Tải bản đầy đủ (.pdf) (3 trang)

Phát triển ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (380 KB, 3 trang )

NGHIÊN CỨU
RESEARCH

Phát triển ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi

ở Việt Nam


Nguyễn Đức Hải

Công ty Cổ phần đầu tư Thái Dương
Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi, ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi (TACN) công nghiệp ở Việt
Nam cũng đã tăng trưởng ngoạn mục, đạt bình quân từ 13%-15%/năm. Với tiềm năng phát triển cao, ngành
TACN của Việt Nam đã thu hút nhiều doanh nghiệp gia nhập ngành, nhất là các doanh nghiệp có vốn đãu tư
nước ngồi đang khơng ngừng mở rộng quy mơ, tạo ra cuộc cạnh tranh khốc liệt trong ngành. Vì thế, việc tìm
ra hướng đi mới để thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp TACN trong thời gian tới là hết sức cần thiết.
1. Thực trang ngành công nghiệp thức ăn
chăn nuôi ở việt Nam

1.1. Thực trạng doanh nghiệp sản xuất thức
ăn chăn ni
Theo số liệu của Vietnam Report, trong vịng 5
năm, số doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi đã
tăng 8,1% từ 245 doanh nghiệp vào năm 2017 lên
269 doanh nghiệp vào năm 2021. Tuy nhiên, mức
tăng chủ yếu đến từ các doanh nghiệp trong khối
FDI. Năm 2017, số doanh nghiệp FDI sản xuất TACN
là 71 (chiếm 29% tổng số) thì tính đến tháng
7/2021, Việt Nam đã có 90 doanh nghiệp (chiếm
33% tổng số). Số doanh nghiệp trong nước chỉ tăng
5 doanh nghiệp trong vịng 5 năm thì số doanh


nghiệp FDI đã tăng tới 19 doanh nghiệp.
Sản lượng của khối doanh nghiệp FDI trong năm
2020 chiếm tới 59,8%. Các doanh nghiệp FDI không
chỉ vượt trội về thị phần mà hầu hết đều có chiến
lược kinh doanh bài bán với chuỗi sản xuẩt kinh
doanh khép kín và nguồn lực tài chính mạnh. Mặc
dù số lượng các nhà máy sản xuất TACN nội chiếm
ưu thế so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài, song hiện tại các doanh nghiệp trong nước
vẫn chưa làm chủ được thị trường, thậm chí cơng
suất hoạt động cịn đang có xu hướng bị cắt giảm,
thu hẹp thị phần. Công suất sản xuất của các cơ sở
trong nước chỉ đạt khoảng 12.465 tấn/năm, còn các
cơ sở chế biến có vốn đầu tư nước ngồi có cơng
suất trên 15.700 tấn/năm; chiếm 60 - 65% tổng sản
lượng TACN sản xuất ra.
Phân bổ các nhà máy sản xuất TACN không đều,
tập trung chủ yểu ở đồng bằng sông Hồng (chiếm
45,7%), Đông Nam Bộ (20,4%), đồng bằng song Cửu
Long (15,5%) gây ra tình trạng bất họp lý. Vùng sâu,
vùng xa, vùng cao gần như khơng có nhà máy sản
xuất làm chi phí TACN bị tăng cao hơn do chi phí vận
chuyển lớn.

Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành

28

Kinh tế Châu Ả - Thái Bình Dương (Tháng 4/ 2022)


sản xuất TACN của Việt Nam hiện nay được đánh giá
nằm trong tốp cao nhất. Tiềm năng phát triển của
ngành chăn nuôi cũng như nhu cầu của thị trường
ngày càng thu hút nhiều doanh nghiệp sản xuất
tham gia. Các doanh nghiệp nước ngồi có lợi thế cả
về vốn đầu tư, cơng nghệ hiện đại, chiến lược xâm
nhập và chiếm lĩnh thị trường bài bản... Tồn tại sự
chênh lệch lớn về năng lực cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ, giữa các
doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp
nước ngoài trong ngành TACN.
1.2.
Thực trạng thị trường đầu vào

Để sản xuất lượng thức ăn trên, mỗi năm cả nước
cần trên 33 triệu tấn nguyên liệu, nhưng trong nước
chỉ cung cấp được khoảng 13 triệu tấn (chiếm
khoảng 40%), số còn lại từ nguồn nhập khẩu 22,3
triệu tấn.
Trong tổng nhu cầu các nguyên liệu thức ăn tinh,
nhóm nguyên liệu cung cấp năng lượng (các loại hạt
cốc: ngơ, lúa mì, cám, tấm, sắn...) chiếm tỷ trọng trên
65% (tương đương 21 triệu tấn); nhóm nguyên liệu
cung cấp đạm gồm đạm thực vật (khô dầu các loại,
bã ngô) và đạm động vật (bột thịt xương, bột gia
cầm, bột huyết, bột cá...) chiếm trên 27% tương
đương 8,5 triệu tấn.

Mặc dù, Việt Nam là một quốc gia vốn được xem
là có thế mạnh về sản xuất nơng nghiệp, chăn nuôi,

tuy nhiên nguyên liệu thức ăn chăn nuôi là nhóm
hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn nhất trong các
mặt hàng nơng nghiệp. Các doanh nghiệp nước
ngồi mạnh về nguồn vốn nên thường dự trữ sản
lượng lớn nguồn nguyên liệu trong chế biến, nhờ
vậy mà kiểm soát giá nguyên liệu tốt hơn và thị
trường thức ăn chăn ni có dấu hiệu bị chi phối bởi
một số công ty lớn.
Hiện nay, nguồn cung cho sản xuất TACN ở Việt
Nam phụ thuộc phần lớn vào nhập khẩu. Các mặt
hàng như ngô, lúa mì, đậu tương phải nhập khẩu tới

Asia - Pacific Economic Review

__________________________________


70 - 80% nhu cầu sản xuất trong nước. Trong khi
đó, nguồn cung trong nước có thể cung ứng một số
loại nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi, nhưng
sản lượng cịn nhỏ và phân tán, khiến các doanh
nghiệp khơng mặn mà thu gom. Đặc biệt, các doanh
nghiệp sản xuất TACN lớn ở Việt Nam hiện nay hầu
hết là doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, họ thường
nhập về hàng ngàn tấn nguyên liệu từ nước ngoài
(một lần vận chuyển bằng tàu biển) sẽ đảm bảo về
sự đồng nhất chất lượng, thuận lợi cho bảo quản và
chế biến cơng nghiệp. Cịn nên việc thu gom nhỏ lẻ ở
thị trường trong nước sẽ mất nhiều chi phí hơn lại
khơng đáp ứng được về chất lượng. Theo số liệu của

Tổng cục Hải quan, 11 tháng năm 2021, nhập khẩu
thức ăn gia súc và nguyên liệu phục vụ ngành chăn
nuôi trong nước đạt gần 4,5 tỷ USD, tăng 30% so với
cùng kỳ, dự kiến cả năm đạt 4,87 tỷ USD, tăng hơn 1
tỷ USD so với năm 2020. Dự báo, nhu cầu nhập khẩu
ngô và phụ phẩm ngũ cốc làm thức ăn chăn nuôi của
Việt Nam tiếp tục tăng cao, với mức gấp ba lần trong
vòng 10 năm tới.
Sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu khiến
sản xuất trong nước dễ dàng rơi vào thế bị động.
Giai đoạn từ năm 2015 đến 2020 giá nguyên liệu
thức ăn chăn nuôi, tương đối ổn định. Tuy nhiên, giá
bắt đàu tăng và tăng liên tục từ tháng 10/2020 đến
nay do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Nguồn cung
nguyên liệu trên thế giới giảm, nguồn cung trong
nước hạn chế, chi phí vận chuyển tăng dẫn đến chi
phí đầu vào cho sản xuất TACN ở Việt Nam tăng 20
- 30%. Ngồi ra, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
khiến sản lượng một số loại ngũ cốc chính tại những
quốc gia xuất khẩu lớn sụt giảm, làm giá thành đầu
vào sản xuất thức ăn chăn nuôi tăng theo.

1.3
Thực trạng thị trường đâu ra
Ngành chăn ni ở Việt Nam có xu hướng tăng.
Cục Chăn ni ước tính, tăng trường giá trị sản xuất
chăn ni bình qn năm 2021 đạt khoảng 5,6%.
Đến thời điểm hểt năm 2021, đàn lợn cả nước vẫn
được duy trì 28,1 triệu con; khoảng 8,8 triệu con
trâu bị. Hiện nay, trên thế giới, xu hướng tiêu thụ

gia cầm đang tăng cao bởi giá thành sản phẩm thấp
hơn so với thịt khác. OECD đưa ra dự báo đối với thị
trường gia cầm, sản lượng tiêu thụ trong 10 năm tới
tại Việt Nam có thể đạt mức tăng trưởng bình qn
2,9%/năm. Đây cũng là xu hương của nhiều quốc
gia trên thế giới. Thuỷ hải sản cũng là ngành chăn
nuôi phát triển mạnh ở Việt Nam bởi đây là một
trong 10 nhóm mặt hàng xuất khầu chủ lực và đang
có Sự phục hồi khá tốt sau đại dịch Covid 19. Nhu
cầu thủy sản tiếp tục tăng cao tại các thị trường lớn
về thủy sản của Việt Nam như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản,
v.v sẽ thúc đẩy xuất khẩu ngành hàng này của Việt
Nam. Sự phát triển của ngành chăn nuôi đã làm tăng
mạnh nhu cầu về TACN ở nhiều lĩnh vực.

Đánh giá nhu cầu TACN năm 2022 theo báo cáo
của Vietnam Report, thức ăn cho thủy sản, gia cầm
có xu hướng tăng trong khi nhu cầu thức ăn cho lợn
thì gần như khơng có sự thay đổi, thức ăn cho động
vật nhai lại có xu hướng giảm. Theo dự báo của Hiệp
hội Chăn nuôi gia cầm Việt Nam, nhu cầu nguyên
liệu thức ăn chăn nuôi của Việt Nam sẽ là khoảng
28-30 triệu tấn/năm trong 5 năm tới, trị giá 12-13
tỷ USD với mức tăng trưởng trung bình 11 12%/năm, trong đó q nửa sản lượng nguyên liệu
thức ăn chăn nuôi (14,5-15 triệu tấn) sẽ dành cho
ngành gia cầm.
Ngành sản xuất TACN của Việt Nam sau hơn 20
năm hội nhập đã đạt được nhiều thành tựu lớn, mức
tăng trưởng trung bình đạt 10-15%/năm, đưa Việt
Nam trở thành nước có ngành cơng nghiệp TACN đạt

tốc độ phát triển nhanh nhất khu vực. Theo báo cáo
của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm
2000 sản lượng thức ăn gia súc, gia cầm sản xuất
công nghiệp đạt 2,7 triệu tấn, đến năm 2010 đã tăng
lên đạt 10,583 triệu tấn, năm 2017 đạt 19,381 triệu
tấn, năm 2018 đạt trên 23 triệu tấn và năm 2020 lên
mức 20,3 triệu tấn (gấp đôi so với 2010). Năm 2021,
tổng sản lượng TACN ở Việt Nam đạt 21,9 triệu tấn
(tăng 5,9% so với 2020). Điều đó cho thấy, tiềm năng
của thị trường TACN ở nước ta là tương đối lớn.
Trong tổng sản lượng TACN, nhiều nhất vẫn là thức
ăn cho lợn chiếm 55,8%, cho gia cầm chiếm 40,4%
và cho các vật nuôi khác chiếm 3,8%.

2. Những thách thức của ngành công nghiệp
thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam
Thứ nhất, yêu cầu đối với TACN ngày càng cao.
Thị hiếu nhu cầu tiêu dùng về thực phẩm động vật
ảnh hưởng tới cách thức và công thức sản xuất
TACN. Người tiêu dùng cho rằng họ có cơ hội nâng
cao sức khoẻ qua con đường thực phẩm nên các sản
phẩm protein từ động vật phải được làm nổi bật
tính chất tốt cho sức khoẻ. Vì thế, thực phẩm phải
chất lượng và an tồn. Những yêu cầu loại bỏ kháng
sinh, hữu cơ, giảm biến đổi gen được đặt cao. Trong
khi các hiểm hoạ dịch bệnh vẫn thường xun đe
doạ thì các nhà chăn ni buộc phải giảm thiểu rủi
ro nhiễm bệnh và cản thiện an toàn sinh học qua
dinh dưỡng.
Thứ hai, ngành sản xuất TACN của Việt Nam quá

phụ thuộc vào nhập khẩu. Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ
(USDA), Việt Nam đã tăng nhập khẩu ngô làm
nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi. Việt Nam là
nhà nhập khẩu ngô lớn nhất ở Đông Nam Á và dự
báo là nhà nhập khẩu ngô lớn thứ 5 tồn cầu vào các
năm 2021, 2022. Cùng với ngơ, các mặt hàng xuất
khẩu phục vụ sản xuất thức ăn chăn nuôi và thủy
sản của Mỹ như bột ngũ cốc sấy khô, phụ phẩm lên
men (DDGS) đã tăng trưởng mạnh trong thập kỷ

Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (Tháng 4/ 2022)

29


NGHIÊN CỨU
qua. Việt Nam hiện là một trong những nhà nhập
khẩu hàng đầu mặt hàng này của Mỹ.

Thứ ba, chi phí sản xuất TACN ngày càng tăng
cao. Từ đầu năm 2020, giá thức ăn chăn nuôi đã tăng
gần chục lần. Giá các loại nguyên liệu phục vụ ngành
chăn nuôi như ngơ, đậu tương, lúa mỳ, dầu mỡ cũng
tăng chóng mặt. Chẳng hạn, 11 tháng năm 2021,
lượng ngô nhập khẩu chỉ bằng 85% cùng kỳ năm
2020, nhưng do giá ngô tăng, nên trị giá nhập khẩu
tăng gần 24%. Tương tự, kim ngạch đậu tương tăng
43,5%, dầu mỡ động thực vật tăng 44%. Việc phụ
thuộc quá nhiều vào nguồn cung nhập khẩu làm giá
thức ăn chăn nuôi trong nước luôn ở mức cao.

Trong khi đó, giá sản phẩm chăn ni từ đầu năm
đến nay sụt giảm mạnh do nhà hàng, khu công
nghiệp giảm tiêu thụ.., khiến các hộ chăn nuôi nhỏ
lẻ không có lãi, thậm chí thua lỗ.

3. Giải pháp phát triển ngành công nghiệp
thức ăn chan nuôi ở Việt Nam thời gian tới

Thứ nhất, giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu. Để
ngành chăn nuôi của Việt Nam chủ động sản xuất thì
nguồn cung nguyên liệu cho sản xuất TACN phải
được đảm bảo. Các địa phương cần tổ chức sản xuất
trồng ngô, sắn,... theo hình thức hợp tác xã. Việc
quan trọng phải quy hoạch vùng nguyên liệu TACN,
tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân tích tụ
ruộng đất để có thể cơ giới hoá đồng bộ cho sản xuất
nguyên liệu TACN. Khi đó, doanh nghiệp sản xuất
thức ăn chăn ni thu mua sản phẩm của nông dân
với giá ổn định. Bên cạnh đó, tăng cường mối liên
kết giữa cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi với cơ sở
xay xát, kinh doanh thóc gạo để thu mua tấm, cám
gạo làm thức ăn chăn nuôi. Các nhà cung cấp nguyên
liệu cần phát triển sản xuất protein từ côn trùng để
thay thế một phần nguyên liệu giàu đạm nhập khẩu.
Chính phủ cũng cần xem xét hỗ trợ các doanh
nghiệp TACN thông qua việc kiểm soát chặt chẽ dịch
bệnh và phát triển đàn vật nuôi ở địa phương, hỗ trợ
cho doanh nghiệp phát triển tổ hợp an toàn sinh học
và tăng cường kiểm tra chất lượng TACN.
Thứ hai, khuyến khích các doanh nghiệp TACN

tăng cường ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản
xuất. Các nhà khoa học không chỉ xem xét cách thức
công nghệ hỗ trự sản xuất chăn nuôi bằng các kỹ
thuật sinh học, hóa học, vật lý mà cả bằng kỹ thuật
số. Công nghệ số sẽ cho phép giải quyết hiệu quả
hơn nhiều những thách thức to lớn đang phải đối
mặt hiện nay và trong tương lai đối với ngành sản
xuất thức ăn chăn ni. Việc chuyển đổi số trong
quy trình sản xuất và quản lý sẽ giúp các doanh
nghiệp giảm chi phí sản xuất thức ăn chăn ni, tiết
kiệm thời gian. Việc ứng dụng công nghệ số không
chỉ ở lĩnh vực điều hành doanh nghiệp, bán hàng mà
cần triển khai cả ở giao nhận hàng hoá, tuyển dụng.

30

Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (Tháng 4/ 2022)

Thứ ba, phát triển mơ hình kinh tế tuần hồn
trong sản xuất TACN. Kinh tế tuần hoàn (KTTH)
đang là xu hướng tất yếu của các quốc gia trên thế
giới và Việt Nam, nhất là khi đại dịch Covid-19 lan
rộng đã định hình rõ hơn xu hướng đầu tư và phát
triển bền vững. KTTH là mơ hình kinh tế trong đó
các hoạt động thiết kế, sản xuất, tiêu dùng và dịch vụ
nhằm giảm khai thác nguyên liệu, vật liệu, kéo dài
vòng đời sản phẩm, hạn chế chất thải phát sinh và
giảm thiểu tác động xấu đến môi trường.
Thứ tư, phát triển các sản phẩm thức ăn hữu cơ
đạt tiêu chuẩn chất lượng an toàn sinh học. Các

doanh nghiệp sản xuất TACN phải chú ý đầu tư máy
móc dây chuyền sản xuất tự động hố và đạt tiêu
chuẩn quốc tế. Ngoài ra, thường xuyên nghiên cứu
phát triển hổ hợp mơ hình an tồn sinh học. Các chất
khác nhau bổ sung vào thức ăn chăn nuôi như
enzyme, vitamin và chất kết dính đã được sử dụng
và được chấp nhận trong ngành công nghiệp này, sẽ
tiếp tục phát triển và sẽ nâng cao sức khỏe vật nuôi,
năng suất, hiệu suất và lợi nhuận. Tập trung sản
xuất TACN theo công nghệ Bio-zeem, đáp ứng tiêu
chuẩn Global G.A.P, không thuốc tăng trưởng hay
chất tạo nạc để phát triển tự nhiên.

4. Kêt luận
Ngành sản xuất TACN có cơ hội phát triển lớn
nhưng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức. Đó là
sự cạnh tranh gay gắt trong nội bộ ngành, sự chiếm
lĩnh thị trường của các doanh nghiệp đầu tư nước
ngoài, sự phụ thuộc quá lớn vào nguồn nguyên liệu
nhập khẩu và chi phí giá thành ngày càng tăng lên
mạnh. Điều này khiến cho sản xuất TACN cũng như
ngành chăn nuôi ở Việt Nam dễ dàng rơi vào thế bị
động. Chính vì vậy, cần phải có những điều chỉnh
trong ngành như phát triển các vùng sản xuất
nguyên liệu trong nước, khuyến khích doanh nghiệp
đầu tư cơng nghệ sản xuất và chuyển đổi số, hướng
tới sản xuất theo mơ hình kinh tế tuần hồn./.

Tài liệu tham khảo


Cơng ty cổ phần Báo cáo Đánh giá Việt Nam
(2022), Vietnam Report

Chu Khôi (2021), Bị động nguồn nguyên liệu
thức ăn, ngành chăn nuôi nhập siêu hơn 3,8 tỷ USD
trong năm 2021, />truy cập ngày 24/12/2021.
Ngọc Quỳnh (2022), Xu hướng phát triển của
ngành thức ăn chăn nuôi trong năm 2022,
l.vnp, truy cập ngày 6/4/2022.

Asia - Pacific Economic Review

RESEARCH



×