Tải bản đầy đủ (.pdf) (11 trang)

Hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (900.79 KB, 11 trang )

Hoạt động cơng tác xã hội
trong bệnh viện hiện nay
Đồn Kim Thắng
*
Tóm tắt: Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, hoạt động cơng tác xã hội trong
bệnh viện có vai trò quan trọng và cần được phát huy. Sự hỗ trợ của nhân viên
công tác xã hội đã làm tăng thêm sự hài lịng của người bệnh và gia đình người
bệnh khi đến điều trị tại bệnh viện. Bài viết này phân tích hoạt động cơng tác
xã hội trong bệnh viện, qua khảo sát thực tế tại Bệnh viện Nhi Trung ưcmg và
Bệnh viện Đa khoa Y học cổ truyền Hà Nội năm 2019-2020. Kết quả nghiên
cứu cho thấy tại một số bệnh viện đã triển khai hoạt động công tác xã hội
nhằm giúp người bệnh giải quyết các nhu cầu xã hội và tâm lý liên quan đến
bệnh tật và quá trình khám chữa bệnh tại bệnh viện; tuy nhiên khả năng hồ trợ
của hoạt động công tác xã hội đối với bệnh nhân điều trị nội trú trong bệnh
viện còn gặp những hạn chế về nguồn lực con người, đồng thời giữa đội ngũ
nhân viên CTXH cũng có sự khác biệt rõ nét về trinh độ, nhận thức và năng

lực chun mơn*1.

Từ khóa: Cơng tác xã hội; Nhân viên công tác xã hội; Hoạt động xã hội;
Bệnh viện.

Ngày nhận bài: 17/5/2021; ngày chỉnh sửa: 20/5/2022; ngày duyệt đăng:
10/6/2022.

1. Đặt vấn đề
Hoạt động công tác xã hội (CTXH) trong bệnh viện được manh nha hình
thành ngay từ những năm 1880 tại Anh và Mỹ đầu thế kỷ XX, sau đó ở các
nước phát triển khác (Gehlert, Browne, 2012). Tại Việt Nam, hoạt động

CTXH trong bệnh viện mới được thừa nhận chính thức vào năm 2011 theo


Quyết iịnh số 2514/QĐ-BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 17/5/2011 về việc

* TS., Vién Xã hội học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
1 Bài viết là một phần của nội dung Đe tài cấp Bộ 2019-2020 “Vai ưò của công tác xã hội trong
bệnh viện hiện nay: Nghiên cứu tại Hà Nội” do tác giả làm Chủ nhiệm.


32

Nghiên cứu Gia đình và Giới. Quyển 32, số 2, tr. 31-41

phê duyệt đề án phát triển nghề CTXH trong ngành y tế giai đoạn 2011-2020.
Sự non trẻ đó khiến cho nhiều hoạt động CTXH có tính chất chun nghiệp
chưa được triển khai trong thực tiền (chẳng hạn như hoạt động kết nối khám,
chữa bệnh; hoạt động tư vấn, hay hoạt động can thiệp CTXH nhóm). Thay
vào đó, nhiều bệnh viện chú trọng hơn đến hoạt động CTXH có tính chất giản
đơn như chỉ đường, hồ trợ dinh dưỡng, trao q nhằm mục đích giảm bớt khó
khăn cho người bệnh và người nhà trong quá trình điều trị nội trú (Lê Thị
Hoàng Liễu, 2016; Đồ Hạnh Nga, 2016).

Dựa trên các cứ liệu khảo sát tại Bệnh viện Nhi Trung ương và Bệnh viện
Đa khoa Y học cổ truyền (YHCT) Hà Nội2, bài viết tập trung phân tích về hoạt
động của CTXH trong bệnh viện đối với bệnh nhân điều trị nội trú, qua đó phân
tích các hoạt động CTXH đã triển khai và so sánh hoạt động can thiệp của nhân
viên CTXH trong mối quan hệ với đội ngũ nhân viên y tế (y, bác sỳ) ưong bệnh
viện hiện nay.

2. Cách tiếp cận, hệ thống khái niệm và phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận nghiên cứu và hệ thong khái niệm
Trong bệnh viện, những hoạt động của người bệnh, người nhà bệnh nhân

và đội ngũ y, bác sỹ... thể hiện bức tranh tương đối đầy đủ của hoạt động CTXH.
Những bệnh nhân, người nhà chăm sóc bệnh nhân và nhân viên y tế có thể bày
tỏ những nhu cầu cá nhân mình với nhân viên CTXH như là nhu cầu được khám
chữa bệnh (đối với bệnh nhân), nhu cầu được tạo điều kiện cho việc đi lại, ăn ở
trong quá trình khám chừa bệnh và chăm sóc bệnh nhân (đối với người nhà bệnh
nhân) hay nhu cầu được trợ giúp tâm lý trong quá trình khám, chữa bệnh cho
bệnh nhân (đối với nhân viên y tế). Với cách tiếp cận lý thuyết vai trò, nhân viên
CTXH là người thực hiện vai trị biện hộ, ngay cả khi đối tượng có hoặc chưa
nhận thức được những quyền của họ. Nhân viên CTXH qua tiếp cận này sẽ
hướng đến các giải pháp mang tính bền vững.

Từ cách tiếp cận nêu trên, nghiên cứu về hoạt động của CTXH trong bệnh
viện sẽ chú trọng đến các hoạt động CTXH với vai trị đóng góp của đội ngũ
nhân viên cơng tác xã hội, đó là các hoạt động hồ trợ người bệnh, người nhà
bệnh nhân và các nhân viên y tế trong bệnh viện nhằm giải quyết các vấn đề xã

2 Bệnh viện Nhi Trung ương quyết định thành lập tổ CTXH vào ngày 28/9/2008, đến ngày
01/5/2011, bệnh viện thành lập Phòng CTXH đặt dưới sự chỉ đạo của Ban Giám đốc. Tại Bệnh
viện Đa khoa YHCT Hà Nội nhân viên CTXH của bệnh viện trực thuộc Tổ truyền thông - Giáo
dục sức khỏe nhân dân.


Đoàn Kim Thắng

33

hỡi và tâm lý liên quan đến bệnh tật và q trình khám chữa bệnh. Mục đích là
hỗ trợ các nhóm đối tượng khắc phục những khó khăn về xã hội để đạt được hiệu
qu ỉ chăm sóc sức khỏe tốt nhất.


Lịch sử phát triển công tác xã hội cho thấy tồn tại nhiều định nghĩa khác
nhàu, nhưng chúng có sự ổn định về nội hàm và dần tập trung theo hướng
chuyên nghiệp. Năm 2014, Hiệp hội Nhân viên CTXH quốc tế đưa ra định
nghĩa mới được coi là hoàn thiện, đầy đủ hơn, bởi định nghĩa này xác định rõ
CTXH vừa là một ngành khoa học, vừa là một nghề chuyên nghiệp, theo đó
“Cong tác xã hội là một nghề dựa trên nền tảng thực hành và là một ngành
khoa học thúc đẩy sự biến đổi và phát triển xã hội, sự gắn kết xã hội, sự trao
quyền và giải phóng con người. Các nguyên tắc về công bằng xã hội, quyền
con người, trách nhiệm tập thể và tôn trọng sự đa dạng là trọng tâm của
CTXH. Dựa theo nền tảng các lý thuyết thuộc ngành CTXH, khoa học xã hội
và nhân văn, cũng như những kiến thức bản địa, CTXH thu hút con người và
các :ấu trúc xã hội tham gia vào giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc
sốnị và thúc đẩy an sinh” (IFSW, 2014).

Trên cơ sở khái niệm CTXH của Hiệp hội Nhân viên CTXH quốc tế

(IFS V) năm 2014 và căn cứ theo thực tiễn hoạt động CTXH là do nhân viên
CTX1H đảm nhận, cách hiểu về hoạt động CTXH trong bài viết này là “các

hành động của nhân viên CTXH giúp cho các thành viên của xã hội, các cá
nhân nhóm và cộng đồng xã hội thực hiện tốt vị trí, vai trị và chức năng của
mình hướng tới việc thúc đẩy sự biến đổi và phát triển xã hội, sự gắn kết xã
hội, sự trao quyền và giải phóng con người. Hoạt động này được thực hiện
dựa ti ên hệ thong các lý thuyết thuộc ngành CTXH, khoa học xã hội và nhân
văn, qựa trên các nguyên tắc căn bản về công bằng xã hội, quyền con người,
trách nhiệm tập thể và tôn trọng sự đa dạng nhằm thu hút con người và các
cấu trác xã hội tham gia vào giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc
sống 5 à thúc đấy an sinh xã hội”.

Phương pháp nghiên cứu


Nghiên cứu này được tiến hành năm 2019-2020 tại Bệnh viện Nhi Trung
ương \ à Bệnh viện Đa khoa YHCT Hà Nội với dung lượng mẫu nghiên cứu là
300 phàng vấn cá nhân bằng bảng hỏi định lượng có cấu trúc và 30 phỏng vấn
sâu với các bệnh nhân điều trị nội trú, người nhà bệnh nhân, nhân viên y tế, nhân
viên C”XH trong bệnh viện.

về cơ cấu độ tuổi tham gia khảo sát, 30% độ tuổi từ dưới 25 tuồi; độ tuổi
25-50 tiổi (47,0%) và từ 51 tuổi trở lên (23,0%). về giới tính, 63,0% là nữ giới


34

Nghiên cứu Gia đình và Giới. Quyển 32, số 2, tr. 31-41

và 37,0% là nam giới. Trong số những người được hỏi, 45,5% là bệnh nhân hiện
đang điều trị nội trú và 55,5% là người chăm sóc bệnh nhân. Nghề nghiệp của
các đối tượng được khảo sát chiếm 75,0% là người làm nghề tự do hoặc chưa

làm việc; những người là cán bộ, công nhân viên chức, chủ doanh nghiệp, chủ
cơ sở kinh doanh tư nhân chiếm 25,0%.

3. Thực trạng hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện
Hoạt động hỗ trợ thủ tục hành chính đối với người bệnh
Kết quả khảo sát cho thấy 98,5% bệnh nhân điều trị nội trú và người nhà
bệnh nhân được hỏi cho biết nhận được “hỗ trợ về thủ tục hành chính” khi khám
và điều trị nội trú từ các nhân viên y tế phụ trách tại các khoa/phịng, trong khi
đó chỉ có 21,5% cho biết nhận được hồ trợ này từ phía nhân viên CTXH. Có thế
nói, sự hạn chế về số lượng nhân lực, cũng như sự hạn chế về năng lực chuyên
môn khiến cho nhân viên CTXH chưa thể hồ trợ được trên diện rộng.


Theo giải thích từ phía nhân viên CTXH, thực tế trên là bởi hiện nay
các hoạt động hỗ trợ thủ tục hành chính cho bệnh nhân điều trị nội trú thường
do nhân viên y tế của từng khoa, phòng thực hiện, những trường hợp đặc biệt
được giới thiệu thì phịng CTXH mới phụ trách “Từ trước đến nay, phịng,
khoa nào có người bệnh điều trị nội trú cần hỗ trợ thủ tục hành chính thì
nhân viên y tế của phịng, khoa đó trực tiếp phụ trách. Phịng CTXH rất ít khi
làm việc này. Chỉ khi nào có giới thiệu xuống thì phịng [CTXH] mới làm”

(PVS, Nhân viên CTXH).

Tương tự, tại Bệnh viện Nhi Trung ương hoạt động hỗ trợ thủ tục hành
chính dành cho bệnh nhi thường do nhân viên y té đảm nhiệm, do vậy mà vai trò
của nhân viên CTXH còn được xem là thứ yếu.
“Từ trước đên nay hoạt động hô trợ thủ tục hành chính cho bệnh nhi điêu trị nội
trú vẫn do chúng tôi làm. Những thủ tục này chúng tôi biết hết cả rồi, hướng dẫn
bệnh nhi và gia đình cũng khơng khó lắm, họ cứ theo đó là làm được. Đe nhân
viên phịng CTXH lên làm thì rất mất cơng và mất thời gian, mình làm ln cho
nhanh. Chi những trường hợp nào đặc biệt thì mới giới thiệu đến phịng CTXH
thơi” (PVS, Điều dưỡng viên, Bệnh viện Nhi TW).

Thực tế này khiển cho số người bệnh điều trị nội trú được nhân viên CTXH
hồ trợ thủ tục hành chính ln thấp hơn so với nhu cầu, cũng như thấp hơn so
với số người bệnh điều trị nội trú được y, bác sỹ hồ trợ. Tuy nhiên, với những
trường hợp cần can thiệp thì nhân viên CTXH cũng thê hiện thái độ tận tâm, tận
tình: “Trong quả trình làm việc của tôi, nếu trường hợp bệnh nhân nghèo mà có


Đồn Kim Thắng


35

the giúp được là tơi cố gắng giúp. Ví dụ, trường hợp cháu A cần phẫu thuật tim,
tơi đã liên hệ với các nhà hảo tâm để quyên tiền phẫu thuật tim cho cháu, sau
đó làm thêm thủ tục giúp cháu được giảm chi phí chăm sóc. Đồng thời, tôi liên
hệ chặt chẽ về mặt giấy tờ, hồ sơ của cháu với y tá hành chinh của Khoa tim
mậch đê phối họp thực hiện sao cho lịch phẫu thuật của cháu vẫn diễn ra bình
thường. Tất cả những việc đó tơi đều cố gắng hết mình" (PVS, Nhân viên CTXH,

Bệ ih viện Đa khoa YHCT Hà Nội).
Hoạt động tư vấn liên quan đến việc khám, chữa bệnh

Kết quả khảo sát cho thấy 93% bệnh nhân điều trị nội trú và người nhà
chăm sóc bệnh nhân được hỏi cho biết họ nhận được “hoạt động tư vấn liên quan
đến việc khám chữa bệnh” từ nhân viên y tế tại các khoa/phòng, tỷ lệ này đối
với hhân viên CTXH là 50,8%- Thực trạng này được nhân viên CTXH giải thích
là bội yếu tổ chuyên môn: "Tôi [nhân viên CTXH] không được đào tạo về ngành
y nên cũng không biết cách giải thích như thế nào cho bệnh nhân hiểu về dịch
vụ chữa bệnh phù hợp với họ" (PVS, Nhân viên CTXH). Do vậy mà nhân viên
CTXH chưa thể quan tâm nhiều đến việc tư vấn liên quan đến việc khám, chữa
bệnh dành cho bệnh nhân. Mặt khác, kết quả phỏng vấn sâu còn cho thấy sự hạn
chế về nhân lực cũng là một rào cản lớn đối với hoạt động tư vấn: "Chủng tôi
cũng chưa chủ trọng việc hướng dẫn cho cả bệnh nhân nội trú lần ngoại trú vì
cịn những việc khác cần làm trong khi phịng CTXH thì ít người, khơng có đủ
nhân lực để làm, khơng đủ thời gian để làm" (PVS, Nữ nhân viên CTXH, Bệnh
viện Đa khoa YHCT Hà Nội).

IMặc dù vậy, khi thực hiện các hoạt động tư vấn này, nhân viên CTXH
thườn ị lập hồ sơ để quản lý trường hợp, kết nối giúp người bệnh hỏi chuyện y,
bác sỳ, tư vấn tâm lý giúp bệnh nhân an tâm điều trị: "Mỗi khi tư vấn tôi đều ghi

chép G ây đù thông tin vê bệnh tình, vê khó khăn, lo lãng của người bệnh. Chăng
hạn, khi có người bệnh hỏi tơi bệnh của họ thì cỏ thế chừa được ở đây khơng?
Lúc đa, tơi tư vẩn cho họ biết ở đây có những bác sỹ giỏi có thể chữa được cho

anh/cni và động viên họ yên tâm chữa bệnh" (PVS, Nữ nhân viên CTXH, Bệnh
viện N ữ Trung ương).
Hoạt động kết noi với y, bác sỹ đế được khám, chữa bệnh
Kết quả khảo sát hoạt động hồ trợ kết nối giữa người bệnh điều trị nội
trú/nginời nhà bệnh nhân với y, bác sỳ cho thấy sự thiếu vắng vai trò của nhân
viên CTXH. số bệnh nhân điều trị nội trú được nhân viên CTXH hồ trợ để hỏi
chuyện bác sỹ, y tá về việc chừa bệnh hay được hồ trợ dần đến các phịng khám,
chữa bệah chỉ đạt 37,6%. Đe giải thích cho tỷ lệ thấp này, các nhân viên CTXH


36

Nghiên cứu Gia đình và Giới. Quyển 32, số 2, tr. 31-41

cho rằng sự tiếp xúc hàng ngày là cơ hội thuận tiện giúp người bệnh và người
nhà bệnh nhân trực tiếp hỏi chuyện y, bác sỹ về tình hình bệnh tật, do vậy bản
thân người bệnh và người nhà bệnh nhân ít cần đến sự hỗ trợ của nhân viên
CTXH: ‘‘"Thường ngày các bác sỹ, y tá đều đến kiểm tra bệnh tình của bệnh
nhân. Nếu cần hỏi chuyện gì thì người bệnh hoặc người nhà của họ có thê hỏi
trực tiếp. Do vậy, họ cũng không cần đến sự hỗ trợ của chúng tơí” (PVS, Nhân

viên CTXH, Bệnh viện Đa khoa YHCT Hà Nội).
Dù rằng số lượng bệnh nhân điều trị nội trú được hỗ trợ kết nối khám chữa
bệnh với đội ngũ y, bác sỹ còn thấp, nhưng nhân viên CTXH cũng đang thể hiện
sự nồ lực thực hiện tốt vai trò của người kết nối: ""Mỗi khi có cháu nào muon nhờ


tơi hỏi giúp về bệnh tình của cháu như thế nào, tơi đều giúp các cháu hỏi chuyên
với y tá, điều dưỡng hoặc bác sỹ của khoa đó. Chẳng hạn, nếu có y tả ở đó, tơi sẽ
kết nối cháu với cơ y tá này, giúp cháu hỏi chuyện. Khi đó, tơi đứng ở bên cạnh
và thỉnh thoảng hỏi thêm nếu thấy câu hỏi của cháu chưa đượcy tá trả lời đầy đủ.
Khi thấy cháu có khó khăn trong việc diễn tả thì tơi có thể tham gia hỗ trợ giải
thích cho cơ y tả đỏ hiểu ” (PVS, Nhân viên CTXH, Bệnh viện Nhi Trung ương).
Hoạt động dinh dưỡng, trao quà

Ket quả khảo sát cho thấy bệnh nhân điều trị nội trú (trong đó phần nhiều
là bệnh nhi) điều trị nội trú nhận được hồ trợ dinh dưỡng, trao quà từ phía nhân
viên CTXH, như được cung cấp bữa ăn miễn phí trong bệnh viện trong quá trình
điều trị và được trao quà (bánh, kẹo, đồ chơi, quần áo...). Tại hai bệnh viện được
khảo sát, tỷ lệ bệnh nhân điều trị nội trú nhận được hồ trợ cung cấp bữa ăn miễn
phí từ nhân viên CTXH là 43,7% và được trao quà với tỷ lệ là 43,1%. Tỷ lệ bệnh
nhân điều trị nội trú nhận được sự hồ trợ tuy chưa cao, nhưng kết quả này phản
ánh cái “Tâm” của người làm nghề CTXH trong mơi trường bệnh viện. “Toi nghĩ
cơng việc của mình là phải xuất phát từ cái tâm, những bệnh nhân (nhất là bệnh
nhỉ) có hồn cảnh khó khăn thi cần được giúp đỡ về ăn mặc, tiền chữa bcnh”
(PVS, Nhân viên CTXH, BV Nhi Trung ương). Nếu đối chiếu với các hoạt động
hồ trợ nêu trên thì trong giai đoạn hiện nay, các hoạt động hồ trợ dinh dưỡng,
trao quà dành cho bệnh nhân điều trị nội trú nhận được sự quan tâm từ phía nhân
viên CTXH nhiều hơn so với các hoạt động CTXH khác.

4. Lượng giá hoạt động CTXH trong bệnh viện
Lượng giá và sự cần thiết của hoạt động cơng tác xã hội

Khơng có một định nghĩa chung cho khái niệm lượng giá, tùy vào mồi lĩnh
vực có khái niệm riêng. Chẳng hạn, lượng giá chức năng tâm lý của người bệnh



Đoàn Kim Thắng

37

là kỳ thuật sử dụng thang điếm đánh giá tâm lý ngắn gọn (Brief Psychiatric
R, Iting Scale: BPRS) để đánh giá tình trạng tâm lý của người bệnh... (Bộ Y tế,

2Ọ14). Trong nghiên cứu này, khi tìm hiểu về hoạt động của công tác xã hội
tru:mg bệnh viện, lượng giá hoạt động này từ khảo sát ý kiến của bệnh nhân điều
trị nội trú và người nhà về mức độ cần thiết của CTXH trong bệnh viện; mức độ
hà I lòng của bệnh nhân điều trị nội trú và người nhà về các hoạt động của CTXH
trcng bệnh viện; và ảnh hưởng của CTXH đến hoạt động khám chữa bệnh của
độ ngũ nhân viên y tế bệnh viện... Việc lượng giá các hồ trợ của CTXH đối với
bệíih nhân/người nhà bệnh nhân là cần thiết để có giải pháp nâng cao hiệu quả

hoạt động của CTXH trong bệnh viện.
Kết quả khảo sát cho thấy cả bệnh nhân và đội ngũ nhân viên y tế trong
bệ: viện đều cho rằng “rất cần thiết” có hoạt động CTXH (42%). Mức độ “cần
thiẩt” có hoạt động này có sự khác biệt hơn đối với nhân viên y tể (56%) so với
bệ] nhân điều trị nội trú (49,5%). Riêng đối với bệnh nhân điều trị nội trú tỷ lệ
đánn giá ở các nội dung là cần thiết cũng chỉ chiếm 48-56% (Bảng 1).

Báng 1. Mức độ cần thiết của hoạt động CTXH đối vói bệnh nhân điều trị nội trú
trong bệnh viện (%)
Mức độ
Nội lung hoạt động cơng tác xã hội

Cần
thiết


Bình
thường

Khơng
cần thiết

Chưa
được hỗ
trợ

Hỗt ợ thủ tục nhập viện

55,1

10,2

1,0

33,7

Hỗ t ợ thủ tục xuất viện

54,3

10,2

3,0

32,5


Tưv in giúp yên tâm chữa bệnh

54,3

11,7

1,5

32,5

HỖ tì ỵ thủ tục miễn, giảm viện phí

50,8

12,2

1,0

36,0

Hỗ tr 1 hỏi chuyện bác sỹ, y tá về việc chữa bệnh

48,7

12,7

21,5

36,0


Hỗ tì 1 dẫn đến các phòng khám, chữa bệnh

53,2

12,2

2,0

32,5

Cunị cấp bữa ăn miễn phí

56,3

14,2

3,6

25,9

Hỗ tì•ẹ ■ trao q

54,6

16,3

3,1

26,0


Nguồn: Số liệu kết quả khảo sát đề tài năm 2019-2020.

; (em xét về mức độ cần thiết của hoạt động CTXH tương quan với giới
tính, nhóm tuổi người được hỏi và địa bàn khảo sát cho thấy có sự đồng đều giữa
nam Ví nữ khi được hỏi về sự “cần thiết có hoạt động CTXH” trong bệnh viện.


38

Nghiên cứu Gia đình và Giới. Quyển 32, số 2, tr. 31-41

Tuy nhiên, nhóm tuổi cao hon có tỷ lệ cho biết về nhu cầu “rất cần thiết có hoạt
động CTXH” cao hon. Ở hai bệnh viện, tỷ lệ cho biết mức độ “rất cần thiết” có
CTXH trong bệnh viện cũng khá khác nhau. Tỷ lệ cho biết “rất cần thiết” có
CTXH tại Bệnh viện Đa khoa YHCT Hà Nội cao gấp 3 lần so với Bệnh viện Nhi
Trung ương.

Nhận thức cần có vai trị của nhân viên CTXH trong việc trợ giúp bệnh
nhân điều trị nội trú, nên đội ngũ y, bác sĩ cũng cho rằng sự hồ trợ là rất cần thiết.
60% nhân viên y tế được hỏi tại hai bệnh viện cho rằng “cần thiết” có hoạt động
trợ giúp nhân viên y tế trong việc “cung cấp thông tin về người bệnh để hỗ trợ
công tác điều trị”; 56% cho rằng “cần thiết” nhận được sự “động viên nhân viên
y tế khi gặp vướng mắc với bệnh nhân”; 49% nhân viên y tế được hỏi cho biết
“cần thiết nhận được sự hồ trợ về tâm lý”.
“Ớ đây mọi thứ hô trợ bệnh nhân, nhân viên y tế và NVCTXH cùng làm, tôi thấy
việc làm này của nhãn viên CTXH là có ý nghĩa, nhưng theo tơi nhân viên CTXH
cân tập trung nhiều hơn vào vận động, quyên góp tiền từ thiện cho các bệnh

nhân” (PVS, Bác sỹ, BV Nhi Trung ương).


Sự hài lòng của bệnh nhân điều trị nội trú trong bệnh viện

Tỷ lệ đánh giá sự hài lòng cao nhất trong các hoạt động CTXH hỗ trợ bệnh
nhân điều trị nội trú về nội dung “hoạt động hồ trợ thủ tục hành chính” khơng

cao (40,1%). Ngun nhân của tình trạng này được giải thích rằng do số bệnh
nhân nhận được sự hồ trợ của nhân viên CTXH về nội dung hỗ trợ thủ tục hành
chính trong bệnh viện không nhiều. Cụ thể như “tư vấn liên quan đến việc khám,
chữa bệnh” (39,1%); “tư vấn quyền lợi khám, chữa bệnh” (39,1%); “tư vấn miễn
giảm viện phí” (36,0%); “hồ trợ dẫn bệnh nhân đến các phòng khám” (35,5%);
“tư vấn tâm lý giúp yên tâm chữa bệnh” (35%). Trong khi đó, sự hài lịng của
bệnh nhân và người nhà bệnh nhân điều trị nội trú về hoạt động “cung cấp bữa
ăn miễn phí” và “hoạt động trao quà” do nhân viên CTXH thực hiện có sự cải

thiện hơn so với các hoạt động hồ trợ khác. Tỷ lệ hài lịng về “cung cấp bữa ăn
miễn phí” và “hoạt động trao quà” 42,6%.
Như vậy, ngoài hoạt động “cung cấp bữa ăn miền phí” và “hoạt động trao

quà”, ở các hoạt động khác tỷ lệ bệnh nhân đánh giá hài lòng chưa cao, cho thấy
chất lượng hỗ trợ cũng như sự phối hợp giữa hoạt động CTXH với hoạt động
khám/chữa bệnh của nhân viên y tế còn hạn chế và đây có thể trở thành nguyên
nhân khiến cho người bệnh chưa có cách nhìn nhận, đánh giá tích cực về hoạt

động CTXH trong bệnh viện.


Đoàn Kim Thắng

39


Anh hưởng của hoạt động CTXH đến khám, chữa bệnh củay, bác sỹ
Ket quả lượng giá cho thấy mức độ ảnh hưởng của các hoạt động CTXH
chung đến việc khám, chữa bệnh của y, bác sỳ có tỷ lệ không cao: “hỗ trợ về tâm
lý (56%); “cung cấp thông tin người bệnh để hỗ trợ công tác điều trị” (52%);
“đọng viên nhân viên y tế khi gặp vướng mắc với bệnh nhân” (50%); và các “hồ
trọi khác” (13%).

Thực tế này được y, bác sỹ giải thích như sau: “Tơi nghĩ rằng (hoạt động
CTXH) cũng có giúp ích ít nhiều cho chúng tôi. Chẳng hạn như hỗ trợ tâm lý
cho đội ngũy, bác sỹ để khám chữa bệnh tốt nhất cho người bệnh, hay cung cẩp
cáa thông tin cần thiết giúp cho quá trình khám chữa bệnh của chúng tôi cho
bệnh nhân cỏ hiệu quả cao nhất để người bệnh và người nhà bệnh nhân có sự
hài lỏng yên tâm điều trị bệnh. Người bệnh thấy người nhà mình vui thì họ cũng
vui 'heo. Trạng thái vui vẻ này của người bệnh giúp cho thuốc phát huy tác dụng
tốt hcm, bệnh nhãn sẽ hồi phục nhanh hơrì' (PVS, Bác sỹ, Bệnh viện Nhi Trung
ươn ị). Ket quả phỏng vấn sâu cũng cho thấy một số hoạt động CTXH được
lượng giá với kết quả tích cực và theo cách giải thích của y, bác sỳ là do “bệnh

nhân vào đây mua phiếu khám bệnh, sau đó được chỉ định khám ở đâu, nếu cần
nhập viện thì sẽ chỉ định (nhập viện) ở khoa nào đó. Một số gia đình cũng có hỏi
thăm (nhân viên CTXH) thì được họ giải thích chu đáo. Nói chung, hoạt động
đó (f Ioạt động tư vấn dịch vụ khám, chữa bệnh do nhân viên CTXH thực hiện)
đã hị trợ nhiều cho chủng tói” (PVS, Bác sỹ, BV Nhi Trung ương).

5. Kíit luận
Cơng tác xã hội ở Việt Nam hiện nay có những lợi thể và cơ hội để phát
triển chuyên nghiệp do nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Quyết định
32/2010/QĐ-TTg ngày 23/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản
pháp quy được ban hành là những cơ sở pháp lý cho phát triển chuyên nghiệp
hoạt động CTXH nói chung, trong đó có ngành y tế. Hoạt động CTXH trong

ngành y tế được mở rộng, đang ngày càng phát triển hướng đến việc nâng cao

hiệu quả chăm sóc sức khỏe cho người dân.

Tuy nhiên, những cơ hội và thách thức của hoạt động CTXH trong bệnh
viện cũng đang đặt ra những yêu cầu cần hoàn thiện. Các kết quả nghiên cứu cho
thấy khả năng hỗ trợ của hoạt động CTXH đối với bệnh nhân điều trị nội trú
trong bênh viện còn gặp những hạn chế về nguồn lực con người, đồng thời giữa
đội ngu nhân viên CTXH cũng có sự khác biệt rõ nét về trình độ, nhận thức và
năng lực chun mơn.


40

Nghiên cứu Gia đình và Giới. Quyển 32, số 2, tr. 31-41

Nhu cầu về CTXH trong bệnh viện là rất cần thiết, tuy nhiên, thục tế khảo
sát lại cho thấy trong quan niệm, nhận thức của người bệnh/người nhà bệnh nhân
thì vị trí của nhân viên CTXH ln thấp hơn vị trí của y, bác sỳ, do vậy một số
nội dung của hoạt động CTXH, người bệnh điều trị nội trú và người nhà bệnh
nhân được hỏi đánh giá mức độ cần thiết còn thấp. Điều này đã phần nào phản
ánh sự tham gia còn hạn chế của nhân viên CTXH trong việc trợ giúp người
bệnh/người nhà bệnh nhân, cũng như phản ánh sự gắn kết chưa cao giữa nhân
viên CTXH với đội ngũ nhân viên y tế trong bệnh viện.
Một khoảng trống khác thấy rõ qua nghiên cứu này là các hoạt động thể
hiện tính chuyên nghiệp trong CTXH chưa được nhân viên CTXH chú trọng
triển khai như “hoạt động tư vấn liên quan đến việc khám, chữa bệnh”; “hoạt
động kết nối với y, bác sỹ để hỗ trợ khám chữa bệnh cho bệnh nhân”... trong
khi đó, những hoạt động can thiệp trợ giúp có tính chất giản đơn thường được
nhân viên CTXH tập trung nhiều hơn như “hồ trợ dinh dưỡng, trao quà”. Thực

tế này ảnh hưởng đến cách nhìn nhận, đánh giá của người bệnh điều trị nội
trú/người nhà bệnh nhân và của y, bác sỳ trong bệnh viện. Do vậy, rất cần có các
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng trợ giúp CTXH cho người bệnh nhằm thể
hiện tính chất chuyên nghiệp của CTXH trong can thiệp, trợ giúp bệnh nhân điều

trị nội trú đạt hiệu quả cao hơn.

Tài liệu trích dẫn
Bộ Y tế. 2014. Lượng giá chức năng tâm lý. Tài liệu chưa xuất bản.
/>-gia-chuc-nang-tam-ly.
Đỗ Hạnh Nga. 2016. “Hệ thống khung pháp lý - cơ sở cho sự phát triển nghề công
tác xã hội trong ngành y tế”. Kỷ yếu hội thảo khoa học Công tác xã hội trong
bệnh viện - những vẩn đề lý luận và thực tiền thực hành, Trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 13-23.
Gehlert, s., Browne, T. 2012. Hand book of Health Social Work. John Wiley &
Sons, Inc., Hoboken, New Jersey.

International Federation of Social Workers (IFSW). 2014. Global Definition of
Social Work, />
Lê Thị Hồng Liễu. 2016. “Chương trình đào tạo cử nhân công tác xã hội và định
hướng chuyên ngành công tác xã hội trong bệnh viện - thách thức và cơ hội”.
Kỷ yếu hội thảo khoa học Công tác xã hội trong bệnh viện: những vẩn đề lý
luận và thực tiễn, thực hành. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr.223-241.


Đồn Kim Thắng

41


Lê Thị Hồng Liễu. 2017. “Thách thức cơng tác xã hội trong bệnh viện tại Việt
Nam”. Kỷ yếu hội thảo Quốc tế Công tác xã hội và an sinh xã hội trong bối
cảnh cộng đồng Asean: hội nhập và phát triến bền vững. Đại học Thủ Dầu Một,
tr.194-198.
Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 25/3/2010
về việc “Phê duyệt đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020”.

Truong Nguyễn Xuân Quỳnh, Phạm Thu Hà. 2016. “Mơ hình cơng tác xã hội tại
Mỳ và hướng ứng dụng tại Việt Nam”. Kỷ yếu hội thảo khoa học Công tác xã
hội trong bệnh viện - những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hành, Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh,
tr 49-63.



×