• Nghiên cứu - Trao đổi
66
BÌNH ĐẲNG GIỚI - PHƯƠNG THƯC HIỆU QUẢ
KHÁC PHỤC MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH
TS. PHAN THỊ HIÊN’*’
TS. NGUYỄN THỊ NGUỒN<“>
Ngày nhận bài: 17/5/2022
Ngày thẩm định: 25/5/2022
Ngày duyệt đăng: 20/6/2022
Tóm tắt: Giới và vấn đề giới tính là chủ đề lớn trong xã hội hiện đại, là thước đo mức độ “trưởng
thành ” của mỗi cộng đồng, quốc gia và rộng hơn là của nhân loại. Khơng một quốc gia nào có thê
phát triến và phát triến bền vững dựa trên nền tảng căn bản của những thiên kiên vê giới và giới tính.
Việc lựa chọn giới tính trước khi sinh hiện nay đã và đang phản ảnh tình trạng bất bình đăng giới
sâu sắc trong gia đình và cộng đồng ở Việt Nam. Thực tế cho thấy, giữa bất bình đăng giới và tình
trạng mất cán bằng giới tính khi sinh có mối quan hệ tương ho. Bất bình đăng giới vừa là nguyên
nhân, vừa là hệ quả của tĩnh trạng mất cân bằng giới tinh. Đê ngăn chặn tình trạng mát cân băng
giới tỉnh khi sinh, công tác bĩnh đắng giới, nâng cao vị thế của phụ nữ và trẻ em gái trên thực tế phải
được coi là nhiệm vụ cấp bách, ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát ưiên.
Từ khóa: bất bĩnh đắng giới; giới tính khi sinh; mất cân bảng giới tính
Mất cân bằng giói tính khi sinh hệ q của bất bình đẳng giói
I
• Mất cân bằng giới tính khi sinh
đang trở thành vấn đề nhức nhối ở hầu hết các
quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang và chậm
phát triển hiện nay, trong đó có Việt Nam. Việt
Nam chính thức bước vào giai đoạn mất cân
bằng giới tính khi sinh kể từ năm 2006, vói tỷ
số luôn vượt ngưỡng 111 bé trai/100 bé gái,
trong khi tỷ lệ được khuyến nghị là 106 bé
trai/100 bé gái. Tình trạng mất cân bằng này có
sự chênh lệch ở những vùng miền khác nhau.
(,) Trường đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố
Hồ Chí Minh
(") Học viện Chính trị khu vực ỈI, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh
Theo Tổng cục Thống kê, kết quả điều tra trong
cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019
cho thấy, tình trạng mất cân bằng giới tính khi
sinh xảy ra nghiêm trọng nhất ở vùng Đồng
bằng sông Hồng và khu vực Trung du và miền
núi phía Bắc với 115,5 bé trai/100 bé gái, trong
khi tỷ lệ này ở Đồng bằng sông Cửu Long là
106,9/100. Tỷ lệ này cũng khác nhau giữa khu
vực nông thôn và khu vực thành thị, lần lượt
là: 110,8/100 ở thành thị và 118/100 ở nông
thôn(1); đặc biệt, tỷ lệ chênh lệch rất cao diễn ra
ở những gia đình có điều kiện kinh tế khá giả.
Dù xuất hiện muộn hơn một số quốc gia khác,
song ở Việt Nam, tốc độ diễn ra nhanh với mức
độ lan rộng rất đáng lo ngại. Cũng theo thống
kê năm 2019, tình trạng mất cân bằng giới tính
khi sinh ở Việt Nam xếp thứ 3 trên thế giới, chỉ
sau Trung Quốc và Àn Độ(2).
Khoa học chính trị - số 05/2022
• Nghiên cứu - Trao đổi
_____________________________________ 67
Tình trạng mất cân bang giới tính khi
sinh gây ra hệ lụy về mặt xã hội, kinh tế,
thậm chí cả an ninh chính trị, làm giảm
chất lượng cuộc sống, xâm phạm đến
phấm giá - quyền và lợi ích chính đáng
cùa phụ nừ và trẻ em gái. Theo Báo cáo về
Tình trạng Dân số Thế giới 2020 của Quỳ
Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), mồi
năm trên thế giới có hàng triệu trẻ em gái
bị xâm hại thân thê ở những mức độ khác
nhau. Mất cân bằng giới tính khi sinh cịn
làm phá vỡ cấu trúc tự nhiên của dân số.
Hiện nay, thế giới đang thiếu hụt khoảng
140 triệu phụ nữ và trẻ em gái(3). Còn ở
Việt Nam, Tổng cục Dân sổ, Ke hoạch hóa
gia đình (năm 2019) dự báo sẽ thừa 1,38
triệu nam giới vào năm 2026. Neu khơng
kiểm sốt và ngăn chặn quyết liệt tình trạng
này thì, đến năm 2050, Việt Nam sẽ thiếu
khống 2,3 - 4,3 triệu phụ nừ<4).
Sự thay đồi có chủ đích của cấu trúc dân
số trở thành tác nhân của hàng loạt những
bất lợi xã hội khác. Điều đáng nói là vấn
đề mất cân bằng giới tính khi sinh (theo
hướng gia tăng nam giới) được tạo ra bời
chù nghĩa nam quyền, nhưng hệ quả tiêu
cực mà nam giới phải gánh chịu khơng
nhỏ. Ví dụ, quyền được kết hơn, với đà gia
tăng giữ nguyên tỷ suất sinh nghiêng về bé
trai hiện nay thì trong khoảng 20 - 30 năm
tới, Việt Nam sẽ có khoảng 02 - 03 triệu
nam giới gặp khó khăn về vấn đề kết hôn,
kéo theo hàng loạt những hệ lụy khác, như
tội phạm mua dâm, hiếp dâm, sử dụng các
chất kích thích và bạo lực... Trong khi đó,
việc phân biệt giới tính khi sinh làm cho
tình trạng “vơ quyền và vơ quyền hóa” ở
phụ nữ và trẻ em gái càng trờ nên sâu sắc,
như quyền được định đoạt về kết hôn, sinh
đẻ, quyền được tham gia vào thị trường lao
động, quyền được bảo vệ sức khỏe, quyền
được tôn trọng nhân phẩm,..
Rõ ràng, hệ lụy do mất cân bằng giới tính
khi sinh là vơ cùng to lớn. Xét ở khía cạnh văn
minh, sự “tơn sùng” nam giới/trẻ trai và sự
tước bỏ quyền được sống, được sinh ra ở nữ
giới/trẻ gái là đi ngược lại xu hướng tiến bộ,
vi phạm quyền tự do, dân chủ và cơng bằng.
Trong khi đó, xét ở khía cạnh đạo đức, đó là
sự chà đạp lên lương tâm và phẩm giá con
người, xâm phạm quyền con người, mà cụ thể
là quyền của phụ nữ và trẻ em gái.
Tình trạng này do nhiều ngun nhân,
trong đó nguyên nhân cơ bản và trực tiếp
nhất là sự can thiệp của khoa học và công
nghệ. Sự ra đời của công nghệ hiện đại hồ
trợ con người phát hiện, lựa chọn và loại
bỏ giới tính thai nhi một cách dề dàng, để
thực hiện khát vọng sinh con trai ở khơng
ít cặp vợ chồng. Phát triển kinh tế được
coi là vấn đề cốt lõi, là nguyên nhân sâu
xa và chi phối nhất. Bên cạnh đó, nguyên
nhân thuộc về văn hóa, dù là nguyên nhân
phái sinh nhưng lại có sức mạnh dai dẳng,
bền vừng và khó loại bỏ nhất. Việt Nam
và nhiều quốc gia châu Á khác chịu ảnh
hưởng bời tư tưởng Nho giáo với hàng loạt
những quan niệm định kiến giới nặng nề,
như: việc thờ cúng tổ tiên hay người nối dõi
tơng đường phải là nam; con trai mới đích
thực là con mình; những việc lớn trong gia
đình đều được hỏi ý kiến con trai và con
trai là người có quyền tham gia, quyết định
nhất là đối với những việc trọng đại... Điều
này dần đến vấn đề bất bình đẳng giới và
định kiến giới.
Bất bình đắng giới, theo cách hiếu đơn
giản nhất, là sự đối xử khác biệt với nam
giới và nữ giới tạo nên cơ hội khác nhau
trong việc tiếp cận các nguồn lực của đời
sống xã hội. Bất bình đẳng giới bắt nguồn
từ sự định kiến giới. Định kiến giới là nhận
thức, thái độ và sự đánh giá lệch lạc vai
trò, năng lực, chức năng của nữ giới và
nam giới, mà xu hướng nhìn nhận tiêu cực
ở đây thường nghiêng về nữ giới. Theo đó,
người phụ nữ trong gia đỉnh và ngồi xã
hội ln bị coi là cơng dân “hạng hai” sau
đàn ơng/nam giới cho dù họ có thành đạt
hay khơng.
Khoa học chính trị - số 05/2022
68_____________________________________
• Nghiên cứu - Trao đổi
2. Khắc phục mất cân bằng giói tính khi
về chỉnh trị, tỷ lệ phụ nữ Việt Nam trong
hệ thống chính trị các cấp cịn rất khiêm tốn,
đặc biệt là vị trí quản lý, lãnh đạo(9); tỷ lệ nữ
tham gia Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm
kỳ 2016 - 2021 (cấp tỉnh là 26,6% và cấp
huyện là 27,5%)(l0> và Quốc hội nhiệm kỳ
2021 - 2026 là hơn 30% . Mặc dù tỷ lệ nữ
giới tham gia Đại biểu Quốc hội được đánh
giá là cao nhất ở khu vực Đông Nam Á(ll),
song đặt trong mối tương quan lao động giữa
nam và nữ, tỉ lệ này ở nước ta rất thấp với
49%/50,2% và gần như phụ nữ chỉ được xếp
ở “sân sau” so với nam giới; ít nữ giới được
tham gia các vị trí chính trị chính thức, đặc
biệt là các vị trí cấp cao...
về mặt đạo đức, bạo lực được sử dụng như
một phương thức đê đạt mục đích, thậm chí cả
những mục đích bất xứng, đã làm giảm giá trị
và nhân phẩm của người phụ nữ.
ở các lĩnh vực xã hội khác, nữ giới cũng
đang phải gánh chịu những bất lợi. về cơ
hội thăng tiến, trong hầu hết nghề nghiệp,
phụ nữ có cơ hội thăng tiến thấp hơn nam
giới, dù ngành nghề đó ưu thế thuộc về nữ
giới, về kiếm sốt và ra quyết định, cùng
trình độ như nhau, thậm chí nhiều phụ nữ
có năng lực hơn nam giới, nhưng tỷ lệ phụ
nữ giữ vị trí quản lý thấp hơn nhiều so với
nam<12). Trong gia đình, người phụ nữ đóng
góp cơng lớn, như sinh đẻ và nuôi dưỡng
các thế hệ, sản xuất ra của cải vật chất và
tinh thần, chăm sóc các thành viên gia đình,
nhưng vị thể của họ lại rất thấp, bị coi là
phụ thuộc vào nam giới và không phải là
người ra quyết định.
Bất bình đẳng giới đã gây ra những hệ lụy
khơn lường về mặt kinh tế, chính trị, xã hội lần
đạo đức. về kinh tế, với trên 50% lực lượng
lao động là nữ giới tham gia vào thị trường
lao động với những bất lợi về cơ hội và chính
sách, làm cho họ khơng thể phát huy được
tiềm năng, trí tuệ một cách hiệu quả để phát
triển kinh tế, tăng năng suất lao động. Bất bình
đăng dựa trên sự thiên kiến giới đã tước đoạt
quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ
sinh - thực trạng và định hưóiig giải pháp
Mất cân bằng giới tính khi sinh tăng nhanh,
đang ở mức nghiêm trọng. Điều này cho thấy,
mục tiêu đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức
cân bằng tự nhiên(5) như quyết tâm của Chính
phủ trong chặng đường tới là hết sức khó
khăn, cần có quyết tâm chính trị với các biện
pháp hữu hiệu.
Thực tế, trong suốt chiều dài lịch sử, phụ
nữ ln phải chịu sự đối xử bất bình đẳng, bị
hạ thấp vị trí và vai trị trong xã hội. Điều này
thể hiện ở tất cả mọi lĩnh vực:
về kinh tế, phần lớn lao động nữ (khoảng
70%) đang làm việc trong các ngành nghề
chuyên môn thấp, mức độ rủi ro cao (may
mặc, giày da, lao công, phụ giúp việc
nhà...) với mức thu nhập không cao và
không ổn định; 62% lao động nữ làm việc
trong gia đình khơng được trả cơng. Thời
gian làm việc của phụ nữ luôn nhiều hơn
nam giới, trong khi thu nhập lại thấp hơn
(cùng một công việc như nhau)(6). Nữ giới
phải gánh phần lớn công việc nhà và chăm
sóc gia đình, trong khi nam giới chủ yếu chi
chịu trách nhiệm làm kinh tế. Điều này ảnh
hưởng đến thời gian giải trí và hạnh phúc
của nữ giới. Trên thế giới, hầu hết phụ nữ
dành nhiêu thời gian mỗi ngày đê chăm sóc
gia đình và làm việc nhà hơn người chồng:
chênh lệch thời gian làm việc nhà dao động
từ 01 đến 03 tiếng, thời gian chăm sóc gia
đình (con cái, cha mẹ già, người bệnh) dao
động từ 02 đến 10 lần, thời gian tham gia
các hoạt động thị trường thấp hơn nam giới
từ 01 đến 04 tiếng. Thậm chí, ngay cả khi
phụ nữ dành nhiều thời gian làm việc thị
trường hơn người chồng, họ vần phải chịu
trách nhiệm chính cho việc chăm sóc gia
đình và làm việc nhà<7). Nam giới chiếm ưu
thế trong kiểm soát đất đai và các tài sản
giá trị cao. Điều này dẫn đến tình trạng vơ
quyền ở phụ nữ và khiến người phụ nữ gần
như phụ thuộc hồn tồn vào người đàn ơng
trong gia đình(8).
Khoa học chính trị - Số 05/2022
• Nghiên cứu - Trao đổi
_____________________________________ 69
Như vậy, bất bình đẳng, xét ở khía cạnh
nào cũng cần xóa bở, đặc biệt là đối với xã
hội văn minh, điều này lại càng khó chấp
nhận. Sự tồn tại của tình trạng bất bình đẳng
trong xã hội do nhiều ngun nhân. Trong đó,
người ta thường nhấn mạnh đến nguyên nhân
kinh tế. Quả thật, trong các xã hội, đặc biệt là
những nơi có nền kinh tế phát triển chưa cao,
hoạt động sản xuất phụ thuộc vào sức mạnh
cơ bắp, ở đó, vai trị cùa người đàn ông luôn
được coi trọng. Việt Nam với một cơ sở kinh
tế như vậy đã tồn tại hàng nghìn năm, thì việc
người phụ nữ đóng vai trị thứ yếu trong cả
gia đình và ngồi xã hội cũng là điều dề hiểu.
Thế nhưng, tại sao khi cơ sở kinh tế đã có
những thay đổi, đặc biệt là trong rất nhiều
gia đình hiện nay, thu nhập của người phụ
nữ ngang bằng hoặc hơn nam giới, thậm
chí khơng ít nữ giới thành đạt hơn nam giới
nhưng tiếng nói của họ vần có phần yếu thế
hơn. Tình trạng này cho thấy vai trị quan
trọng của Nhà nước trong việc hồn thiện
thể chế, chính sách bảo đảm thực hiện bình
đẳng giới.
Quyên bình đăng của người phụ nữ vê mọi
mặt so với nam giới đã được chính thức ghi
nhận tại Điều 1 và Điều 2 trong Tuyên ngôn
quốc tế về quyền con người (năm 1948) của
Liên Hợp quốc, nhưng hiện nay, ở rất nhiều
quốc gia, trong đó có Việt Nam, vấn đề bình
đẳng giới vẫn được đặt ra như một mục tiêu
quan trọng trong quá trình phát triển.
Ở nước ta, vấn đề bình đẳng giới đã được
ghi nhận trong Điều 26 Hiến pháp năm 2013
và trong rất nhiều văn bản của hệ thống pháp
luật, như Luật Bình đắng giới, Bộ luật Dân
sự, Luật Bảo hiểm xã hội, Bộ luật Lao động,
Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bầu cử đại
biểu Quốc hội, Luật Bầu cử đại biếu Hội
đồng nhân dân, Luật Cư trú, Bộ luật Hình
sự, Luật Phịng, chống bạo lực gia đình, Luật
Quốc tịch... Mặc dù, có hệ thống pháp luật
bảo đảm quyền bình đắng giới, đặc biệt là đối
với phụ nữ, nhưng tình trạng bất bình đẳng
giới ở Việt Nam vẫn cịn phố biến, biếu hiện
rõ nhất là vấn nạn phụ nữ bị xâm hại, bạo
lực gia đình. Theo Kết quả điều tra quốc gia
về bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam (năm
2019), cứ 03 người phụ nữ được hỏi thì có
tới gần 02 người cho biết, họ phải chịu đựng
ít nhất một trong những hình thức bạo lực từ
người chồng hoặc người bạn tình; và có 4,4%
phụ nữ cho biết họ đã bị lạm dụng tình dục
trước tuổi 15<13). Như vậy, có thể thấy con
đường để phụ nữ gia nhập vào sân chơi bình
đăng như nam giới cịn nhiều khó khăn, thách
thức. Điều này đặt ra nhiều câu hỏi như: việc
tổ chức thực hiện pháp luật về bình đắng giới
có thực sự mang lại hiệu quả và luật pháp đã
thực sự trở thành cơng cụ bảo vệ sự bình đẳng
và tiến bộ của phụ nữ.
Vì vậy, cần một sự vào cuộc mạnh mẽ của
toàn xã hội, đặc biệt là của hệ thống chính trị
để thay đổi trật tự xã hội bất bình đẳng kéo
dài. Tơn trọng giá trị và quyền con người là
một giải pháp tối ưu để kiến tạo một xã hội
hịa bình, phát triển và thịnh vượng.
Có nhiều giải pháp được đặt ra như: Chính
sách cải thiện cơ hội kinh tế cho phụ nữ;
Chính sách thu hẹp khoảng cách giới trong
giáo dục, y tế; Chính sách xóa bỏ phân biệt
giới trên thị trường lao động; Chính sách
nâng cao vị thế của người phụ nữ...(14). về
kinh tế\ Tăng quyền năng kinh tế của phụ nữ
bằng giải pháp trợ giúp phụ nữ thoát nghèo,
tạo cơ hội và khá năng tiếp cận cũng như đáp
ứng các nhu cầu cơ bản của con người về y tế,
giáo dục, đời sống vật chất - tinh thần và có
cơ hội được tự chủ về kinh tế ngang với mức
của nam giới. Việc tạo quyền năng kinh tế
góp phần cải thiện vị thế của phụ nữ trong gia
đình và xã hội. Trên thị trường lao động: Bình
đẳng giới ở nơi làm việc có nghĩa là cả nam và
nữ đều được tiếp cận các cơ hội, nguồn lực và
được thụ hưởng giá trị lao động ngang nhau
cho những cơng việc tương đương, khơng
phân biệt giới tính; bãi bỏ những rào cản để
phụ nữ được tham gia đầy đủ và bình đẳng
trong lực lượng lao động; khơng phân biệt
giới tính trong bất cứ ngành nghề nào, bao
Khoa học chính trị - số 05/2022
70_____________________________________
• Nghiên cứu - Trao đổi
gồm các vị trí lãnh đạo. về giáo dục: Tăng
cường trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị,
đặc biệt là người đứng đầu về công tác cán
bộ nữ; bảo đảm sự tham gia bình đẳng của phụ
nữ trong công tác quản lý ở các cấp; nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực, xây dựng đội ngũ
cán bộ nữ có trình độ chun mơn, nghiệp vụ,
năng lực lãnh đạo, quản lý đáp ứng yêu cầu
đổi mới. về chỉnh trị'. Nâng cao tỷ lệ nữ lãnh
đạo, quản lý trong các bộ, ngành, Hội đồng
nhân dân và ủy ban nhân dân, cơ quan đảng,
tổ chức chính trị - xã hội; xây dựng cơ che
để phụ nữ tham gia, tiếp cận cơ hội làm lãnh
đạo, quản lý; cần quy định trách nhiệm của
thủ trưởng các ngành, các cấp trong xây dựng
đội ngũ cán bộ nữ của đơn vị và trong thực
hiện chỉ tiêu phụ nữ tham chính; cần thay đổi
cơng tác bầu cử, tạo thuận lợi cho phụ nữ
tham gia ứng cử và trúng cử,...
Bên cạnh đó, sự nghiệp giải phóng phụ
nữ địi hỏi sự tham gia tích cực của chính họ.
Thực tế hiện nay, khơng ít phụ nữ nhận thức
về bình đẳng giới cịn hạn chế; nhiều người
trong họ coi việc bất bình đẳng giữa nam và
nữ, giữa trẻ gái và trẻ trai là lẽ tự nhiên, vốn
sinh ra đã có; đồng thời, quyền áp đặt của
người nam đối với người nữ cũng là lẽ đương
nhiên. Vì thế, điều này đã “tiếp tay” cho vấn
nạn phân biệt, kỳ thị giới và giới tính vốn
đã trầm trọng lại trầm trọng hơn. Do đó, cần
nâng cao nhận thức cho cả trẻ trai và trẻ gái
về những gì có thể làm và khơng được làm
trong gia đình và xã hội; cần giáo dục cho
phụ nữ và trẻ em gái nhận biết được giá trị,
vai trị và vị trí của họ tự giải phóng mình vì quyền lực của mình - khơng phải là thứ
quyền lực “tình thương”.
và trẻ em gái là nạn nhân, cần bảo đảm cho
phụ nữ và trẻ em gái được hưởng mọi quyền
và lợi ích ngang bằng với nam giới và trẻ em
trai. Tức là, phải tạo ra “sân chơi” bình đẳng
giữa nam và nữ, để mọi người thừa nhận
rằng, dù nữ giới hay nam giới, đều có vị trí,
vai trị như nhau, mồi bên chỉ là một nửa tạo
nên tính chỉnh thể của xã hội. Quyền lợi của
phụ nữ và trẻ em gái là thứ “tài sản” tự nhiên
vốn thuộc về họ, cái không thể đem ra trao
đổi, đàm phán. Chỉ khi nhận thức được điều
đó, chúng ta mới giải được bài toán về sự
mất cân bằng giới tính khi sinhũ
3. Kết luận
Bất bình đẳng giới và phân biệt đối xử
với phụ nữ và trẻ em gái dù có sự khác nhau
về tính chất và mức độ ở những nền kinh tế,
văn hóa khác nhau, nhưng đây thực sự đã trờ
thành vấn đề của tồn cầu. Vì vậy, cần khắc
phục tình trạng xâm phạm quyền con người
đang diễn ra một cách phổ biến mà phụ nữ
(l) />(2) /><3) Báo cáo về Tình trạng dân sổ thế giới 2020 của Quỹ
Dân số Liên hợp quốc (UNFPA)
(4) />(” Quyết định số 1679/QĐ-TTg ngày 22/11/2019 cùa
Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược
Dân số Việt Nam đến năm 2030
<6) />(7) và (14) Ngân hàng Thế giới: Báo cáo Phát triển thế
giới năm 2012, tr. 18 và 24, 30
<8) />(9) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo
trình Giới trong lãnh đạo, quản lý (Chương trình Cao
cấp lý luận chính trị), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội,
2018, tr.90
Nam, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2016
(1!) /><12) />(l3) . vn/web/guest/tin-chi-tiet/-/chitiet/%C4%91 inh-kien-gioi-bat-binh-%C4%91 anggioi-rao-can-can-xoa-bo-35394-4506.html
Khoa học chính trị - số 05/2022