trò tiền tệ) được thực hiện theo luật
NHNN. Theo luật NHNN, một trong những nhiệm vụ được giao cho NHNN là quản lý nhà
nước về hoạt động kinh doanh vàng đồng thời NHNN cũng có nhiệm vụ quản lý dự trữ ngoại
hối Nhà nước bao gồm có vàng được đầu tư trên thị trường trong nước và quốc tế để đảm bảo
mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tỷ giá, giá vàng.
2.6 Bất cập dự trữ vàng ở Việt Nam
Tỷ lệ nắm giữ vàng thuộc dự trữ ngoại hối Nhà nước còn ở mức khiêm tốn và chưa
tương xứng với quy mô phát triển của thị trường vàng trong nước. Tính đến cuối năm 2010, tỷ
lệ vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước chỉ chiếm khoảng 4-5 %. Tỷ lệ này thấp hơn nhiều so
với tỷ lệ dự trữ vàng trên tổng dự trữ quốc tế của Mỹ (67%), khối EU ( trên 50%), một số
nước sử dụng đồng Euro như Đức (65%) và Pháp (64%); NHTW Châu Âu (15%) và mức
bình quân của thế giới hiện nay (10,2%).
Nếu so với kim ngạch xuất khẩu vàng của Việt Nam thì lượng vàng dự trữ của Quỹ
bình ổn tỷ giá và giá vàng là rất nhỏ bé, chỉ chiếm 4,5%. Điều này khiến cho việc sử dụng
vàng dự trữ để can thiệp thị trường vàng trong nước sẽ không có tác dụng đáng kể, không thể
hiện vai trò của NHNN trong việc can thiệp bình ổn giá vàng như những năm đầu của thập kỷ
90.
Nếu xét về khối lượng vàng thì vàng thuộc dự trữ ngoại hối không thay đổi trong hàng

thập kỷ qua, không tương xứng với sự thay đổi của quy mô dự trữ ngoại hối Nhà nước. Hoạt
7
động can thiệp bình ổn giá vàng của Quỹ bình ổn giá và giá vàng còn đơn điệu, chỉ mới thực
hiện dưới 2 hình thức (i) bán ngoại tệ cho các DN nhập khẩu vàng mà không thực hiện can
thiệp bán vàng thuộc dự trữ ngoại hối ra thị trường hoặc mua từ thị trường bổ sung dự trữ
ngoại hối (ii) cấp phép nhập khẩu có hạn ngạch cho từng DN kinh doanh vàng. Nguyên nhân
của tình trạng này là do nhu cầu vàng của dân cư trong nước bao gồm vàng trang sức, vàng
miếng khác với vàng theo tiêu chuẩn quốc tế được nhập trên thị trường quốc tế.
NHNN mới chỉ chú trọng vào việc bảo toàn giá trị vàng thuộc dự trữ ngoại hối dưới
hình thức bảo quản trong kho, mà chưa chú trọng đến hoạt động đa dạng hóa các hình thức
đầu tư dự trữ vàng thuộc dự trữ. Trong suốt thời gian từ năm 1999 đến nay, lượng vàng dự trữ
của Việt Nam chỉ được bảo toàn giá trị ở trong kho. NHNN chưa tiến hành bất cứ một nghiệp
vụ đầu tư nào trên thị trường quốc tế liên quan đến lượng vàng dự trữ nói trên như gửi vàng
lấy lãi, ủy thác đầu tư vàng hay cho vay vàng, kinh doanh vàng vật chất hay vàng trên tài
khoản lấy lãi. Việc cất giữ vàng trong kho vừa không sinh lời vừa làm phát sinh chi phí bảo
quản.
NHNN chưa quy có quy định cụ thể về sử dụng vàng thuộc dữ trữ ngoại hối để đầu tư
trên thị trường quốc tế hay can thiệp thị trường vàng trong nước vào những thời điểm cần
thiết. Đến nay chưa có văn bản nào được ban hành về cơ chế đầu tư vàng dự trữ trên thị
trường quốc tế như được phép đầu tư dưới hình thức nào (gửi, cho vay, ủy thác đầu tư, mua
bán quyền chọn hay kỳ hạn…), tiêu chuẩn và chuẩn mức đầu tư đối với từng loại hình thức,
đối tác là bao nhiêu…
Bên cạnh đó, NHNN cũng chưa ban hành cơ chế can thiệp thị trường vàng trong nước,
chưa quy định một số điều kiện khung tối thiếu đối với hoạt động can thiệp như: giá vàng
trong nước chênh bao nhiêu % so với giá vàng quốc tế thì sẽ được can thiệp, phương thức,
phạm vi và quy mô can thiệp như thế nào, đơn vị nào thực hiện can thiệp
3. RỦI RO KHI ĐẦU TƯ VÀNG
3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng.
3.1.1 Đồng USD và GDP
Giá vàng hiện chủ yếu được yết bằng USD, do vậy khi USD bị đẩy lên cao, đến lượt

nó lại ảnh hưởng trực tiếp đến giá vàng. Theo đó, khi giá USD tăng, giá vàng sẽ tăng tương
ứng. Giá vàng tăng trong khi cầu về vàng vượt quá cung khiến nhu cầu mua USD để nhập
khẩu vàng tăng, lúc này, giá vàng đã tác động ngược trở lại giá USD, tạo vòng xoáy giữa
vàng, USD.
USD được xem là đồng tiền mang tính thanh toán toàn cầu, do đó theo thông lệ, các
loại hàng hóa hay ngoại tệ khi giao dịch trên thế giới thường được định giá theo USD và vàng
cũng không ngoại lệ. Chính vì vậy, bất cứ tác động nào ảnh hưởng đến giá trị đồng USD thì
cũng tác động trực tiếp đến biến động giá cả của vàng.
Thông thường đồng USD và giá vàng biến động ngược chiều nhau. Do đó nghiên cứu
những nhân tố ảnh hưởng đến đồng tiền này sẽ giúp ích rất nhiều cho việc dự báo vàng. Các
chỉ số ảnh hưởng đến đồng USD bao gồm: GDP, Lãi suất, lạm phát, thặng dư thương mại,
doanh số bán lẻ, thị trường nhà đất, đơn đặt hàng lâu bền, chỉ số PMI, niềm tin tiêu dùng.
3.1.2 Lãi suất
Đây là một trong những chỉ số chính do lường “sức khoẻ” của nền kinh tế, được tính
bằng cách cộng tất cả thu nhập của người dân hoặc công tất cả chi tiêu của mọi thành phần.
Do đó chỉ số này tốt hay xấu ảnh hưởng rất lớn đến đồng tiền và thị trường chứng khoán của
quốc gia đó.
8
3.1.3 Lạm phát
Thông thường khi lạm phát tăng, NHTW các nước sẽ xem xét tăng lãi suất để kiềm
chế lạm phát. Do đó xét về ngắn hạn, khi lạm phát tăng nhà đầu tư thường mua vào đồng tiền
đó.
Giá vàng thường tỷ lệ thuận với sự gia tăng của lạm phát. Trong thời kỳ lạm phát cao,
tiền giấy mất giá người ta có xu hướng đầu tư vào vàng để giữ giá trị tài sản, vàng là tài sản
hữu hiệu để tích trữ và giá trị không tùy thuộc vào sức khỏe bất kỳ nền kinh tế nào. Vàng là
công cụ tài chính hữu hiệu để phòng ngừa lạm phát. Thông thường để đối phó với tình trạng
lạm phát tăng cao, thị trường có khuynh hướng mua vàng với kỳ vọng giá trị tài sản sẽ không
bị giảm sút .Các quỹ đầu tư, đầu cơ cũng mua vàng với mục tiêu là sử dụng vàng như một
phần tài sản đảm bảo giá trị quỹ trong trường hợp lạm phát cao hay kinh tế suy thoái, giá
chứng khoán sụt giảm….

3.1.4 Cán cân thương mại
Là chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia. Khi mức chênh lệch
dương thì cán cân thương mại có thặng dự. Khi mức chênh lệch âm thì cán cân thương mại bị
thâm hụt. Cán cân thương mại tăng thì đồng tiền quốc gia đó tăng và ngược lại.
3.1.5 Sản lượng công nghiệp
Đo lường sự thay đổi trong khu vực công nghiệp của nền kinh tế. Chỉ số này rất nhạy
với lãi suất và nhu cầu tiêu dùng, đây cũng là cơ sở được NHTW sử dụng đế đánh giá lạm
phát vì sản lượng công nghiệp tăng lạm phát và tiêu dùng tăng. Sản lượng công nghiệp tăng
thì đồng tiền của quốc gia đó sẽ tăng.
3.1.6 Doanh số bán lẻ
Đánh giá mức tiêu dùng của người dân, được tính toán dựa trên các lĩnh vực ôtô, vật
liệu xây dựng, doanh số của các cửa hàng tạp hoá, nhà hàng, nhà thuốc… Doanh số bán lẻ cao
cho thấy nền kinh tế đang tăng trưởng do đó đồng tiền nước đó sẽ tăng giá trị.
3.1.7 Thị trường nhà đất của mỹ
Các số liệu về giấy phép xây dựng, doanh số mua bán nhà mới, mua bán nhà hiện có ảnh
hưởng rất nhiều đến quyết định lãi suất của các Ngân hàng Trung ương, do đó nếu thị trường
nhà đất khả quan thì nhu cầu đồng tiền của quốc gia đó sẽ tăng.
3.1.8 Giá dầu
Mỗi khi giá dầu tăng, thị trường lại dấy lên nỗi lo về lạm phát do đó nhu cầu vàng sẽ
tăng. Thông thường giá dầu và vàng biến động cùng chiều nhau. Sau đây là các thông tin
chính ảnh hưởng đến giá dầu thế giới.
Dự trữ dầu thô của Mỹ.
Các thông tin liên quan đến tổ chức OPEC.
Các thông tin liên quan đến sản lượng cũng như nhu cầu về dầu thô của thế giới.
3.1.9 Chính trị
9
Bao gồm các thông tin liên quan đến tình hình chính trị thế giới. Khi tình hình thế giới
căng thẳng, nhu cầu mua vàng dự trữ sẽ tăng vì người dân lo ngoại về sự bất ổn hay một sự
thay đổi nào đó sẽ làm mất đi giá trị của những loại hàng hoá khác. Khi xảy ra tình trạng như
vậy làm nhu cầu mua vàng tăng và đẩy giá vàng lên cao.

Bên cạnh đó nạn đầu cơ vàng cũng như những chính sách kinh tế của Chính phủ cũng
ảnh hưởng rất lớn đến giá vàng. Chẳng hạn như chính sách bán vàng bình ổn giá của Ngân
hàng Nhà Nước Việt Nam trong tháng 10/2011 kêu gọi các ngân hàng cũng như doanh nghiệp
kinh doanh vàng bán vàng ra để bình ổn thị trường vàng đang nóng lúc đó, chính này đã góp
phần làm hạ nhiệt giá vàng một cách đáng kể.
4. GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ VÀNG
4.1 Thị trường vàng hiện nay
Thất bại dễ nhận thấy nhất của thị trường vàng hiện nay là sự lệch lạc của giá vàng.
Nếu lấy giá vàng thế giới làm chuẩn thì có thể thấy sự biến động của giá vàng Việt Nam là vô
cùng bất thường.
Sự bất ổn trên thị trường vàng đã góp phần gây nên tình trạng bất ổn vĩ mô tăng cao.
Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa của thực trạng này là do tình hình kinh tế chứa đựng nhiều rủi
ro, làm cho các dòng vốn phải tìm nơi trú ẩn an toàn là vàng. Do đó, để bình ổn thị trường
vàng thì giải pháp ngắn hạn là điều tiết thị trường hợp lý hơn và giải pháp căn cơ, dài hạn là
phải ổn định kinh tế vĩ mô.
Vàng gắn bó với đời sống của người dân Việt Nam không chỉ ở góc độ trang sức mà
còn là phương tiện thanh toán thuận tiện có thể thay thế tiền tệ, đồng thời là tài sản cất trữ có
giá trị. Vàng còn là kênh đầu tư an toàn và hiệu quả bởi tính ổn định và thanh khoản cao. Lạm
phát tăng cao và những bất ổn vĩ mô khác làm cho vàng trở thành kênh đầu tư hấp dẫn nhất so
với các kênh khác như bất động sản, chứng khoán, tiết kiệm Tuy nhiên, thị trường vàng
đang chứa đựng nhiều bất ổn có thể làm phương hại đến nhà đầu tư và cả sự ổn định của nền
kinh tế.
Trên thị trường thế giới, dự đoán tăng trưởng kinh tế chậm lại và mối lo ngại vấn đề
nợ công tại châu Âu càng tồi tệ hơn đã đẩy giá vàng giao dịch phiên đầu tuần vọt qua ngưỡng
1.900 USD/ounce.
Chốt phiên giao dịch tại thị trường London, giá vàng giao ngay tăng 17,82 USD,
tương đương 0,9% lên mức 1.900,7 USD/ounce. Trước đó, có thời điểm, giá vàng đã vọt lên
mức 1.903,52 USD/ounce, gần với mức kỷ lục 1.913,5 USD/ounce lập được hôm 23/8/2011
Giá vàng giao kỳ hạn tháng 12 trên sàn Comex cũng tăng 26 USD, tương đương 1,4%
lên mức 1.902,9 USD sau khi leo lên mức 1.908,4 USD/ounce. Hôm qua, thị trường Mỹ nghỉ

lễ Lao động.
Chứng khoán châu Âu phiên hôm qua đã sụt mạnh khi đảng của đương kim Thủ tướng
Angela Merkel đã bị mất điểm trong cuộc bầu cử bởi cách thức xử lý cuộc khủng hoảng nợ
công của bà Merkel.
10
Giá vàng tăng mạnh còn do ảnh hưởng từ những dữ liệu về việc làm của Mỹ công bố
hôm 2/9/2011 khiến giới đầu tư lo ngại nền kinh tế đang đứng trước một cuộc suy thoái mới.
4.2 Thất bại của thị trường vàng
Thất bại dễ nhận thấy nhất của thị trường vàng hiện nay là sự lệch lạc của giá vàng.
Nếu lấy giá vàng thế giới làm chuẩn thì có thể thấy sự biến động của giá vàng Việt Nam là vô
cùng bất thường. Từ giai đoạn bất ổn vĩ mô 2007 - 2008 đến nay, thị trường vàng thường
xuyên diễn ra tình trạng nóng sốt, giá trong nước thường cao hơn giá thế giới từ vài trăm ngàn
đến 1 triệu đồng một lượng, thậm chí có thời điểm lên đến cả 2 triệu đồng một lượng.
Tuy nhiên, kể từ thời điểm có thông tin Chính phủ sẽ xoá bỏ tự do kinh doanh vàng
miếng (mặc dù vẫn thừa nhận quyền sở hữu vàng của người dân), thị trường vàng trở nên
đóng băng, giá vàng trong nước giảm mạnh, có lúc thấp hơn giá vàng thế giới và rất ít xê dịch
cho dù giá vàng thế giới liên tục thiết lập các mức cao kỷ lục.
Thay vì cấm đoán thị trường vàng, có thể thay đổi chính sách hạn ngạch, chuyển sang
cho trực tiếp hoặc uỷ thác nhập khẩu vàng để hoán đổi một phần dự trữ ngoại tệ sang dự trữ
vàng.
Sự biến động thị trường vàng trong nước là nguyên nhân làm tình trạng bất ổn vĩ mô
tăng cao. Cho đến năm 2007, thị trường vàng tương đối ổn định, tuy nhiên, từ sau năm 2007,
những bất ổn vĩ mô trong nước đã làm cho các kênh đầu tư như bất động sản, chứng khoán
không còn hấp dẫn, tác động của lạm phát cao đã làm cho lãi suất thực của tiết kiệm rất thấp.
Ngoài ra, sự gia tăng liên tục giá vàng thế giới đã hấp dẫn các nhà đầu tư chạy theo
vàng. Đầu tư vàng không chỉ là nơi an toàn trong tình trạng kinh tế bất ổn mà còn là kênh đầu
tư tạo ra nhiều lợi nhuận. Chính việc các dòng vốn đều tập trung vào kênh đầu tư vàng đã làm
cho cầu vàng tăng cao, trong khi cung vàng bị hạn chế do phụ thuộc vào hạn ngạch nhập vàng
của ngân hàng Nhà nước và tâm lý đầu cơ của nhà đầu tư. Cầu lớn hơn cung đã làm cho giá
vàng trong nước tăng cao hơn rất nhiều so với vàng thế giới.

Điều này dẫn đến tình trạng buôn lậu vàng diễn ra mạnh mẽ. Buôn lậu vàng đòi hỏi
lượng ngoại tệ lớn làm cầu ngoại tệ trên thị trường tự do tăng, cầu ngoại tệ nhập vàng tăng
góp phần làm tỷ giá thị trường tự do tăng. Những điều này một mặt gây áp lực phá giá đồng
nội tệ, một mặt gây áp lực buộc NHNN cho phép nhập vàng. Cứ như vậy vòng xoáy vàng,
ngoại tệ lặp đi lặp lại góp phần gây nên tình trạng bất ổn tăng cao.
4.3 Thất bại của các chính sách can thiệp của Chính Phủ
Dựa trên nhận định rằng sự bất ổn của thị trường vàng đã góp phần gây nên tình trạng
bất ổn vĩ mô, NHNN đã tiến hành can thiệp vào thị trường vàng. Đầu tiên là dẹp bỏ sàn giao
dịch vàng ảo. Tuy nhiên biện pháp này tỏ ra kém hiệu quả. Cho dù không có sàn vàng ảo dẫn
11
dắt và sắp tới có thể dẹp luôn giao dịch vàng miếng, thị trường vàng miếng vẫn dậy sóng.
Những động thái can thiệp này của NHNN đang đi ngược lại nguyên tắc thị trường và không
chữa trị được tận gốc của vấn đề. Nó phạm phải ba sai lầm dẫn đến thất bại của Nhà nước
trong việc quản lý hiệu quả thị trường vàng.
Thứ nhất, các chính sách đưa ra đã không lường hết những phản ứng của thị trường.
Khi NHNN dẹp bỏ sàn vàng ảo, lập tức các nhà đầu tư sẽ chuyển dòng vốn của mình sang
vàng miếng (chứ không phải là sang các kênh đầu tư mà Nhà nước mong muốn như tiết
kiệm), làm cho thị trường vàng miếng càng nóng sốt hơn. Và bây giờ, trong khi những rủi ro
của nền kinh tế vẫn còn nguyên vẹn, thậm chí còn tăng cao thì kênh đầu tư ưa chuộng nhất
vẫn là vàng.
Do đó, việc NHNN tuyên bố sẽ xoá bỏ thị trường vàng miếng có thể làm phát sinh thị
trường "vàng lá", "vàng thỏi phong thuỷ"
Thứ hai, các chính sách chú ý quá mức đến các vấn đề ngắn hạn. Những biến động
gần đây của thị trường vàng chỉ mang tính ngắn hạn do tác động của tình hình kinh tế và
chính sách hạn ngạch vàng. Việc dẹp bỏ kinh doanh vàng miếng là biện pháp mang tính ngắn
hạn mà không quan tâm đến lợi ích dài hạn của vàng là kênh đầu tư an toàn nhằm đa dạng hoá
rủi ro cho nhà đầu tư và cả nền kinh tế.
Thứ ba, các chính sách can thiệp của Nhà nước không tuân theo nguyên tắc thị
trường. Như đã phân tích ở trên, nguyên nhân sâu xa của những bất ổn trên thị trường vàng
không xuất phát từ bản thân thị trường này mà do tác động của chính sách hạn ngạch nhập

khẩu của NHNN trong điều kiện bất ổn kinh tế vĩ mô. Do đó, thay vì cấm đoán thị trường
vàng, NHNN có thể thay đổi chính sách hạn ngạch.
Theo đó, NHNN có thể chuyển từ việc cấp hạn ngạch nhập khẩu vàng sang việc trực
tiếp hoặc uỷ thác cho các công ty nhập khẩu vàng để hoán đổi một phần dự trữ ngoại tệ sang
dự trữ vàng. Động thái này một mặt làm tăng nguồn cung trong nước qua đó làm giảm tâm lý
đầu cơ để bình ổn thị trường vàng, mặt khác NHNN có thể mua bán vàng ra thị trường để can
thiệp nếu cần thiết. Ngoài ra, việc chuyển một phần dự trữ ngoại tệ sang dự trữ vàng có thể
hạn chế rủi ro giá trị thực của dự trữ ngoại hối bị sụt giảm khi các ngoại tệ bị mất giá do lạm
phát ở nước ngoài.
Khi nền kinh tế ngày càng thị trường hoá và thâm nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế
giới, nó đòi hỏi thể chế kinh tế mới và phương thức quản lý mới mà ở đó Nhà nước đóng vai
trò định hướng hơn là trực tiếp chèo lái các hoạt động kinh tế. Sự can thiệp của Nhà nước vào
nền kinh tế đòi hỏi phải có cơ sở rõ ràng và biện pháp can thiệp cần tuân theo các nguyên tắc
thị trường.
12
4.4 Những rủi ro thường gặp trong đầu tư vàng
Trong suốt những tháng qua, vàng trở thành tâm điểm của giới đầu tư. Không thể phủ
nhận rằng, trong bối cảnh lạm phát cao, các kênh đầu tư khác không còn hấp dẫn, vàng trở
thành sự lựa chọn số 1. Tuy nhiên, rủi ro đối với người dân và các nhà đầu tư cũng không hề
nhỏ. Khi giá biến động một cách khó hiểu, lại xuất hiện tình trạng người dân đổ xô xếp hàng
đi mua – bán vàng. Điều này đã gây hiện tượng tranh mua, tạo ra cơ hội cho những kẻ đầu cơ
trục lợi, gây thiệt hại và rủi ro cho người mua và Nhà nước. Theo các chuyên gia kinh tế, tình
trạng này có thể dẫn đến một số rủi ro cho người dân và NĐT như:
Thứ nhất, một trong những phạm trù bất biến trong hoạt động đầu tư đó là lợi nhuận
cao thì rủi ro lớn. Vàng từ một kênh đầu tư an toàn đang trở thành kênh đầu tư có lợi nhuận
cao, nhưng rủi ro đi kèm cũng không hề ít. Thực tế, trong dòng người đi bán vàng ở Hà Nội
vừa qua, có không ít người mua từ hôm giá hơn 49 triệu đồng/lượng, nhưng hôm sau đành cắt
lỗ ở mức hơn 45 triệu đồng/lượng. Trước tình trạng giá vàng biến động bất thường như vậy,
nhiều tổ chức tài chính trên thế giới đã nâng mức rủi ro của đầu tư vàng. Chẳng hạn, mới đây,
Sở Giao dịch hàng hóa Chicago đã tăng tỷ lệ ký quỹ đối với giao dịch vàng kỳ hạn lên thêm

22% nhằm tránh rủi ro “cháy” tài khoản của NĐT.
Thứ hai, sự thao túng của các nhóm đầu cơ. Cần phải hiểu rằng, giá vàng trong nước
bị chi phối rất mạnh bởi thị trường thế giới - nơi có những nhà đầu cơ rất mạnh về tài chính
nên chiều hướng và biến động của thị trường vàng luôn rất khó lường. Thị trường thế giới còn
thao túng được thì thị trường trong nước càng dễ thao túng. Thời gian qua, thị trường vàng
trong nước bị không ít nghi ngờ về bàn thao túng, làm giá của các tổ chức tài chính, các DN
kinh doanh vàng lớn. Vì thế, NĐT nhỏ lẻ rất dễ rơi vào cảnh “đổ vỏ” cho các đại gia tài chính
giống như thị trường chứng khoán trước đây.
Thứ ba, rủi ro gắn với “bẫy nợ” trong đầu tư vàng. Tính từ đầu năm 2011 đến nay, giá
vàng thế giới đã tăng 36%. Giá vàng tăng chóng mặt trong thời gian qua đã mang lại lợi
nhuận cao và thu hút ngày càng nhiều NĐT mới và người dân tham gia thị trường vàng. Tuy
chưa có con số thống kê, song chắc chắn không ít NĐT trong số đó vay tiền để đầu tư. Trước
sức hấp dẫn của vàng và lòng tham, giá vàng càng tăng càng thúc đẩy hoạt động đầu tư và vay
nợ nhiều hơn. Sẽ thật mạo hiểm nếu NĐT bạo dạn nào dám vác sổ đỏ căn nhà đang ở, hoặc
vay nợ để đổ vào vàng.
TS.Nguyễn Minh Phong, Viện nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội Hà Nội cho rằng,
trong bối cảnh hiện nay, việc đầu cơ không bằng nguồn vốn tự có sẽ là con đường ngắn nhất
đưa con nợ đến chỗ phải vay nợ mới để nuôi nợ cũ. Khoản vay càng lớn thì hệ quả đổ vỡ dây
chuyền càng lớn. Một số chuyên gia còn khẳng định rằng, với mức giá biến động vàng như
thời gian qua, ngay cả việc kinh doanh huy động và cho vay vàng của các ngân hàng thương
mại cũng không mấy an toàn và có thể gây ra đổ vỡ trong toàn hệ thống. Vì thế, bẫy nợ trong
kinh doanh vàng là rủi ro mà NĐT vàng không thể không cân nhắc.
Thứ tư, rủi ro vì thiếu thông tin và kinh nghiệm khi sử dụng các phương thức kinh
doanh vàng hiện đại. Ngoài các giao dịch truyền thống (mua vàng vật chất) các NĐT còn có
cơ hội mua – bán vàng theo các phương thức kinh doanh hiện đại, như mua bán vàng trên các
sàn giao dịch vàng (chủ yếu là các sàn vàng chui vì hiện nay phương thức giao dịch này ở ta
đã bị cấm). Tuy nhiên, nếu bị hạn chế tiếp cận thông tin và kinh nghiệm phân tích các động
thái đa dạng và khó lường trên thị trường thế giới (như giá dầu, nợ công của Mỹ và châu Âu,
bất ổn chính trị…) và đặc điểm thị trường trong nước, thì NĐT thường không kịp “trở tay”.
Thực tế trước khi sàn vàng bị cấm, đã không ít NĐT “cháy” tài khoản và trở thành con nợ khi

13
liều lĩnh dùng đòn bẩy tài chính quá nhiều. Vì thế, tới đây, nếu Chính phủ cho mở lại sàn
vàng, tỷ lệ ký quỹ cần được tính đến một cách kỹ càng nhằm hạn chế rủi ro cho NĐT.
Thứ năm, giống như tất cả những tài sản khác, vàng không thể tăng mãi. Rồi sẽ đến
thời điểm NĐT giật mình đặt câu hỏi liệu rằng mình có định giá quá cao so với giá trị thật của
vàng? Tâm lý lo sợ sẽ khiến họ lập tức bán vàng ra. Tất nhiên, đây không chỉ là suy nghĩ của
một vài NĐT mà là của toàn thị trường và do đó các lệnh đặt bán sẽ áp đảo và cuộc tháo chạy
bắt đầu nổ ra. TS.Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia cũng
từng cảnh báo: Đến một ngày nào đó, sự quan tâm của các NĐT đến vàng chắc chắn sẽ giảm
đi. Chẳng hạn đến khi nền kinh tế phục hồi, những NĐT dài hạn không dại gì đi đầu tư vàng,
chỉ có những NĐT lướt sóng, ngắn hạn “chơi” với nhau nên rủi ro có thể rất cao.
4.5 Những nguyên tắc hạn chế rủi ro trong đầu tư vàng
Thời gian qua, các chuyên gia và DN luôn kêu gọi cẩn trọng với diễn biến giá vàng
bởi có thể gây rủi ro rất lớn cho cá nhân, tổ chức mua bán vàng với mục đích đầu cơ. Dưới
đây là bốn khuyến nghị mà NĐT cần “để tâm” một khi đầu tư vàng trong bối cảnh lạm phát
cao.
Thứ nhất, nắm giữ tỷ lệ thích hợp và không để bị cuốn vào “cơn lốc” giá vàng. Cơn
sốt vàng vừa qua chủ yếu được thúc đẩy những xúc cảm và tâm lý bầy đàn của người dân. Vì
vậy, NĐT thận trọng cần giữ vững chiến lược đầu tư dài hạn và phải luôn đảm bảo rằng tài
sản được phân phối đúng và đa dạng hóa theo danh mục đầu tư thích hợp. Vàng có thể nằm
trong chiến lược dài hạn của NĐT nhưng không nên giữ tỷ lệ quá cao trong nguồn tài sản đầu
tư của mình. Theo các chuyên gia vàng trên thế giới, tỷ lệ thích hợp trong danh mục tài sản
của NĐT chỉ nên từ 2-5%.
Thứ hai, cần có chiến lược để tỉnh táo thoát ra. Trong bất cứ kênh đầu tư nào, thoát ra
đúng thời điểm là cực kỳ quan trọng bởi nó không chỉ mang lại thắng lợi mà quan trọng hơn
là giảm thiểu thiệt hại cho NĐT. Không như chứng khoán hay bất động sản, đầu tư vàng có lẽ
không nên đặt ra một mức độ lời nhuận kỳ vọng quá xa vời nào đó vì giá vàng biến đổi từng
phút. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng, trong sự kỳ vọng quá cao, trong men say chiến
thắng khi giá vàng tăng chưa có điểm dừng, cộng với nỗi lo sợ của giới đầu tư đối với triển
vọng kinh tế thế giới, việc bán vàng để hiện thực hóa lợi nhuận là điều không dễ dàng. Dù sao

các chuyên gia vàng cũng khuyến cao rằng, nếu vàng chiếm tỷ lệ trên 5% trong danh mục tài
sản, NĐT cần có ngay chiến lược thoát ra để có thể chủ động thời điểm bán vàng với giá cạnh
tranh tốt nhất. Lời khuyên này cũng vừa được trang mạng tài chính Smart Money đưa ra đối
với các NĐT trong thời điểm giá vàng tăng lên mức kỷ lục mới.
Thứ ba, cần biết rõ khả năng dễ bị tổn thương của vàng. Trong bối cảnh lạm phát leo
thang hồi năm 1980, vàng từ mốc 450 USD đã vọt lên mức 850 USD chỉ trong vòng năm tuần
lễ. Sau đó, giá giao dịch kim loại này lại lao xuống mức thấp tới xấp xỉ 300 USD trong vòng
một năm sau đó và liên tục đi xuống trong suốt 20 năm tiếp theo. Giai đoạn hơn hai thập kỷ
giảm giá của vàng đã làm cho nhiều NĐT phải nản lòng vì thua lỗ rất lớn. Và cũng trong thời
14
gian đó, vàng không còn hề nhận được sự quan tâm của giới đầu tư. Hơn nữa, một khi “điểm
nghẽn” của kinh tế trong nước và toàn cầu (đặc biệt là nền kinh tế Mỹ) được tháo gỡ, các
kênh đầu tư khác sôi động trở lại và lúc đó, chắc chắn sự quan tâm của vàng đối với giới đầu
tư sẽ giảm xuống rất nhiều.
Thứ tư, phải ghi nhớ: Bài học cũ nhưng luôn mới. Trong hoạt đầu tư, kinh nghiệm cũ
thường luôn có được giá trị. Các kênh đầu tư chứng khoán, bất động sản từng mang lại nhiều
bài học đắt giá cho các NĐT thiếu kinh nghiệm và chạy theo phong trào. Không có lý do gì
mà kênh đầu tư vàng không mang thêm quả đắng nữa cho họ. Vì vậy, nếu người dân, NĐT
không cảnh giác với tin đồn, bị kích động và đổ xô mua vàng theo phong trào khi bản thân
chưa thực sự có nhu cầu hoặc kinh nghiệm đầu tư thì sẽ tự gây tổn hại cho mình.
4.6 Các phương thức đầu tư vàng
4.6.1 Hướng dẫn đầu tư
Do đặc thù & tính chất của thị trường vàng rất phức tạp nên giao dịch qua sự hướng
dẫn đầu tư của các chuyên gia, những người sành sỏi trong kinh doanh vàng hay những kinh
nghiệm tích luỹ của bản thân nhà đầu tư thành công hay thất bại tùy thuộc vào rất nhiều yếu
tố: khả năng phân tích, dự báo, kinh nghiệm, kỹ năng quản lý vốn, quản lý rủi ro, tâm lý, tính
kiên nhẫn và tính kỷ luật của nhà đầu tư vàng cũng như người hướng dẫn …, nắm bắt được
điều này giúp nhà đầu tư vàng hạn chế được nhiều rủi ro khi cầm giữ vàng trong tay.
4.6.2 Ủy thác đầu tư
Nhà đầu tư sử dụng số tiền nhàn rỗi của mình để ủy thác cho BQT CLB PFS-C đầu tư

& lựa chọn kênh đầu tư theo hợp đồng thỏa thuận được kí giữa 2 bên
4.6.3 Bảo hộ đầu tư
Là công cụ bảo hộ rủi ro trong biến động giá cho các nhà đầu tư vàng hay xuất khẩu
cà phê. Thị trường vốn dĩ biến động lên xuống thất thường, nếu không áp dụng công cụ quản
lý rủi ro…
4.6.4 Kết nối đầu tư
Bất cứ nhà đầu tư nào cũng mong muốn kiếm lợi nhuận hay đạt mức lợi nhuận hiệu
quả, bền vững từ quá trình đầu tư của mình.
Vàng, một loại “tài sản” được xem là an toàn và chống lạm phát cao, hiện nay đang là
một công cụ đầu tư hiệu quả trong danh mục đầu tư của các đại gia. Kinh doanh vàng không
còn dừng lại ở mua – bán vàng vật chất, mà còn ở trên giấy tờ thông qua vàng tài khoản trong
nước trên các sàn vàng, và qua hợp đồng quyền chọn (Option).
15
Ngoài ra, một số ngân hàng và tiệm vàng lớn được chấp nhận kinh doanh vàng trên tài
khoản ở nước ngoài. Từ đầu năm 2008, do thị trường vàng biến động mạnh theo diễn biến
kinh tế - chính trị thế giới, đầu tư vào vàng đã trở nên rất hấp dẫn do khả năng lợi nhuận cao,
nhưng bên cạnh đó luôn có rủi ro đi kèm nó.
Vì vậy, các ngân hàng và các tiệm vàng thường sử sụng nhiều công cụ phái sinh để
bảo hiểm rủi ro, mà hiệu quả nhất là hedging (mua một hợp đồng này và bán một hợp đồng
khác). Nhờ vậy, doanh nghiệp kinh doanh vàng hoàn toàn có thể cố định được lợi nhuận của
mình (từ việc sản xuất kinh doanh vàng nữ trang), và biến những yếu tố không dự đoán được
thành chi phí cố định. Hầu hết các tiệm vàng lớn đều sử dụng công cụ này để kiểm soát rủi ro
vào thời điểm giá biến động bằng cách mua vào vàng trong nước và bán ra vàng thế giới khi
giá vàng trong nước quá chênh lệch so với thế giới, sử dụng các nghiệp vụ đối ứng và các
công cụ phái sinh hữu ích như nghiệp vụ giao dịch kỳ hạn (Forward), quyền chọn (Option).
Nhưng bên cạnh đó, các công cụ bảo hiểm rủi ro lại tạo ra một cơ hội kiếm lời rất lớn do lợi
nhuận từ việc chênh lệch giá giữa các thị trường vàng dành cho các đại gia.
4.6.5 Kinh doanh chênh lệch giá vàng trong nước – thế giới
Thông thường, giá vàng trong nước luôn dao động xung quanh giá vàng thế giới , và
thường nhỉnh hơn chút ít do chịu thêm phí gia công và các phụ phí khi nhập vàng về. Tuy

nhiên, thời gian gần đây do một số yếu tố tâm lý và tác động từ việc hạn chế nhập khẩu vàng,
giá vàng trong nước đã có những lúc chênh lệch với giá vàng thế giới lên đến một triệu đồng /
lượng. Đây thường là cơ hội của các tiệm vàng lớn và các ngân hàng sử dụng hình thức kinh
doanh chênh lệch giá vàng trong nước – thế giới có đối ứng với tài khoản nước ngoài. Phương
thức này rất đơn giản và tập trung vào việc khai thác chênh lệch giá giữa hai thị trường bằng
cách: Khi giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới, ta nên bán vàng vật chất trong nước
đối ứng với mua vào tài khoản thế giới. Sau đó chờ khi giá vàng trong nước và thế giới xích
lại gần nhau, ta đóng trạng thái của cả hai tài khoản để thu lãi.
Ưu điểm của hình thức kinh doanh này là tỉ lệ rủi ro rất thấp. Tuy nhiên, đây là hình
thức kinh doanh yêu cầu lượng vốn dự trữ lớn, và phải đủ điều kiện mở tài khoản nước ngoài
để đối ứng giá vàng trong nước và thế giới. Phải nói rằng, ACB trong thời gian qua đã sử
dụng phương pháp kinh doanh này rất thành công, nhất là thông qua các công cụ sàn vàng của
mình.
4.6.6 Kinh doanh chênh lệch trên sàn vàng
Một cách khác cũng tương tự với phương thức này là kinh doanh chênh lệch giá vàng
trên các sàn vàng khác nhau hoặc trên sàn với ngoài sàn. Có những khoản thời gian giá vàng
bán ra trên sàn ACB thấp hơn mức giá vàng vật chất mua vào trên thị trường tự do, và đây
cũng là cơ hội để các đại gia nạp tiền mua vàng trên sàn ACB, sau đó chuyển thành vàng vật
chất rồi đem bán ở ngoài thị trường tự do. Đây cũng là một lý do mà sau này sàn vàng ACB
hạn chế việc rút vàng trên tài khoản với khối lượng lớn trong ngày.
Ngoài ra còn có hình thức kinh doanh chênh lệch giữa các sàn vàng với nhau. Lợi
dụng cơ hội một số sàn vàng mới ra đời và số lượng chơi chưa nhiều, rất nhiều người sành sỏi
trong thị trường vàng liên tục đặt lệnh và làm giá trên đây, đẩy giá vàng lên cao (hoặc xuống
thấp) so với giá vàng vật chất hoặc so với các sàn vàng khác, tận dụng cơ hội đó kinh doanh
chênh lệch giá gây tổn thất cho các sàn vàng.
16
4.6.7 Lựa chọn cơ hội đầu tư
Một hãng đầu tư vàng quốc tế ví von: “Vàng thế giới như một gã khổng lồ đã bắt đầu
thức tỉnh sau cơn mê ngủ. Gã khổng lồ sẽ có những bước tiến dài đến đâu? Và giá vàng VN
liệu có khả năng đeo bám cùng những bước tiến đó?”. Đầu tư vàng đem lại lợi nhuận cao

nhưng rủi ro rất lớn, nhưng các biến động của nó thì khôn lường và có thể gây ra tổn thất rất
lớn. Chính vì vậy nhà đầu tư vàng cần nhận định được khi nào là cơ hội thuận lợi để đầu tư
vào vàng và khi nào cần phải tạm thời dừng “cuộc chơi” lại để theo dõi tình hình. Ví dụ khi
tình hình thế giới có nhiều biến động, bất ổn chính trị xảy ra ở những nước mà thu nhập nhờ
xuất khẩu vàng thì chắc chắn giá vàng thế giới sẽ tăng vọt. Khi đó chúng ta phải nhận định
được liệu đây có phải là cơ hội đầu tư hay không? Hay tiếp tục quan sát diễn biến của giá
vàng để chọn thời cơ phù hợp nhằm đạt được lợi như mong muốn và tránh được rủi ro.
LỜI KẾT
Đầu tư vào vàng là một việc kinh doanh mạo hiểm do nó đem lại lợi nhuận cao và
kèm theo rủi ro rất lớn. Vì thế khi tham gia thị trường vàng chúng ta phải nắm được mọi
nguồn thông tin, biết mình đang ở đâu và đang làm gì và am hiểu các phương thức cũng như
các công cụ trong đầu tư vàng.
Khi đầu tư vàng mà không hiểu rõ mức độ rủi ro mà mình phải chịu, thì chúng ta chỉ
là “con bạc” dưới sự dẫn dắt của “nhà cái”. Vì giá vàng trong nước đôi lúc có sự chênh lệch
rõ rệt với giá vàng thế giới, nên việc am hiểu về kĩ thuật chơi, phương thức chơi là không đủ.
Để đầu tư vàng đạt lợi nhuận cao, chúng ta cần 70% khả năng phán đoán giá vàng thế giới,
30% hiểu rõ luật chơi của các đại gia và biết cách “bám đuôi” kiếm lợi nhuận và để tránh trở
thành “con mồi” của họ.
Qua bài tiểu luận nhóm mình mong rằng các bạn sẽ trang bị cho mình một số kiến
thức hữu ích khi tham gia thị trường vàng cũng như am hiểu tường tận hơn những mối quan
hệ và các tác động của thị trường vàng để khi đầu tư vào nó chúng ta không bị lúng túng cũng
như giảm thiểu mọi rủi ro.
Nhóm chúng em xin gửi đến Thầy và tất cả các bạn lời chúc sức khoẻ và thành công
trong cuộc sống!

NHÓM 6
17
THE END

18

×