Tải bản đầy đủ (.pdf) (19 trang)

Sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học: Chương 1: Thành phần hóa học của tế bào- Sinh học 10 nhằ...

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (270.89 KB, 19 trang )

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT ĐÀO DUY TỪ

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG I
: THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA TẾ BÀO - SINH HỌC 10, NHẰM
NÂNG CAO NĂNG LỰC SÁNG TẠO , KHẢ NĂNG THUYẾT TRÌNH
VÀ CÁC KĨ NĂNG CẦN THIẾT CHO HỌC SINH THPT

Người thực hiện: Nguyễn Thị Khánh Hòa
Chức vụ : Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực ( mơn) : Sinh học

MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC
THANH HỐ NĂM 2019

SangKienKinhNghiem.net


Trang
Phần I. Mở đầu
1. Lí do chon đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
5. Những điểm mới của SKKN
Phần II. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm


1. Cơ sở lí luận
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng phương pháp đóng vai ở
trường THPT
3. Áp dụng phương pháp đóng vai vào dạy học Chương 1 : Thành
phần hóa học của TB
4. Hiệu quả của sáng kiến
Phần III. Kết luận và kiến nghị
1. Kết Luận
2. Kiến nghị
Tài liệu tham khảo

2
2
3
3
3
4
5
5
7
8
14
17
18

Một số chữ viết tắt trong sáng kiến:
1. Trung học phổ thông: THPT
2. Học sinh:
HS
3. Giáo viên:

GV
4. Người dẫn
ND
5. Sách giáo khoa:
SGK
6. Phương pháp dạy học: PPDH
7. Tế bào : TB

1
SangKienKinhNghiem.net


Phần I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra những yêu
cầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự
nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực. Một trong những định
hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính
thụ động, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chủ động chú trọng việc hình
thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học. Định
hướng quan trọng trong đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng
tạo, năng lực cộng tác làm việc của người học...
Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương
trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, quan tâm
HS vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện
chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách
học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm
chất. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh
theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội
nhằm giải quyết các vấn đề phức hợp. Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ

động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo
khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thơng tin...), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất
linh hoạt, độc lập, sáng tạo nhưng vẫn phải đảm bảo được ngun tắc “Học sinh
tự mình hồn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo
viên”.
Có rất nhiều phương hướng đổi mới phương pháp dạy học với những cách
tiếp cận khác nhau. Có những phương pháp nhận thức chung như phương pháp
thu thập, xử lý, đánh giá thông tin, phương pháp tổ chức làm việc, phương pháp
làm việc nhóm...Trong đó, phương pháp học tập một cách tự lực đóng vai trị
quan trọng trong việc tích cực hố, phát huy tính sáng tạo của học sinh
Có thể nói Sinh học là mơn học mà HS ngại học nhất và khó học nhất vì
đó là mơn khoa học thực nghiệm, lượng lí thuyết nhiều và khô khan nên việc
tiếp cận kiến thức là hạn chế. Trong sách giáo khoa chỉ đề cập đến lí thuyết,
trong những năm gần đây, xu thế đề thi môn Sinh trong kỳ thi THPT Quốc gia
ngày càng dài và khó, nên phần đa HS gần như khơng có hứng thú với môn học
này gây ảnh hưởng việc dạy của Thầy. Trong khi đó nhiều trường ĐH khối B
cơ hội tìm kiếm việc làm khi ra trường là rất thấp, do đó số HS chọn thi đại học
khối B ngày càng ít, môn Sinh lại càng không quan trọng với các em học sinh.
Mặt khác ND đề thi THPT Quốc Gia có nội dung kiến thức trọng tâm vào
chương trình 12, chỉ có một phần nhỏ liên quan đến chương trình Sinh học 10,
nên đối với cả những HS chọn khối B để thi THPT Quốc Gia chương trình Sinh
học 10 cũng gần như khơng được quan tâm. Vì vậy việc tạo hứng thú cho học
sinh khi học môn Sinh học là rất quan trọng, địi hỏi mỗi thầy cơ giáo tìm được
những phương pháp dạy học phù hợp, kích thích được tư duy tìm tịi, sáng tạo
của HS từ đó hình thành nên sự đam mê và tình yêu đối với bộ môn Sinh học, để
học sinh không quay lưng lại với môn Sinh. Nên người dạy phải đổi mới PPDH
2
SangKienKinhNghiem.net



theo hướng cho HS tìm tịi khám phá, từ đó tìm ra tri thức và tiếp nhận tri thức
một cách chủ động mà cứ giảng dạy theo phương pháp truyền thống sẽ gây
nhàm chán cho học sinh do đó giáo viên ở các cấp học nói chung và THPT nói
riêng đã không ngừng đổi mới phương pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của HS, trong đó phương pháp đóng vai được nhiều giáo viên lựa
chọn. Tuy nhiên việc sử dụng phương pháp đóng vai để cung cấp kiến thức và
rèn luyện cho HS các kỹ năng trong mơn Sinh học 10 cịn nhiều hạn chế.
Xuất phát từ những lý do đó, tơi mạnh dạn chọn đề tài: “Sử dụng phương pháp
đóng vai trong dạy học : Chương 1: Thành phần hóa học của tế bào- sinh học
10 nhằm nâng cao năng lực sáng tạo,thuyết trình và các kĩ năng cơ bản, cần
thiết cho HS THPT” góp phần đổi PPDH theo hướng phát huy tính tích cực học
tập của HS ở phổ thơng.
2. Mục đích nghiên cứu
Thiết kế, xây dựng giáo án dạy học theo phương pháp đóng vai trong dạy
học bài 3 + 4 + 5 + 6 “ Thành phần hóa học của tế bào” - Sinh học 10 theo
hướng phát nâng cao năng lực học tập của học sinh và các kĩ năng cơ cần thiết
cho HS như năng lực tư duy sáng tạo, tự chủ; năng lực làm việc nhóm; năng lực
giao tiếp, làm chủ ngôn ngữ...
3. Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp dạy học bài 3 + 4 + 5 + 6 “ Thành phần hóa học của tế bào”.
- Sinh học 10.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu tài liệu và các cơng trình nghiên cứu đổi mới PPDH theo
hướng tích cực hóa việc học của học sinh.
- Nghiên cứu về cấu trúc và nội dung chương trình Sinh học 10 (Thành
phần hóa học của tế bào ).
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về các phương pháp, kĩ năng cần thiết để thiết
kế và sử dụng phương pháp đóng vai “ Thành phần hóa học của tế bào” – Sinh
học 10”

4.2. Phương pháp chuyên gia
Gặp gỡ, trao đổi, tiếp thu ý kiến của các đồng nghiệp để tham khảo ý kiến
làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài.
4.3. Phương pháp thực tập sư phạm
Thực nghiệm ở trường THPT, tiến hành theo quy trình của đề tài nghiên
cứu khoa học giáo dục để đánh giá hiệu quả của đề tài nghiên cứu.
4.4. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý, đánh giá, kết quả thu được.
4.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
Dạy học theo chủ đề bằng phương pháp đóng vai địi hỏi phải có sự kết nối logic
kiến thức, đầu tư nhiều về thời gian , đặc biệt phát huy khả năng sáng tạo chủ
động, khả năng thuyết trình của cá nhân trước tập thể và hình thành các kĩ năng
cơ bản cho HSTHPT là điều rất cần thiết trong XH của loài người nhằm đáp ứng
xu thế phát triển của XH.

3
SangKienKinhNghiem.net


Phần II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1.Cơ sở lý luận
1.1.Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.Phương pháp dạy học tích cực
PPDH tích cực được dùng ở nhiều nước đây là phương pháp dạy học theo
hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. PPDH tích cực
hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học,
tập trung vào phát huy tính tích cực của người học. Tuy nhiên, để dạy học theo
phương pháp tích cực địi hỏi giáo viên phải đam mê, say mê chuyên môn và
không ngừng nâng cao chuyên mơn và tìm tịi nhiều phương pháp dạy học tích
cực.

Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Cách dạy chỉ đạo cách
học, nhưng ngược lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của
thầy. HS địi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng giáo viên chưa đáp ứng
được, hoặc có trường hợp GV hăng hái áp dụng PPDH tích cực nhưng khơng
HS chưa thích ứng, vẫn quen với lối học tập thụ động nên tiết dạy không mấy
hứng thú cho cả người dạy và người học. Vì vậy, GV phải kiên trì dùng cách
dạy hoạt động để dần dần xây dựng cho HS phương pháp học tập chủ động một
cách vừa sức, từ thấp lên cao. Trong đổi mới PPDH phải có sự hợp tác của cả
thầy và trò, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới
thành cơng.
1.1.2. Phương pháp đóng vai
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành “làm thử” một
số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định.Là phương pháp giảng day
nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đềbằng cách tập trung vào một
sự kiện cụ thể mà các em phải quan sát được . Phần diễn khơng phải là phần
chính của phương pháp mà điều quan trọng nhất là sự thảo luận sau phần diễn
đó.
Thực tế giảng dạy mơn Sinh học 10 ở trường THPT cho thấy. Để tránh
hiện tượng nhàm chán cho HS việc mạnh dạn sử dụng phương pháp đóng vai
vào dạy học Sinh học 10 là rất cần thiết.
1.2. Ưu điểm của phương pháp đóng vai
Phương pháp đóng vai có những ưu điểm sau:
- HS được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ
trong mơi trường an tồn trước khi thực hành trong thực tiễn.
- Gây hứng thú và chú ý cho học sinh.
- Tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của học sinh.
- Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo hướng tích cực.
- Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các
vai diễn.
- Góp phần tích cực thúc đẩy động cơ và hiệu quả học tập cao, rèn luyện

kĩ năng tình huống tốt.
- Giúp HS nhập vai, diễn tả thái độ ý kiến của người mà mình nhập vai,
rèn luyện kĩ năng, thái độ giao tiếp và khả năng giao tiếp linh hoạt, khả năng

4
SangKienKinhNghiem.net


giải quyết vấn đề chủ động trong mọi tình huống nhằm tìm ra phương pháp xử lí
mới.
- Phát huy được những kinh nghiệm thực tế và tư duy sáng tạo của từng
cá nhân cũng như sự phối hợp chặt chẽ của cá nhân với tập thể nhóm.
- Lớp học sinh động, người học tiếp thu kiến thức thông qua những hoạt
động tích cực trong "vai diễn" của họ.[
1.3. Hạn chế của phương pháp đóng vai
- Nội dung kịch bản thường khơng gắn với nội dung học tập một cách có
hệ thống vì vậy việc truyền thụ tri thức mới cho người học sẽ gặp nhiều khó
khăn
- Mất nhiều thời gian làm ảnh hưởng kế hoạch lên lớp theo chương trình
chính khóa. Do đó phương pháp này được sử dụng trong các hoạt động ngoại
khóa.
- Phải suy nghĩ, mất nhiều thời gian đầu tư "kịch bản", "diễn viên"...
- Đối tượng HS có tỉ lệ khả năng tư duy tốt và tương đối đồng đều.
1.4. Phương pháp tổ chức phương pháp đóng vai
Cách thức tiến hành phương pháp đóng vai theo các bước sau:
Bước 1: - Giáo viên nêu chủ đề, chia nhóm, giao tình huống và u cầu
đóng vai cho từng nhóm , trong đó có quy định thời gian chuẩn bị và thời gian
đóng vai.
Bước 2: - Xác định mục tiêu.
Bước 3: - Các nhóm thảo luận, xây dựng “kịch bản” và phân cơng sắm

vai
Bước 4 :- Các nhóm thực hiện vai diễn theo thứ tự .
Bước 5: - Các HS khác theo dõi phóng vấn, nhận xét, đánh giá, bổ sung
(nếu cần). Cách ứng xử của các vai diễn phù hợp hay chưa phù hợp?
Bước 6 :- GV kết luận về cách ứng xử cần thiết, nội dung trong tình
huống và nêu lên sự cố gắng của HS và rút kinh nghiệm.
1.5. Một số lưu ý khi thực hiện phương pháp đóng vai
- Chọn vấn đề đóng vai có mục tiêu dạy học rõ ràng.
- Chọn người đóng vai có kiến thức hay kinh nghiệm vai diễn hay chọn
tình huống trong các nhóm đóng vai phải sát thực tế và đáp ứng mục tiêu dạy
học.
- GV giới thiệu vai diễn rõ mục đích, thống nhất tình huống.
- Tình huống nên để mở, GV không cho trước “kịch bản”, lời thoại.
- Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai.
- Người đóng vai phải hiểu rõ nhiệm vụ của mình trong bài tập đóng vai .
- Tạo điều kiện và động viên những HS thiếu tự tin tham gia.
- GV phải rút ra được kết luận: mục đích của kịch bản, kết quả sư phạm
thu được ,lượng kiến thức có được và khả năng lưu giữ thông tin...
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng phương pháp đóng vai ở trường
THPT
2.1. Thực trạng dạy học Sinh học 10 ở trường THPT
2.1.1. Thực trạng dạy học của giáo viên
5
SangKienKinhNghiem.net


Nhìn chung, mới một bộ phận giáo viên đã và đang đổi mới phương pháp
tại trường THPT như sử dụng: phương pháp vấn đáp tìm tịi, trực quan tìm tịi,
thảo luận nhóm… Tuy nhiên, việc sử dụng các phương pháp trên không thường
xuyên, không phổ biến, đa phần chưa chú trọng đến phương pháp, có rất ít các

sơ đồ tư duy tự thiết kế hay các vấn đề liên hệ thực tiễn. Chưa chú ý nhiều đến
việc sử dụng các phương pháp phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
học sinh.
Đổi mới PPDH đã và đang diễn ra, ngay ở trường Tôi, qua việc dự giờ
thăm lớp, dạy học theo hướng nghiên cứu bài học . Bản thân Tơi nhận thấy đã có
những Thầy cơ đã mang phương pháp dạy học tích cực vào trong bài giảng,
nhưng phương pháp đóng vai dạy theo chun đề ít được sử dụng trong dạy học
vì một phần khả năng tư duy của HS không đồng đều giữa các lớp nên sử dụng
phương pháp dạy theo chun đề đóng vai cịn ít được sử dụng. Mặt khác dạy
học theo chuyên đề bằng phương pháp đóng vai cần bố trí vài tiết liên tục ( ít
nhất là 2 đến 4 tiết ), thực trạng thời khóa biểu các trường THPT rất khó có thể
bố trí các mơn nói chung và mơn Sinh nói riêng một cách liên tục và liền mạch
nên phương pháp đóng vai dạy học theo chun đề cịn gặp bất cập và khó khăn.
Bản thân Tơi cũng đã mạnh dạn dạy chuyên đề này vào 1 buổi chiều với số tiết
4 tiết trong 1 buổi chiều.
2.1.2. Việc học của học sinh
Hoạt động HS chủ yếu là nghe giảng, ghi chép chứ chưa có ý thức phát
biểu xây dựng bài, trong suốt giờ học chỉ tập trung vài em phát biểu xây dựng
bài. Các em hầu như khơng có hứng thú vào việc học tập môn Sinh học .Ở
những lớp, GV sử dụng các PPDH phát huy tính tích cực như: thảo luận nhóm,
phiếu học tập, sử dụng băng hình… cùng với những câu hỏi tìm tịi, kích thích
tư duy, gây tranh luận thì khơng khí học tập sơi nổi hẳn, các em tích cực phát
biểu xây dựng bài, từ đó các em mạnh dạn hơn trong giao tiếp, kĩ năng tự tin
được trau dồi, nói năng lưu lốt hơn, quản lí được thời gian tốt hơn và đặc biệt là
chủ động hơn trong việc tiếp nhận kiến thức.
2.2. Những nguyên nhân của thực trạng dạy và học Sinh học 10 ở
trường THPT hiện nay
Giáo viên ngại áp dụng các phương pháp mới vào quá trình dạy học. Bởi
để dạy học theo các phương pháp mới phát huy được tính tích cực của HS địi
hỏi phải đầu tư thời gian, trí tuệ vào việc soạn giáo án. Đồng thời giáo viên phải

có năng lực tổ chức, điều khiển q trình dạy học. Một nguyên nhân quan trọng
dẫn đến tình trạng dạy và học Sinh học 10 như trên là do hiện nay môn này
không được HS chú trọng, đôi khi được coi là mơn học phụ vì khó học nên
nhiều em không sử dụng môn này để thi ĐH cũng không thi tốt nghiệp nên sự
hứng thú của HS gần như khơng có.Những em sử dụng mơn Sinh để thi thường
cũng khơng chú trọng tới chương trình Sinh học 10 vì nội dung thi nằm ở
chương trình 12 là chủ yếu. Từ đó đã hình thành nên suy nghĩ khơng cần thiết
phải tập trung thu nhận kiến thức bởi nó khơng giải quyết cho thi ĐH dẫn đến
buông lỏng, thả trôi trong ý thức học tập của HS.
3. Áp dụng phương pháp đóng vai vào dạy học chương 1 “ Thành phần hóa
học của tế bào” – Sinh học 10.
6
SangKienKinhNghiem.net


Đối với bốn bài học này với thời lượng chương trình theo phân phối là 4
tiết, nhưng theo quy định thì một tuần chỉ có 1 tiết Sinh, nên để sử dụng phương
pháp đóng vai, tơi đã xin dạy buổi chiều 4 tiết liền nhau cho dạy theo chủ đề với
phương pháp đóng vai.
Tơi đã Tổ chức bài dạy dưới dạng cuộc thi “ Giới thiệu các thành phần hóa
học của TB”. Học sinh đóng vai là các thành phần hóa học của tế bào đến tham
dự cuộc thi giới thiệu về cấu trúc và vai trò của bản thân và vai trị của mình
trong tế bào
Tơi đã tổ chức theo trình tự như sau:
Bước 1: Từ tiết học trước giáo viên chia lớp thành 7 nhóm (7-8 người/
nhóm ), tương ứng như sau :
+ Nhóm 1: Các nguyên tố hóa học
+ Nhóm 2: Nước
+ Nhóm 3: Cacbohydrat
+ Nhóm 4: Lipit

+ Nhóm 5: Protein
+ Nhóm 6: ADN
+ Nhóm 7: ARN
Mỗi thành viên trong nhóm chủ động tìm hiểu về nội dung mà nhóm mình
được phân cơng thơng qua các tài liệu SGK, tài liệu tham khảo, mạng internet,
rồi viết nội dung tìm hiểu được ra giấy nháp, đồng thời cử nhóm trưởng, thư ký,
đặc biệt là người đóng vai thành phần hóa học của TB mà nhóm được phân
cơng.
Giáo viên phát đồ dùng gồm 1 HS một tờ giấy A4, cả nhóm 1/2 giấy A0, 1
bút dạ yêu cầu cá nhân các nhóm hoạt động để sau đó thống nhất nội dung thơng
qua trao đổi nhóm.Sau khi nghiên cứu độc lập từ các nguồn tài liệu tham khảo
thống nhất ghi vào tờ giấy A0, chia tờ giấy được phát thành 2 phần, tóm tắt 2 nội
dung chính về cấu trúc và vai trị của bản thân, vai trị của mình trong TB mà
các nhóm đã được phân cơng nghiên cứu (Cơng việc này các nhóm làm trong 15
phút tại lớp) lên 2 phần cịn lại, sau đó lên bảng để thi giới thiệu “về mình” cho
cả lớp (xem như khán giả) sau khi trình bày xong thì dán bảng tóm tắt của nhóm
đã chuẩn bị lên bảng và phần tường gần bảng để đầy đủ sự hiện diện của các
nhóm (trong thời gian 2 phút)
Bước 2: Các nhóm thảo luận, phân công công việc như giáo viên yêu cầu,
các nội dung được tiến hành trên lớp học các nội dung mà tìm hiểu được thơng
qua thảo luận, nghiên cứu tài liệu.
Bước 3: Các nhóm lên thể hiện sau khi được được người dẫn chương
trình gọi đến nhóm mình.
Bước 4: Ban giám khảo nhận xét cho điểm đánh giá về nội dung, bố cục
và sự hấp dẫn mà đại diện các nhóm thể hiện.
Bước 5: Trao giải cho các nhóm có phần thể hiện nổi trội hơn, tốt hơn.
Bước 6: Giáo viên cho các nhóm thảo luận về bài thi của các nhóm (
khoảng 30 phút ) sau đó kết luận, nhận xét, đánh giá chung về cuộc thi.

7

SangKienKinhNghiem.net


Bước 7: Giáo viên đưa ra nội dung tóm tắt từng phần của bài học thông
qua bảng phụ để HS đối chiếu với kết quả tìm hiểu của nhóm mình cũng như các
nhóm khác.
Bước 8: HS cả lớp hồn thiện nội dung bài học vào vở.
Sau đây tôi xin giới thiệu “kịch bản” của lớp 10 A2 theo cách mà Tơi đã sử dụng
tại lớp:
Người dẫn ( ND ) Kính thưa cơ giáo!
Thưa tồn thể các bạn 10A2
Thực hiện sự phân công nhiệm vụ của cuộc thi "Giới thiệu về các thành
phần hóa học của TB” Hơm nay, lớp 10A2 long trọng tổ chức hội thi này. Hội
thi nhằm phát huy năng lực sáng tạo; khơi dậy niềm phấn khởi, tình u đối với
bộ mơn Sinh học; đồng thời nâng cao ý thức học tập, quyết tâm hoàn thành xuất
sắc nhiệm vụ được giao của tất cả các thành viên trong lớp. Là động lực tạo
nguồn cảm hứng cho các bạn gần gũi với bộ môn được cho là khô khan gần với
chúng ta hơn, cho chúng ta thỏa sức với tri thức và khả năng lĩnh hội tri thức của
bản thân.
Đến để chỉ đạo cuộc thi của chúng ta hơm nay có sự hiện hiện của cơ giáo
...............chun gia môn Sinh học đang giúp chúng ta tiếp cận tốt hơn, có cái
nhìn sâu sắc hơn và gần với sinh học hơn, đặc biệt sự có mặt của tất cả các thành
viên của tập thể 10A2, là lớp có nhiều bạn có khả năng sáng tạo của khối 10
năm nay.
Tơi đề nghị chúng ta cho một tràng pháo tay chúc mừng sự hiện diện của chúng
ta trong buổi chiều mùa thu hơm nay.Trong bất kì cuộc thi nào cũng khơng thể
thiếu được sự hiện diện của những người đánh giá tài năng và trí tuệ của các thí
sinh, cuộc thi hôm nay cũng không ngoại lệ. Tôi xin trân trọng giới thiệu các
thành viên ban giám khảo và thư kí.
I. Ban Giám khảo: 1. Bạn: Nguyễn Minh Hiệp, Lớp phó học tập A2

2. Bạn: Nguyễn Duy Hưng, tổ trưởng tổ 1 đã từng đạt HSG
môn Sinh học cấp Tỉnh cấp THCS
3. Bạn:Vũ Thùy Linh, HSG đạt giải nhì cấp Tỉnh môn Sinh
học cấp THCS
4. Bạn: Lê Thu Trang lớp trưởng đã đạt HSG giải ba cấp Tỉnh
môn Văn cấp THCS
II. Thư ký Bạn Vũ Thanh Thảo tổ trưởng tổ 3 đã đạt HSG môn văn cấp TP năm
lớp 9.
Đề nghị chúng ta nhiệt liệt cho một tràng pháo tay chúc mừng ban giám
khảo, ban thư kí của cuộc thi hơm nay .
Sau đây, tôi xin thông qua thể lệ cuộc thi: Sau thời gian chuẩn bị, mỗi tổ
phân công thành viên của tổ mình đóng vai thành phần hóa học của TB mà tổ
được phân cơng tìm hiểu. Thành viên đó sẽ lên sân khấu để giới thiệu về mình,
sau đó dán phần minh họa bài thi lên bảng trong thời gian không quá 2 phút.
Phần dự thi sẽ được BGK cho điểm vào phiếu điểm theo các tiêu chí: Thời gian
(tối đa 10 điểm nếu quá thời gian trừ đi nửa số điểm) nội dung và cách diễn đạt
(Tối đa 30 điểm), bản tóm tắt lưu lại trên bảng (Tối đa 10 điểm).

8
SangKienKinhNghiem.net


Và sau đây Cuộc thi Giới thiệu về các thành phần hóa học của TB xin
được
bắt
đầu.
Thí sinh đầu tiên thể hiện phần thi của mình là các ngun tố hóa học của TB
Nội dung bài thi của thí sinh do bạn Phạm Ngọc Ánh đóng vai “Xin chào
các bạn, hơm nay tơi – các ngun tố hóa học của TB, sẽ đưa các bạn hiểu hơn
về tôi trong TB. Tôi xin giới thiệu để các bạn hiểu rõ hơn và có cái nhìn thiện

cảm với Tơi. Thế giới sống và không sống không thể thiếu được Tôi, trong thế
giới sống sự có mặt vài chục ngun tố của Tơi đã góp phần tạo nên sự sống,
trong đó 4 con đẻ của Tôi tên là C, H, O, N chiếm khoảng 96% khối lượng của
Tôi và C là đứa con trai đầu có vai trị đặc biệt quan trọng đối với Tơi, nó tạo
nên sự đa dạng của các chất hữu cơ là thành phần cơ bản cấu trúc nên sự sống
và điều khiển mọi hoạt động của sự sống. Dựa vào khối lượng có mặt của chúng
trong Tơi, Tơi đã đặt tên cho chúng là đa lượng và vi lượng .Đa lượng những
đứa con chiếm khối lượng lớn hơn , vi lượng là tên của những đứa con chiếm
khối lượng bé. Hai nhóm anh em ln hịa thuận, đồn kết có mối quan hệ mật
thiết với nhau trong Tơi . Đa lượng là trụ cột của Tôi, là nền tảng của Tôi.
Nhưng sự tồn tại của Tôi cũng không thể thiếu được những đứa con vi lượng ,
thiếu chúng thì sự sống được sẽ đi vào quên lãng, vi lượng cùng với đa lượng
cùng nhau hỗ trợ, phối hợp cho nhau cùng tồn tại trong Tôi để sự sống được
tiếp diễn và các hoạt động trong Tơi diễn ra bình thường. Xin cảm ơn các bạn
đã chú ý lắng nghe !
ND: Tiếp theo xin được chào đón thí sinh mang số báo danh 02: Nước.
Nội dung bài thi của thí sinh Nước được bạn Nguyễn Dỗn Duy Hưng
đóng vai
“Xin chào các bạn, tơi là NƯỚC là TP chính cấu tạo nên TB , ở đâu có sự sống
ở đó có Tơi. Nhưng có tơi chưa hẳn đã có sự sống”đó là điều mà chúng ta nên
biết, khi các nhà khoa học muốn tìm sự sống ở một nơi nào đó trước tiên họ sẽ
tìm sự hiện diện của Tơi ở đó. Như vậy sự có mặt của Tơi đã ảnh hưởng sâu sắc
đến sự tồn tại và các hoạt động đặc trưng cơ bản của sự sống của sự sống.
Tôi khá đơn giản được tạo nên bởi sự kết hợp của 2 nguyên tử hidro và 1
nguyên tử oxi bằng liên kết cộng hóa trị. Tơi có tính chất như một chiếc nam
châm yếu,nên chúng Tôi luôn hút nhau và hút các đối tác phân cực khác chính
vì vậy Tơi có vai trị đặc biệt quan trọng đối với sự sống và Tơi cịn có tên khác
là phân cực. Chính vì đặc tính và tính chất trên mà Tơi vừa là TP cấu tạo ,là
dung mơi hịa tan, là mơi trường,là nguyên liệu cho các phản ứng chuyển hóa
vật chất trong TB nhằm duy trì sự sống.Tơi tồn tại ở các trạng thái lỏng,

rắn,...Khi ở trạng thái rắn mật độ của Tôi thấp hơn ở trạng thái lỏng nên
khoảng cách giữa chúng tơi ở trạng thái rắn tăng vì vậy khi TB sống đưa vào
nơi mà TB đóng băng thì TB bị phá vỡ nguyên nhân do Tôi tăng thể tích.Những
điều mà tơi vừa giới thiệu về mình giúp các bạn hiểu hơn về Tôi.Xin chân thành
cảm ơn các bạn đã lắng nghe.
ND: Tiếp theo là thí sinh số báo danh 03: Cacbonhydrat
Nội dung bài thi của thí sinh Cacbonhydrat do bạn Phạm Nhật Minh đóng
vai “Xin chào mọi người! Như các bạn đã biết Tôi là Cacbonhydrat một trong
các thành phần hữu cơ tham gia cấu tạo TB.Tôi được cấu tạo từ 3 nguyên tố
9
SangKienKinhNghiem.net


hóa học C, H, O và được cấu tạo theo nguyên tắc đa phân. Đơn phân cấu tạo
nên TÔI là đường đơn gồm 6 cacbon. Tơi cịn có tên gọi khác là đường. Tùy
theo số lượng đơn phân trong phân tử mà Tôi gồm 3 loại : Đường đơn gồm đại
diện glucôzơ,Fructôzơ; đường đôi như saccarôzơ, lactôzơ và đường đa như
kitin, xenlulơzơ, tinh bột, glicơgen... Tơi có trong tự nhiên, có nhiều trong các
loại quả, thực phẩm như mía, sữa, hoa quả...khi đói hay mệt cần bổ sung thêm
Tơi vào cơ thể là thấy khỏe hơn hoạt động nhanh hơn. Vì vậy tơi chính là nguồn
năng lượng dự trữ của TB và cơ thể. Ngồi ra Tơi tham gia cấu tạo TB như
kitin cấu tạo thành TB nấm, xenlulôzơ cấu tạo nên thành TB thực vật và các bộ
phận của cơ thể như kitin cấu tạo nên bộ xương ngoài nhiều lồi cơn trùng hay
một số lồi động vật khác. Nhưng sự có mặt của Tơi q nhiều trong cơ thể
người dẫn tới bệnh tiểu đường, béo phì khơng tốt cho sức khỏe đây là nguyên
nhân làm cho cơ thể người khơng ưa gì Tơi.Trẻ em có thể dẫn đến suy dinh
dưỡng vì Tơi.Trong thực tế, ăn q nhiều Tơi khiến con người hồn tồn mệt
mỏi, Tơi trong máu tăng, tăng cân dẫn đến béo phì và tiểu đường.Ăn nhiều Tơi
có thể gây gan nhiễm mỡ, suy gan, gây thiệt hại cho các cơ quan trong cơ thể
các ,động mạch, Tơi cịn khiến bạn nhanh già, gây sâu răng. Nên Tơi nhận ra

một chân lí rằng mọi thứ vừa đủ là ổn, cái gì q cũng khơng tốt. Qua phần Tơi
giới thiệu về mình giúp các bạn có cái nhìn thiện cảm và thân thiện với tôi hơn.
Xin cảm ơn và mong tất cả mọi người hãy cổ vũ cho Tôi”
ND: Lipit mang số báo danh 04 .
Nội dung bài thi của thí sinh lipit do bạn Nguyễn Trà My đóng vai: “Xin
chào các bạn! Tơi có tên là lipit, khơng hiểu vì sao đối với người già và trẻ em,
người béo phì lại xem Tơi là kẻ thù số 1cuả họ. Thật sự tôi trở thành kẻ thù của
1 số đối tượng nói trên đều có nguyên nhân của nó.Trong cơ thể sống Tơi ln
tồn tại với nhiều loại lipit khác nhau, hàm lượng của Tôi cũng khác nhau ở mỗi
cơ thể sống.Tôi khác với bạn cacbon hyddrat ở chỗ, không được cấu tạo theo
nguyên tắc đa phân, kị nước,có thành phần hóa học rất đa dạng.Tơi có một số
loại chính như Mỡ, photpholipit, Steroit, sắc tố và vitamin.Tơi đa dạng về cấu
trúc và chức năng. Là nguồn dự trữ năng lượng cho TB và cơ thể. Tơi có nhiều
vai trò của cơ thể như :tham gia cấu tạo TB ; cung cấp, dự trữ năng lượng ;bảo
vệ, điều hịa thân nhiệt ; hấp thu và chuyển hóa các chất tan trong dầu, vitamin
A, D, E, K…Trong cơ thể người Tơi có 2 loại : thiết yếu và dự trữ.Loại dự trữ
tích lũy dưới da, bám vào cơ bắp, cơ quan nội tạng,nếu lượng này vượt quá
phạm vi cho phép mỗi người Tôi sẽ trở thành thừa, sẽ gây tình trạng béo phì và
nhiều nguy cơ về tim mạch, tiểu đường,…nó cịn gây mất thẩm mỹ, tâm lí tự tin
cho con người, đặc biệt là với phái đẹp.Tôi ( chất béo )có trong thực phẩm
chúng ta ăn mỗi ngày. Nên điều chỉnh chế độ ăn là rất cần thiết. Tôi quá nhiều
trở thành kẻ phản chủ. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng tích tụ mỡ thừa : lười
vận động,chế độ dinh dưỡng khơng hợp lí,thay đổi nội tiết tố, thói quen sinh
hoạt khơng lành mạnh như thức khuya, ăn tối sau 19 giờ. Qua phần giới thiệu về
mình, Tơi luôn hi vọng rằng các bạn hiểu Tôi nhiều hơn. Xin chân thành cảm
ơn !
ND : Nội dung bài thi của thí sinh mang SBD 05 Prơtêin

10
SangKienKinhNghiem.net



Do bạn Nguyễn Phương Anh đóng vai: “Xin chào mọi người, Tôi là
prôtêin.Tôi rất vui được tham gia cuộc thi này.Có rất nhiều người đưa ra câu
hỏi :Tại sao thịt bò lại khác thịt gà ?Tại sao sinh vật này lại ăn sinh vật khác ?
Tại sao con người lại cần ăn các nguồn thực phẩm khác nhau ? Tôi hi vọng
phần giới thiệu về bản thân mình sau đây giúp các bạn trả lời những câu hỏi
trên.
Tôi đến từ TB,là đại phân tử hữu cơ có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự sống
và tên Tôi thể hiện ngay qua tên gọi . Theo tiếng Hi Lạp Tôi có nghĩa là « vị trí
số 1 ». Tơi chiếm tới 50% khối lượng khô của hầu hết các loại TB. Tơi có cấu
trúc đa dạng nhất trong số các hợp chất hữu cơ vì đơn phân của Tơi là axitamin
và Tôi được cấu tạo từ 20 loại axitamin khác nhau. Sự khác nhau về số lượng,
thành phần và trật tự sắp xếp của đơn phân tạo nên sự đa dạng của Tơi.
Tơi có 4 bậc cấu trúc và cấu trúc bậc 1 của Tơi là quan trọng nhất vì trình tự
các axit amin trên chuỗi pơlipeptit sẽ thể hiện sự tương tác giữa các phần trong
chuỗi pôlipeptit tạo nên lập thể của Tơi từ đó quyết định đến tính chất và vai trị
của Tơi trong TB.Cấu trúc của Tơi được duy trì nhờ các liên kết peptit,liên kết
hiđrơ, liên kết đisunfua,liên kết ion,liên kết Van der Waals, liên kết kị nước.Nhờ
các liên kết này mà Tơi có cấu trúc trong không gian 3 chiều. Sự phối hợp vài
chuỗi polipeptit hình thành cấu trúc bậc 4 của Tơi. Thưa các bạn : cấu trúc của
Tơi có thể bị phá hủy do các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ PH…làm cho
Tơi mất chức năng sinh học, điều đó ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của TB
và cơ thể. Đơn giản vì Tơi thực hiện các chức năng chính đối như : cấu tạo nên
TB và cơ thể ; dự trữ axitamin ; vận chuyển các chất ; bảo vệ cơ thể ; thu nhận
thông tin ; xúc tác các phản ứng hóa sinh. Trong cơ thể người Tơi được cấu tạo
từ 20 loại axitamin và trong đó có một số axitamincon người không thể tự tổng
hợp được mà phải nhận từ các nguồn thức ăn khác nhau để có nhiều cơ hội
nhận được các axitamin khơng thể tự tổng hợp được.Câu hỏi mà các bạn thắc
mắc đã có lời giải. Tôi hi vọng phần giới thiệu trên của Tơi các bạn thấy rõ

được vị trí của Tơi trong TB và Tôi cũng sẽ được các bạn sử dụng hợp lí và
hiệu quả hơn nhằm nâng sức khỏe và phát triển hài hịa cho các bạn. Cuối cùng
Tơi cảm ơn các bạn đã chú ý lắng nghe phần giới thiệu của bản thân !
ND: Xin được cảm ơn phần dự thi của thí sinh 05
Tiếp theo là phần dự thi của thí sinh ADN
Nội dung bài thi của thí sinh ADN do bạn Tuấn Kiệt vào vai
“Xin chào mọi người, Tôi là ADN, Tôi đến từ TB, chức năng của Tôi là mang,
bảo quản và truyền đạt thông tin di truyền. Cấu trúc của Tôi thể hiện được chức
năng của Tôi. Tôi được cấu tạo theo nguyên tắc đa phân, đơn phân là nuclêôtit.
Tôi được cấu tạo từ 4 loại nuclêôtit ( A, T, G, X ). Mỗi nucleotit gồm 3 thành
phần : Đường đêơxiribơzơ ( C5H10O4), nhóm phốt phát và bazơ nitơ ( A, T, G, X
) như vậy tương ứng với 4 loại bazơ nitơ là 4 loại nuclêôtit tương ứng.Các
nuclêôtit liên kết với nhau bằng liên kết hóa trị ( là liên kết được hình thành
giữa đường của nucleotit này với nhóm phơtphat của nucleotit bên cạnh )tạo
nên chuỗi pôlinu. Tôi được cấu tạo từ 2 chuỗi pôlinu liên kết với nhau bằng các
liên kết hiđrô giữa các bazơ nitơ theo NTBS ( A liên kết T bằng 2 liên kết hiđrô
G liên kết X bằng 3 liên kết hiđrơ ). Nhờ đó mà 2 mạch cấu tạo nên Tôi song
11
SangKienKinhNghiem.net


song, đảm bảo khả năng truyền đạt thông tin di truyền thơng qua q trình nhân
đơi, phiên mã và thơng tin di truyền được bảo quản tốt.Thông tin di truyền được
lưu trữ bởi Tôi dưới dạng số lượng, thành phần và trật tự các nuclêơtit. Trình tự
nuclêơtit mã hóa trình tự axit amin trong prôtêin do quy định các đặc điểm của
sinh vật đó chính là lí do mà Tơi có thể quy định tất cả đặc điểm của sinh vật ,
mối liên quan chặt chẽ giữa Tôi với ARN với prơtêin. Chính vì lẽ đó mà Tơi
được cơng nhận là vật liệu di truyền ở cấp độ phân tử. Mặc dù liên kết hiđrô là
các liên kết yếu nhưng trong cấu trúc của Tôi gồm rất nhiều đơn phân nên số
lượng liên kết hiđrơ là cực kì lớn làm cho Tôi khá bền vững và linh hoạt, hai

mạch dễ tách nhau ra để thực hiện chức năng di truyền. Ở TB nhân sơ Tơi
thường tồn tại dạng mạch vịng, ở TB nhân thực Tơi có cấu trúc mạch thẳng
nhưng đều thực hiện chức năng như nhau.Qua phần giới thiệu ở trên các bạn đã
biết được cấu trúc và vai trị của Tơi đối với TB và cơ thể.Giúp cho con người
có những hoạt động tích cực đảm bảo cấu trúc của chính họ được ổn định.
ND: Cuối cùng là phần dự thi của thí sinh ARN mang số báo danh 07 do bạn Lê
Minh vào vai.
“Xin chào các bạn, Tôi là ARN, Tôi đến từ TB. Tôi cũng được cấu tạo theo
nguyên tắc đa phân, đơn phân cũng là nuclêôtit. Tôi được cấu tạo từ 4 loại
nuclêôtit ( A, U, G, X ). Mỗi đơn phân cấu tạo tôi gồm 3 thành phần : Đường
ribơzơ ( C5H10O5), nhóm phốt phát và bazơ nitơ ( A, U, G, X ) như vậy tương
ứng với 4 loại bazơ nitơ là 4 loại nuclêôtit tương ứng. Các nuclêôtit liên kết với
nhau bằng liên kết hóa trị ( là liên kết được hình thành giữa đường của nu này
với nhóm phơtphat của nu bên cạnh )tạo nên chuỗi pôlinuclêôtit.Tôi được cấu
tạo từ 1 chuỗi pơlinuclêơtit, nhưng nhiều đoạn của cá nhân Tơi có thể bắt đôi bổ
sung với nhau tạo nên các đoạn xoắn kép cục bộ. Các nhà di truyền học phân
loại và đăt tên Tôi theo chức năng. Với 3 chức năng Tơi có 3 tên tương ứng.
Chức năng truyền thơng tin từ ADN tới prơtêin có tên là ARN thơng tin. Vận
chuyển axit amin tới ribôxôm để tiến hành dịch mã gọi là ARN vận chuyển, Tôi
tham gia cấu tạo ribơxơm gọi là ARN ribơxơm. Vì vậy mọi người rất dễ nhớ tên
và chức năng mà tơi có. Tơi có mối quan hệ mật thiết với ADN, Tôi là những
phiên bản được đúc trên một đoạn mạch khuôn của ADN nhờ q trình phiên
mã có nghĩa là Tơi được sinh ra từ một đoạn mạch khuôn của ADN. Như vậy
thông tin di truyền được lưu trữ chủ yếu trên ADN chứ không là Tôi, một số vi
rút thông tin di truyền lưu trữ bởi Tôi. Sau khi thực hiện xong chức năng của
mình Tơi thường bị các Enzim của tế bào phân hủy thành các đơn phân là
nuclêôtit và tiếp tục được hoạt hóa làm ngun liệu cho q trình phiên mã
trong TB.
ND: Thưa các bạn! Sau phần thi sôi nổi đầy hào hứng và sáng tạo đến từ các
bạn cuộc thi “giới thiệu về các TPHH của TB” đã thành công tốt đẹp, mang lại

nhiều cảm xúc cho các bạn và đây là thời điểm quan trọng nhất của cuộc thi. Với
sự thống nhất của BGK Tôi xin được cơng bố kết quả như sau:
Giải nhất thuộc về thí sinh Lipit mang số báo danh 04 nội dung bài thi do bạn
Nguyễn Trà My đóng vai.
Thí sinh được giải nhì là thí sinh mang SBD 05 Prơtêin do bạn Nguyễn Phương
Anh vào vai.
12
SangKienKinhNghiem.net


Thí sinh được giải 3 thuộc về 2 thí sinh ADN do bạn Tuấn Kiệt đóng vai và thí
sinh mang số báo danh 02: Nước được bạn Nguyễn Doãn Duy Hưng đóng vai
Xin chúc mừng các thí sinh cịn lại cùng sở hữu giải khuyến khích
Sau đây xin kính mời cô giáo lên trao giải cho các cá nhân và tập thể đã
hoàn thành xuất sắc yêu cầu của cuộc thi.
Sau đó GV tổng kết, nhận xét, đánh giá cuộc thi của tập thể 10A2.
4. Hiệu quả của sáng kiến
Qua q trình thực nghiệm, việc thực nghiệm sư phạm Tơi đã sử dụng phương
pháp đóng vai dạy học theo chủ đề vào dạy học chương 1 – các TPHH cua TB–
Sinh học 10.
Chương này Tôi cũng đã dạy theo phương pháp khơng sử dụng phương
pháp đóng vai tại lớp A11, được dạy song song cùng thời gian và chéo nhau với
2 loại giáo án
- Giáo án thực nghiệm có sử dụng phương pháp đóng vai vào soạn bài và
giảng dạy.
- Giáo án đối chứng khơng sử dụng phương pháp đóng vai.
Sau khi dạy xong bài một thời gian, để kiểm tra khả năng tiếp cận kiến
thức và khả năng lưu dữ thông tin kiến thức, Tôi đã tiến hành kiểm tra khả năng
lĩnh hội kiến thức của học sinh ở hai lớp bằng hệ thống câu hỏi tương đương
(đề kiểm tra 30 phút).

Bước đầu thu được kết quả cụ thể như sau:
4.1. Kết quả định lượng
- Lớp đối chứng (ĐC) : 10A11
- Lớp thực nghiệm (TN): 10A2
Lớp

Số
HS
Lớp 10A11 51
ĐC
Lớp 10A2 54
TN

1
0

2
0

3
1

Số học sinh đạt điểm xi
4
5
6
7
8
7
17 11 8

5

0

0

0

3

2
0

% Số học sinh đạt điểm xi
3
4
5
6
7
8
2,0 13,7 33,3 21,6 15,7 9,8

0

0

Lớp

Số
HS 1

Lớp 10A11 51 0
ĐC
Lớp 10A2 54 0
TN

5,6

11

9

12

9

9
2

10
0

7

3

9
3,9

10
0


20,4 16,7 22,2 16,5 13,0 5,6

13
SangKienKinhNghiem.net


Qua kết quả nghiên cứu ta thấy rằng, ở lớp thực nghiệm tỷ lệ đạt điểm khá giỏi
đều cao hơn lớp đồi chứng. Ngược lại, tỷ lệ điểm trung bình và dưới trung bình
của lớp đối chứng lại cao hơn. Điều đó phần nào cho thấy HS lớp thực nghiệm
tiếp thu kiến thức nhiều hơn và tốt hơn. Một trong những nguyên nhân đó là: Ở
lớp thực nghiệm, lớp học diễn ra nghiêm túc,hầu hết các em đều tham gia hoạt
động cá nhân và hoạt động nhóm. HS hứng thú học tập, tích cực, chủ động
“đóng vai”, số lượng học sinh tham gia xây dựng bài nhiều làm cho không khí
lớp học sơi nổi kích thích sự sáng tạo, chủ động nên khả năng hiểu và nhớ bài
tốt hơn.
Còn ở lớp đối chứng, lớp học vẫn đảm bảo được nội dung của SGk, song
học sinh học kém hứng thú cho dù vẫn chăm chú tiếp thu bài giảng, nhưng các
em tiếp thu chủ yếu vẫn là thụ động về kiến thức.
4.2. Kết quả định tính
Qua q trình phân tích bài kiểm tra ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
và theo dõi trong suốt q trình giảng dạy, tơi có những nhận xét sau:
- Ở lớp đối chứng:
+ Phần lớn học sinh chỉ dừng lại ở mức độ nhớ và tái hiện kiến thức.
Tính độc lập nhận thức khơng thể hiện rõ, cách trình bày rập khn trong SGK
hoặc vở ghi của giáo viên.
+ Việc vận dụng trí thức đối với nhiều em cịn khó khăn, khả năng khái
qt hóa và hệ thống hóa bài học chưa cao.
+ Giờ học trầm , kém hứng thú, phần đa các em vẫn rụt rè, chưa nhiệt
tình, chưa mạnh dạn, chỉ vào kiến thức SGK để trả lời mà chưa có sự đầu tư thời

gian để lĩnh hội thêm kiến thức một cách hệ thống và sâu sắc.
Tuy nhiên, vẫn có một số học sinh hiểu bài khá tốt, trình bày khá lơgic,
chặt chẽ.
- Ở lớp thực nghiệm:
+ Phần lớn học sinh hiểu bài, hứng thú với bài học.
+ Lập luận rõ ràng, chặt chẽ. Tinh thần phối hợp làm việc trong nhóm tốt
+ Độc lập nhận thức, có khả năng “đóng vai”, trình bày vấn đề một cách
chủ động theo quan điểm riêng từng nhóm, khơng theo ngun mẫu SGK hoặc
của giáo viên.
+ Các em tham gia “đóng vai” với tinh thần say mê, hào hứng, khơng khí
giờ học thoải mái.
+ Tuy nhiên, vẫn cịn một số ít học sinh chưa nắm vững nội dung bài học,
khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và vận dụng kiến thức chưa tốt, việc
thảo luận cịn chiếu lệ, trình bày phần thi chưa thu hút sự chú ý của các bạn.
4.3. Kết luận chung về thực nghiệm
Với kết quả thực nghiệm này, Tôi có thêm cơ sở thực tiễn để tin tưởng
vào khả năng ứng dụng phương pháp đóng vai theo hướng mà chủ đề đã chọn.
Qua thực nghiệm về phương pháp đóng vai, tôi nhận thấy:
- Hứng thú học tập của học sinh cao hơn, hoạt động thảo luận sôi nổi hơn
và hiệu quả cao hơn, kiến thức thu được của các em do có đầu tư nên sâu hơn,
HS tập trung để quan sát và phân tích, phát biểu xây dựng bài tốt hơn.

14
SangKienKinhNghiem.net


- Tăng cường thêm một số kỹ năng hoạt động học tập cho HS như quan
sát, phân tích, tìm tịi, tổng hợp, so sánh, kỹ năng làm việc độc lập, “đóng vai”
và trình bày một vấn đề trước tập thể.
- Hoạt động của giáo viên nhẹ nhàng, thuận lợi hơn để có thể tập trung

vào việc đưa HS vào trung tâm của hoạt động dạy học. Thơng qua phương pháp
đóng vai, HS trong nhóm và giữa các nhóm phát biểu ý kiến, tranh luận, bổ sung
cho những người “đóng vai” tạo khơng khí học tập rất tích cực, nâng cao hiệu
quả tiếp thu, lĩnh hội tri thức của HS.
Do giới hạn về thời gian cũng như các điều kiện khác nên Tôi chưa thực
hiện thực nghiệm được trên quy mô lớn hơn. Chính vì thế mà kết quả thực
nghiệm chắc chắn chưa phải là tốt nhất.
Mặc dù vậy, qua thời gian giảng dạy, tôi nhận thấy rằng, việc sử dụng
phương pháp đóng vai vào dạy học Sinh học là điều rất cần thiết ở một số bài,
góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy, tạo nên sự đa dạng trong phương pháp,
đặc biệt là phát triển được năng lực của HS, đáp ứng được yêu cầu đổi mới về
nội dung và phương pháp trong dạy học hiện nay.

15
SangKienKinhNghiem.net


Phần III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Từ những kết quả thực nghiệm Tôi rút ra những kết luận chính sau:
- Bước đầu hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng
phương pháp đóng vai trong dạy học chương 1: Thành phần hóa học của tế bào
.- Sinh học 10. Nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo, tự chủ ,tính tích cực,
năng lực làm việc nhóm, năng lực giao tiếp làm chủ ngôn ngữ của HS đây là
những năng lực chug trong hệ thống năng lực cần phát triển cho HS khi đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực của người học.
- Tiến hành thực nghiệm bước đầu đã đánh giá được hiệu quả của phương
pháp đóng vai trong dạy học vừa nêu trên. Từ đó kết luận được phương pháp
đóng vai đã mang lại hiệu quả cao trong dạy học môn Sinh học 10
- Trong dạy học hiện nay việc sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy

học Sinh học 10 theo hướng nghiên cứu của đề tài này có thể áp dụng vào nhiều
bài trong chương trình Sinh học THPT .
2. Kiến nghị
Qua nghiên cứu đề tài này, chúng tôi rút ra một số kiến nghị sau:
- Khích lệ những HS có khả năng sáng tạo và thuyết trình. Khả năng hoạt
động cá nhân trong lĩnh hội tri thức .
- Cần phát huy tối đa vai trị của phương pháp đóng vai
- Khi sử dụng phương pháp đóng vai cần dành thời gian phù hợp cho việc
xây dựng “kịch bản” và “đóng vai”. Đồng thời có biện pháp kích thích những
HS khác tham gia “chất vấn”nhằm nâng cao kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tự tin...
- Để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng phương pháp đóng vai trong
dạy học Sinh học 10, địi hỏi giáo viên phải có sự đầu tư thiết kế để tạo cho HS
hứng thú và học tập tốt hơn.
- Do thời gian có hạn nên tơi mới đi sâu thiết kế, sử dụng phương pháp
đóng vai vào bài nghiên cứu theo cách trên.
- Ngồi ra có thể nghiên cứu áp dụng phương pháp đóng vai vào dạy học
ở nhiều bài học khác trong chương trình sinh học THPT
Do khả năng và thời gian có hạn nên kết quả nghiên cứu mới chỉ dừng lại
ở những kết luận ban đầu và nhiều vấn đề chưa đi sâu. Nên không thể tránh khỏi
những thiếu sót, do đó Tơi rất mong nhận được sự góp ý của quý vị để sáng kiến
dần hoàn thiện hơn.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Thanh Hóa, ngày 27 tháng 05 năm 2019
Tơi cam đoan đây là SKKN của mình
, khơng sao chép nội dung của người
khác.

Nguyễn Thị Khánh Hòa

16
SangKienKinhNghiem.net



TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Sách giáo khoa sinh học 10 cơ bản - Nhà xuất bản giáo dục.
[2] Sách giáo viên sinh học 10 cơ bản - Nhà xuất bản giáo dục.
[3] Sách giáo khoa sinh học 10 cơ bản - Nhà xuất bản giáo dục.
[4] Sách giáo viên sinh học 10 cơ bản - Nhà xuất bản giáo dục.
[5] Hướng dẫn dạy học sinh học ở trường phổ thông - Nhà xuất bản giáo dục.
[6] Lí luận dạy học sinh học - Nhà xuất bản giáo dục.
[7] Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức và chuẩn kí năng sinh học 10 - Nhà
xuất bản giáo dục.
[8] Tài liệu BDTX Module 18 “Phương pháp dạy học tích cực” – Bộ Giáo dục
và Đào tạo
[9] Nghị Quyết số 29-NQ/TW, BCH TW Đảng khóa XI.
[10] Tài liệu tập huấn: Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển
năng lực của HS – Bộ Giáo dục và Đào tạo
[11] Tham khảo một số tài liệu trên mạng internet về phương pháp đóng vai
- Nguồn: Tailieu: text.123doc.org

17
SangKienKinhNghiem.net


DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả:Nguyễn Thị Khánh Hòa
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên Trường THPT Đào Duy Từ..............


TT

1.

Tên đề tài SKKN

Cấp đánh giá xếp
loại
(Ngành GD cấp
huyện/tỉnh; Tỉnh...)

Kết quả
đánh giá
xếp loại
(A, B, hoặc C)

Năm học
đánh giá
xếp loại

Sử dụng hệ thống câu hỏi, bài
tập để dạy chương II- phần

Cấp tỉnh

C

2004-2005

Cấp tỉnh


C

2013-2014

sinh thái học lớp 11 cải cách
giáo dục cho HS khá và giỏi.
2.

Phương pháp giải nhanh một
số dạng bài tập quy luật di
truyền hốn vị gen trong
chương trình sinh học 12

3.
4.
5.
...
* Liệt kê tên đề tài theo thứ tự năm học, kể từ khi tác giả được tuyển dụng vào
Ngành cho đến thời điểm hiện tại.
----------------------------------------------------

18
SangKienKinhNghiem.net



×