HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ THEO HỒ SƠ TÌNH HUỐNG
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ THAM GIẢI
QUYẾT CÁC VỤ VIỆC DÂN SỰ
(Dân sự chuyên sâu 01, thi kỳ thi chính, ngày thi 26.06.2022)
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÁNG 06 NĂM 2022
HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ THEO HỒ SƠ TÌNH HUỐNG
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ THAM GIẢI
QUYẾT CÁC VỤ VIỆC DÂN SỰ
(Dân sự chuyên sâu 01, thi kỳ thi chính, ngày thi 26.06.2022)
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÁNG 06 NĂM 2022
MỤC LỤC
I. CÂU HỎI TỰ CHỌN: ...................................................................................................... 1
1. CÂU HỎI SỐ 02: Theo anh (chị) cần làm rõ những nội dung gì trong phần
trình bày của ơng Bùi Sơn Đơng? Giải thích lý do vì sao?_1.5 điểm_Hồ sơ tình
huống LS/DS/01 B1.TH1 (Viết tắt HS 01): TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG ..............................................................................................1
2. CÂU HỎI SỐ 07: Xác định chứng cứ chị Nguyễn Thị Oanh cần thu thập để
giao nộp cho Tòa án; đề nghị Tòa án thu thập (nếu có)?_1.5 điểm_Hồ sơ tình huống
LS/DS/04 B2.TH1/HNGĐ (Viết tắt HS 04): TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON,
CHIA TÀI SẢN ...............................................................................................................3
3. CÂU HỎI SỐ 08: Xác định chứng cứ anh Trần Kim Cường cần thu thập để
giao nộp cho Tòa án; đề nghị Tịa án thu thập (nếu có)?_1.5 điểm_Hồ sơ tình huống
LS/DS/04 B2.TH1/HNGĐ (Viết tắt HS 04): TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON,
CHIA TÀI SẢN.................................................................................................................................. 5
4. CÂU HỎI SỐ 11: Giả sử, anh (chị) là luật sư cho bị đơn từ khi tòa án thụ lý
vụ án, anh (chị) cần tư vấn cho bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố khơng? Nếu có, anh
(chị) hãy xác định cụ thể nội dung yêu cầu phản tố? Giải thích lý do vì sao?_1.5
điểm_Hồ sơ tình huống LS.DS/06 B3.TH1_DA2/DS (VIẾT TẮT HS 06) TRANH
CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT .................................................................................................. 7
5. CÂU HỎI SỐ 14: Là luật sư của nguyên đơn, anh (chị) cần thu thập hoặc đề
nghị Tòa án thu thập những chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho
khách hàng?_1.5 điểm_Hồ sơ tình huống LS.DS/06 B3.TH1_DA2/DS (VIẾT TẮT
HS 06) TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ............................................................... 11
II. CÂU HỎI BẮT BUỘC: ................................................................................................. 13
6. CÂU HỎI SỐ 16: Anh (chị) trình bày kết quả nghiên cứu hồ sơ về các vấn đề
nội dung và tố tụng của vụ án?_2.5 điểm_Hồ sơ tình huống LS.DS/06
B3.TH1_DA2/DS (VIẾT TẮT HS 06) TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ....13
1
I. CÂU HỎI TỰ CHỌN:
1. CÂU HỎI SỐ 02: Theo anh (chị) cần làm rõ những nội dung gì trong phần
trình bày của ơng Bùi Sơn Đơng? Giải thích lý do vì sao?_1.5 điểm_Hồ sơ tình huống
LS/DS/01 B1.TH1 (Viết tắt HS 01): TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
NGOÀI HỢP ĐỒNG
TRẢ LỜI:
A. Tóm tắt Hồ sơ tình huống:
Theo hồ sơ, có 14 hộ dân đã có quyết định thu hồi đất của UBND tỉnh Quảng Ninh
giao thu hồi đất để xây dựng khu đô thị mới Nam Ga Hạ Long giao Tổng công ty xây
dựng và phát triển hạ tầng (LICOGI). Tổng Công Ty giao cho Chi nhánh Tổng công ty
xây dựng và phát triển hạ tầng – Chi nhánh tỉnh Quảng Ninh (LICOGI) thực hiện.
Sau đó, tổng cộng có 13 hộ dân đã dọn đi, riêng hộ ông Bùi Sơn Đơng khơng đồng
ý vì cho rằng mức bồi thường khơng thỏa đáng. LILOGI tiến hành san lấp mặt bằng phần
đất của 13 hộ dân đã giao.
Vì hộ ơng Đơng vẫn ở lại nên khi Công ty tiến hành san lấp mặt bằng đã đổ đất lấp
dòng chảy cửa cống và ngày 09-10/06/2016 trời mưa lớn nên gây ngặp hết trên đất nhà
ông Đông làm hư hại cây cối, hoa màu, cây lâu năm, làm đỗ nát 1 số cơng trình xây dựng
của gia đình ơng Đơng. Vì vậy, ơng Đơng muốn khởi kiện đòi LICOGI phải bồi thường
thiệt hại cho ông, thiệt hại ông Đông ước tính khoảng 35.000.000 đồng. Tuy nhiên phía
cơng ty LICOGI khơng đồng ý bồi thường với mức ông Đông đưa ra.
B. Những nội dung cần làm rõ:
1. Những nội dung cần đặt câu hỏi để làm rõ:
- Ơng Đơng có phải là chủ sở hữu phần đất này hay không?
- Yêu cầu ông Đông cung cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để xem xét đất
có hợp pháp khơng?
- Phần đất này thu hồi có quyết định thu hồi hay khơng?
- Có thơng báo về áp giá hay khơng?
- Có biên bản thỏa thuận bồi thường hay khơng?
- Ơng Đơng đã trồng những loại cây gì trên phần đất?
- Việc ơng Đơng u cầu bồi thường 35.000.000đ, ơng có chứng minh được chi phí
và và thu nhập hàng năm từ việc thu hoạch cây trồng hay khơng?
- Ơng xác định ai là người đổ đất và đã sử dụng phương tiện gì để đổ đất trên mảnh
đất này?
- Tổng thiệt thiệt hại của ông hiện nay đã được định giá hoặc có biên bản làm việc
nào để họ thừa nhận phần thiệt hại này hay không?
2
Chính những câu hỏi này để xác định được yêu cầu khởi kiện của ơng Đơng và u
cầu đó là có căn cứ và hợp pháp hay khơng. u cầu ông Đông đưa ra:
+ Yêu cầu bồi thường thiệt hại: giá trị hoa màu, rau muống, cây lâu năm, một số
cơng trình xây dựng trên đất của ơng Đơng.
+ Bồi thường giá trị tăng thêm của năm 2016 và giá trị bồi thường chậm trả.
2. Quá trình nghiên cứu hồ sơ:
2.1. Về mặt tố tụng: Ơng Đơng đủ điều kiện khởi kiện, bởi vì:
+ Ơng Đơng có đủ năng lực hành vì dân sự.
+ Ơng Đơng có căn cứ cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của ơng bị xâm phạm.
+ Vẫn còn trong thời hiệu khởi kiện.
2.2. Về mặt nội dung:
- Quan hệ pháp luật tranh chấp: đây là tranh chấp dân sự về bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng. Bởi vì ngun nhân là do cơng ty LICOGI thực hiện sang lấp mặt bằng
cộng với trời mưa lớn nên nước chảy không được dẫn đến ngập lụt diện tích đất nhà ơng
Đơng. Gây thiệt hại tài sản nhà ông Đông (hoa màu, cây lâu năm, tường rào…)
- Căn cứ Điều 584 BLDS 2015 quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường
thiệt hại; Điều 597 BLDS 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân
gây ra; khoản 6 Điều 26 BLTTDS 2015 quy định về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng. Theo đó ơng Đơng cần chứng minh:
+ Thứ nhất, điều kiện phát sinh trách nhiệm là có thiệt hại xảy ra: xác định thiệt
hại cụ thể.
+ Thứ hai, có hành vi trái pháp luật và có lỗi: cơng ty đã có hành vi ngăn lại cái
cống số 18 để nước tràn vào hại hoa màu và cơng trình nhà ông Đông.
+ Thứ ba, quan hệ nhân quả giữa hành vi này và thiệt hại: hành vi san lấp mặt
bằng đổ đất lấp dịng chảy của cơng ty là ngun nhân trực tiếp dẫn đến hoa màu, cây lâu
năm và các cơng trình nhà ơng Đơng bị hư hại.
Vì vậy u cầu địi bồi thường của ơng Đơng là có căn cứ và hợp pháp. Nhưng vấn
đề ở chỗ là trong hồ sơ địi bồi thường ngồi hợp đồng thì cần chứng minh có thiệt hại,
thiệt hại đó là bao nhiêu rõ ràng ở đây có thiệt hại nhưng mà thiệt hại có tới 35.000.000
đồng hay khơng là 1 vấn đề mà ông Đông cần phải xem xét và cung cấp thêm các chứng
cứ. Theo hồ sơ có 1 biên bản kê khai đầy đủ thiệt hại, vấn đề biên bản đó tính theo giá
nhà nước, mà bồi thường thì theo giá thị trường không phải theo giá nhà nước trên cơ sở
những cái thiệt hại đó thì cần ơng Đơng cho biết thêm: ngồi những thiệt hại theo Biên
bản làm việc ngày 14/06/2016 ơng cịn bị thiệt hại gì thêm nữa khơng?
Ngồi ra việc ơng Đơng địi thiệt hại của các mùa vụ sắp tới đáng lẽ được hưởng thì
thiệt hại chưa xảy ra, các thiệt hại này có thể sẽ khơng được bồi thường. Vì chỉ được bồi
3
thường thiệt hại xảy ra rồi, thiệt hại thực tế phát sinh. Qua những cái ơng Đơng cung cấp
thì Luật sư có thể tham khảo giá thị trường cái mức ơng địi là 35.000.000 đồng là có thể
được làm căn cứ tính giá bồi thường cho ơng Đơng.
2. CÂU HỎI SỐ 07: Xác định chứng cứ chị Nguyễn Thị Oanh cần thu thập để
giao nộp cho Tòa án; đề nghị Tịa án thu thập (nếu có)?_1.5 điểm_Hồ sơ tình huống
LS/DS/04 B2.TH1/HNGĐ (Viết tắt HS 04): TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON,
CHIA TÀI SẢN
TRẢ LỜI:
STT
Những vấn đề cần phải
chứng minh
Những chứng cứ chị Nguyễn Thị Oanh
cần thu thập để giao nộp cho Tòa án
hoặc đề nghị Tòa án thu thập (nếu có)
1
Nhân thân chị Nguyễn Thị Bản sao y Chứng minh nhân dân hoặc Căn
Oanh
cước công dân.
2
Nhân thân của anh Trần Kim - Bản sao y Chứng minh nhân dân hoặc Căn
Cường
cước công dân; hoặc
- Thông tin nêu trong Chứng minh nhân
dân/Căn cước công dân, thông tin về hộ khẩu
thường trú, địa chỉ tạm trú, số điện thoại liên
lạc của những người nêu trên.
3
Về việc ly hôn (Những việc cần
chứng minh chị Oanh có căn
cứ để ly hơn):
- Chị Oanh và anh Cường kết - Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn
hôn hợp pháp.
của chị Oanh và anh Cường. Giả sử chị Oanh
- Căn cứ để ly hơn: có mâu không giữ giấy đăng ký kết hôn mà anh
thuẫn vợ chồng trầm trọng đến Cường đang giữ và anh Cường không giao
mức không thể giải quyết được. cho chị Oanh thì chị lên Ủy ban nhân dân xã
để trích lục (hoặc yêu cầu Tòa án thu thập).
+ anh Cường có hành vi bạo lực + Giấy xác nhận của chính quyền địa
gia đình.
phương hoặc xác nhận người làm chứng và
đề nghị Tòa án lấy lời khai của người làm
chứng hoặc hồ sơ bệnh án ở bệnh viện (nếu
có) về việc anh Cường có hành vi bạo lực gia
đình: đánh đập chị Oanh; Trường hợp chị
Oanh không tự thu thập được thì đề nghị tịa
án thu thập.
4
+ Hai vợ chồng anh Cường, chị + Giấy xác nhận của chính quyền địa
Oanh đã sống ly thân từ ngày phương
04/03/2017.
+ Biên bản về việc đã hịa giải khơng thành.
4
Về ni con:
- Chị Oanh là người có đủ điều + Giấy xác nhận tiền lương của nơi chị
kiện nuôi con
Oanh đang làm việc; Hợp đồng lao động.
+ Chị Oanh có mức thu nhập + Hợp đồng thuê nhà hoặc có nhà của bố
ổn định
mẹ chị Oanh để cho mẹ con Chị Oanh có chỗ
+ Chị Oanh có chỗ ở ổn định, ở ồn định, lâu dài.
lâu dài.
+ Chị Oanh bị anh Cường cản + Lời khai của hàng xóm, chính quyền địa
trở quyền thăm nơm con trong phương về việc mỗi lần Chị Oanh về thăm
thời gian sống ly thân.
con thì bị la mắng, khơng cho thăm con.
- Cháu Trần Minh Quân sinh - Giấy khai sinh cháu Trần Minh Quân.
ngày 29/09/2014: dưới 36 tháng
tuổi.
- Chứng minh yêu cầu cấp - Lấy xác nhận thông tin về mức thu nhập
dưỡng của chị Oanh là có căn hiện tại của anh Cường để tính mức cấp
cứ.
dưỡng phù hợp.
- Chứng minh chị Oanh khơng
có tình cảm với người thứ 3. Chị
Oanh không vi phạm nghĩa vụ
chung thủy của vợ chồng.
- Chị Oanh nên trình bày như sau: anh
Cường là người cọc cằn, hay ghen tng vơ
cớ, trong khi đó điều kiện làm việc của chị
Oanh cần có sự chia sẽ từ phía người chồng.
Anh Cường khơng tạo điều kiện cho chị
Oanh hồn thành cơng việc mà ngược lại anh
cịn hay nghĩ ra các lý do để ghen tuông vô
cớ chứ thật chất chị Oanh khơng có tình cảm
với người thứ 3 nào cả. Thư của người thứ 3
là tình cảm đơn phương của họ chứ chị Oanh
khơng hề có tình cảm gì với người đó. Và
anh Cường cũng khơng có bằng chứng về
việc chị Oanh có đi quá giới hạn hay có hành
vi sai trái với người đàn ơng khác.
Lấy lời khai của hàng xóm, những người
thân, bạn bè.
5
5
Về tài sản chung:
- Chứng minh tài sản là tài sản
chung của vợ chồng, và tỷ lệ
chia. Tài sản gồm: căn nhà, ti vi,
tủ, giường…
- Bản sao hóa đơn, chứng từ mua hàng hóa.
Trường hợp chị Oanh khơng cịn giữ các
giầy tờ, hóa đơn, chứng từ để chứng minh thì
lấy thêm lời khai của hàng xóm, láng giềng.
(nếu anh Cường cho rằng tài sản là của riêng
anh Cường thì anh Cường phải chứng minh,
nếu khơng chứng minh được thì là của
chung).
- Biên bản định giá tài sản ngày 09/06/2017.
3. CÂU HỎI SỐ 08: Xác định chứng cứ anh Trần Kim Cường cần thu thập để
giao nộp cho Tòa án; đề nghị Tịa án thu thập (nếu có)?_1.5 điểm_Hồ sơ tình huống
LS/DS/04 B2.TH1/HNGĐ (Viết tắt HS 04): TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON,
CHIA TÀI SẢN
TRẢ LỜI:
1. Quan điểm của anh Cường đối với yêu cầu khởi kiện của Chị Oanh là:
Thứ nhất, về tình cảm: Tơi xét thấy tình cảm vợ chồng vẫn cịn nên khơng đồng ý
ly hơn chị Nguyễn Thị Oanh
Thứ hai, về con chung: Nguyện vọng là được nuôi con chung tên là Trần Minh
Quân đến lúc con trưởng thành và không yêu cầu chị Oanh cấp dưỡng nuôi con chung.
Thứ ba, về tài sản chung: anh Cường đồng ý như ý kiến chị Oanh nhận sở hữu và
sử dụng những tài sản đó và sẽ trích lại cho chị Oanh số tiền 50.000.000 đồng, nếu chị
Oanh không đồng ý thì u cầu Tịa án chia đơi tài sản bằng hiện vật. Anh Cường không
đồng ý với Biên bản định giá tài sản ngày 09/06/2017, với tổng giá trị các tài sản là
243.693.000 đồng, vì vậy anh Cường không ký vào biên bản định giá tài sản này, lý do
là giá chưa phù hợp, giá quá cao.
Qua đó cho thấy anh Cường có nhu cầu đồn tụ với chị Oanh. Nếu anh Cường cung
cấp các chứng cứ chống lại chị Oanh, cung cấp các chứng cứ để lên án chị Oanh như là:
chị Oanh có lỗi, khơng chăm lo cho con … Có thể thấy nếu anh Cường cứ tiếp tục cung
cấp những chứng cứ đó, cứ khoét sâu mâu thuẫn vợ chồng với chị Oanh thì anh Cường
sẽ khó đạt được mục đích đồn tụ gia đình. Vì vậy về ngun nhân ly hơn thì anh Cường
khơng nên khoét sâu thêm mâu thuẫn của 2 vợ chồng.
Tuy nhiên chúng ta cũng phải nghe ngóng tình hình. Nếu chị Oanh vẫn kiên quyết
ly hôn và chị Oanh đã cung cấp các chứng cứ về ly hôn đã thuyết phục rồi thì khơng loại
trừ khả năng cao tịa án sẽ chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Oanh. Lập tức chúng ta
phải chuyển hướng, thu thập các chứng cứ khác để bảo vệ cho anh Cường nếu trường hợp
6
Tịa án chấp nhận đơn ly hơn của chị Oanh. Vì vậy chúng ta cần chuẩn bị trước các chứng
cứ để bảo vệ quyền lợi cho anh Cường, cụ thể như sau:
2. Các chứng cứ có lợi cho anh Cường:
- Lấy lời khai người làm chứng: chứng minh anh Cường vẫn cịn u chị Oanh và
con, vợ chồng có mâu thuẫn với nhau nhưng chưa đến mức trầm trọng.
Nhận xét: Đề nghị tòa án lấy lời khai người làm chứng, lấy lời khai của những
người biết rõ về việc này.
- Chị Oanh làm việc giờ hành chính: cơng việc của chị Oanh là bán trong căn tin,
đặc thù công việc của chị Oanh phải làm trong giờ hành chính, mà nơi làm việc lại xa nên
chị Oanh khó có thể đưa đón con đi học
Nhận xét: Cung cấp giấy xác nhận thời gian làm việc của Chị Oanh trong giờ hành
chính.
- Anh Cường là lao động chính trong nhà, trụ cột trong gia đình, có thu nhập chính
từ cơng việc thợ xây. Tuy nhiên anh Cường khơng có bảng lương giống như chị Oanh.
Vì vậy đề nghị tịa án xác minh thu nhập trung bình ở địa phương là bao nhiêu 1 tháng,
kết hợp với lời khai của anh Cường, ví dụ anh Cường được trả cơng 200.000 đồng/ngày
với cơng việc của thợ xây, như vậy lời khai của anh Cường sẽ tăng thêm sức thuyết phục
cho Hội đồng xét xử.
Nhận xét: Lời khai của cán bộ địa phương, hàng xóm hoặc Giấy xác nhận của những
người đã trả lương cho anh Cường.
- Chị Oanh là người có lỗi dẫn đến vợ chồng phải ly hôn
Nhận xét: Cung cấp cho Tịa án các thư tình của chị Oanh
- Đất là do bố, mẹ anh Cường cho ở nhờ và chị Oanh cũng đã thừa nhận như vậy.
Nhận xét: Lấy lời khai của bố mẹ anh Cường về việc miếng đất là của bố, mẹ cho ở
nhờ.
- Anh Cường không đồng ý với định giá tài sản. anh Cường chỉ đồng ý trả 50 triệu.
Trong khi chị Oanh yêu cầu trả theo biên bản định giá tài sản là 243.693.000 đồng.
Nhận xét: Luật sư nên tìm hiểu thêm về phương pháp định giá và lập luận trong đơn
định giá lại là việc định giá đó là khơng đúng. Sau đó làm đơn đề nghị định giá lại.
3. Chứng cứ bất lợi cho anh Cường:
Cháu Quân dưới 36 tháng tuổi, nên người mẹ có lợi thế hơn trong việc nhận ni
con. Tuy nhiên anh Cường cũng có lợi thế là trong thời gian ly thân, chị Oanh ra ngồi
sống riêng thì anh Cường cũng đã hồn thành trách nhiệm của mình trong việc nuôi dạy
cháu Quân chu đáo. Mặc khác việc giao con cho mẹ nuôi, thay đổi chỗ ở sẽ làm xáo trộn
cuộc sống hiện tại của cháu Quân.
7
Nhận xét: Yêu cầu tòa án lấy lời khai của hàng xóm, những người quen biết vợ chồng
anh Cường.
4. CÂU HỎI SỐ 11: Giả sử, anh (chị) là luật sư cho bị đơn từ khi tòa án thụ lý vụ
án, anh (chị) cần tư vấn cho bị đơn đưa ra u cầu phản tố khơng? Nếu có, anh (chị)
hãy xác định cụ thể nội dung yêu cầu phản tố? Giải thích lý do vì sao?_1.5 điểm_Hồ
sơ tình huống LS.DS/06 B3.TH1_DA2/DS (VIẾT TẮT HS 06) TRANH CHẤP QUYỀN
SỬ DỤNG ĐẤT
TRẢ LỜI:
1. Là Luật sư bảo vệ cho Bị đơn từ khi tòa án thụ lý vụ án cần tư vấn cho Bị đơn
đưa ra yêu cầu phản tố.
1.1. Xác định cụ thể nội dung yêu cầu phản tố như sau:
1.1.1. Công nhận một phần hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất lập ngày 20/01/1994.
1.1.2. Yêu cầu Nguyên đơn trả lại tiền cho bà Tám.
1.1.3. Cơng nhận diện tích ao 289m2.
3. Căn cứ bảo vệ bà Tám:
3.1. Đối với yêu cầu công nhận 1 phần hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất được lập ngày 20/01/1994:
Thứ nhất, về hiệu lực pháp luật của hợp đồng chuyển nhượng ngày 20/01/1994:
Theo quy định tại Điểm 1.2 Mục II Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP của HĐTP
TANDTC ban hành ngày 10/08/2004 hướng dẫn: “Đối với trường hợp đất do người chết
để lại mà người đó có một trong các loại giấy quy định tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều 50
của Luật đất đai năm 2013, thì kể từ ngày 01/7/2004 quyền sử dụng đất đó cũng là di sản,
khơng phụ thuộc vào thời điểm mở thừa kế”.
Căn cứ theo quy định trên, bà Cúc mất ngày 29/8/1990 không để lại di chúc nên di
sản thừa kế sẽ được chia theo quy định pháp luật. Như vậy, tuy việc chuyển nhượng quyền
sử dụng đất đó vi phạm về hình thức nhưng tơi cho rằng nó vẫn được chấp nhận bởi các
như sau:
- Ơng Sinh có đủ điều kiện để chuyển nhượng phần tài sản mà mình được hưởng
trong khối di sản mà bà Chu Thị Cúc để lại.
- Căn cứ vào quy định tại Điều 25 Pháp lệnh về thừa kế năm 1990 thì những
người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Cúc là 04 người con gồm bà Chu Thị Thanh,
ông Chu Khắc Sinh, bà Chu Thị Loan và bà Chu Thị The sẽ được hưởng phần di sản
ngang nhau, tương ứng mỗi người sẽ được hưởng 1/4 di sản bà Cúc để lại là 01 thửa đất
diện tích 448 m2 trong đó (360m2 đất ở/128m2 đất vườn) tại thửa số 40, tờ bản đồ số 2
thôn 6, xã Phù Vân, Phủ Lý, Hà Nam.
8
- Với các căn cứ đã thấy rõ được việc ơng Sinh đồng ý bán là có thiệt Ơng sinh,
sự thật ông Sinh được hưởng 1/4 trên mảnh đất là 25%. Phần Diện tích 488 m2 (360m2
đất ở/128m2 đất vườn), ông Sinh được hưởng 1/4 trên tổng số (90m2 đất ở/32m2 đất vườn
tổng cộng ông sinh được hưởng là: 122m2 lẽ ra chỉ nhận cái giá tại thời điểm đó là
1.500.000 đồng lẽ ra ông Sinh chỉ nhận tiền thanh tốn là tương ứng với đất của ơng.
Nhưng bà Tám thanh toán vượt trội hơn 33,3% (1/3 của 1.500.000 đồng). Như vậy ông
Sinh đã kiện vượt quá định đoạt của mình là 75%. Nhận quá tiền của bà Tám, lẽ ra thanh
tốn chỉ là 25% thơi nhưng Bà Tám đã thanh toán dư là 8,3% rồi như vậy là quy ra số tiền
hiện tại (ông Sinh nhận dư của bà Tám) Ông Sinh chỉ được bán 25% nhưng trên thực tế
ơng đã đến 33,3 %.
Thứ hai, hình thức của hợp đồng chuyển nhượng được thể hiện qua ý chí các Bên:
- Các bên đã thực hiện xong cái nghĩa vụ đó của mình và bà Tám cũng đã nhận
đất và xây nhà.
- Trong quá trình Bà Tám xây nhà kiên cố đó thì phía Ngun Đơn khơng phản
đối gì, và cũng khơng bị xử phạt hành chính.
- Ơng Sinh ơng đã có ý trí là đã nhận tiền, có ý chí là bàn giao thửa đất cho bà
Tám.
- Ơng Sinh có thừa nhận đã nhận tiền là 500.000 đồng.
- Tại nội dung đơn chuyển quyền thừa kế thể hiện rất rõ nội dung: “Qua sự bàn
bạc và thống nhất với các chị em trong gia đình thì gia đình và bản thân khơng có hướng
trở về q nữa. Vậy nên nhất trí chuyển quyền thừa kế tồn bộ gia sản cho anh tôi là Chu
Khắc Thuyên – tên thường gọi là Kha, 73 tuổi và chị dâu là Đinh Thị Tám, 63 tuổi, làm
ruộng; trú quán tại thôn 6 xã Phù Vân, Kim Bảng, Hà Nam để thừa kế thường xun,
trơng nom hương khói thờ phụng tổ tiên cho phải đạo”.
- Việc ông Sinh đã nhận được 500.000 đồng tương ứng với 1/3 giá trị hợp đồng
chuyển nhượng mà hai bên đã thoả thuận là 1.500.000 đồng. Việc giao nhận tiền cũng
được các bên lập thành văn bản vào ngày 24/01/1994. Tồn bộ q trình này đều có ơng
Chu Khắc Chinh là trưởng tộc họ Chu Khắc làm chứng và ký xác nhận vào 02 văn bản
nêu trên cùng với việc ông Sinh thừa nhận đã nhận số tiền 500.000 đồng.
Thứ ba, giá trị số tiền đã đưa cho ông Sinh:
Trên cơ sở xác định ông Thuyên và bà Tám đã trả cho ông Sinh khoản tiền
500.000 đồng cho việc chuyển quyền thừa kế theo Giấy biên nhận có chữ ký của ông
Thuyên, ông Sinh và người làm chứng là ông Nguyễn Văn Độ (BL 52). Trong trường hợp
Tòa chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, không công nhận hiệu lực của Đơn chuyển quyền
thừa kế, thì đó là lỗi của ông Sinh do ông Sinh cung cấp các thông tin sai lệch cho bà
Tám, dẫn đến ký kết một hợp đồng vô hiệu. Việc bà Tám giao cho ông Sinh số tiền trên
đã gây ra thiệt hại lớn cho gia đình bà, bởi 500.000 đồng tại thời điểm ngày 24/01/1994
là một số tiền lớn, nếu bà Tám không mua đất của ơng Sinh thì Bà cũng mua được đất
9
của bà Nghi bên cạnh, thì bây giờ bà Tám đã có một thửa đất mà có giá trị sinh lời mấy
trăm triệu cho đến thời điểm này so với là hai mươi mấy năm hoặc ông Sinh nhận của bà
Tám 500.000 đồng ông lên Cao Bằng mua được một quả đồi to mà bây giờ ơng Sinh có
cái nguồn thu đến mấy chục triệu, rõ rằng ở đây không cơng bằng cho bà Tám, ý chí các
Bên xác lập 27 năm (kể từ năm 1994 đến thời điểm xét xử).
Từ những cơ sở pháp lý tơi đã phân tích, Bị đơn có sở đưa ra yêu cầu phản tố là
công nhận một phần hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hay đơn
chuyển quyền thừa kế được lập ngày 20/01/1994, cơng nhận diện tích 122m2 là của bà
Tám.
3.2. Yêu cầu Nguyên đơn trả lại tiền cho Bà Tám, trên cơ sở như sau:
3.2.1. Buộc ông Sinh trả lại cho bà Tám phần bà đã thanh toán dư là 8,3% tương
ứng với diện tích là: 36m2.
Phần Diện tích 488 m2 (360m2 đất ở/128m2 đất vườn), ơng Sinh được hưởng 1/4
trên tổng số (90m2 đất ở/ 32m2 đất vườn tổng cộng ông sinh được hưởng là: 122m2 lẽ ra
chỉ nhận cái giá tại thời điểm đó là 1.500.000 đồng lẽ ra ơng Sinh chỉ nhận tiền thanh tốn
là tương ứng với đất của ông. Nhưng bà Tám thanh toán vượt trội hơn 33,3% (1/3 của
1.500.000 đồng). Như vậy ông Sinh đã kiện vượt quá định đoạt của mình là 75%. Nhận
quá tiền của bà Tám, lẽ ra thanh tốn chỉ là 25% thơi nhưng Bà Tám đã thanh toán dư là
8,3% rồi như vậy là quy ra số tiền hiện tại (ông Sinh nhận dư của bà Tám) Ông Sinh chỉ
được bán 25% nhưng trên thực tế ông đã đến 33,3 %.
3.2.2. Buộc Nguyên đơn trả lại Công sức quản lý trông coi di sản trong trong
suốt 27 năm:
Trong suốt các năm từ 1994 – 2015, gia đình thân bà Tám đã bỏ công sức bảo vệ,
quản lý thửa đất và các tài sản trên đất như nhà cửa, cây cối, và thực hiện đầy đủ nghĩa
vụ thuế đối với thửa đất. Ngoài ra, do căn nhà cũ của bà Cúc đã sụp đổ, nên bà Tám đã
xây dựng một căn nhà khác trên thửa đất. Tất cả những việc trên đây giúp duy trì và thậm
chí tăng giá trị cho thửa đất, được thân chủ tôi thực hiện bằng tài sản của mình. Căn cứ
quy định trên đây, nguyên đơn đã được hưởng lợi từ những việc làm của thân chủ tơi, vì
vậy ngun đơn có nghĩa vụ hồn trả các chi phí liên quan cho thân chủ tơi.
3.2.3. Buộc Ngun đơn trả lại tiền chăm sóc bà Cúc, chi phí ma chay cho bà
Cúc:
Chăm sóc người để lại di sản, bỏ ra các chi phí lo ma chay cho cho bà Cúc. Đây
là nghĩa vụ đạo đức và cũng là nghĩa vụ pháp lý của con cái, tuy nhiên các con của bà
Cúc đã không thực hiện nghĩa vụ này. Thay vào đó, trong suốt thời gian bà Cúc còn sống
và cả khi bà Cúc mất, gia đình thân chủ tơi là những người đã tận tình chăm sóc bà Cúc,
và tổ chức mai táng khi bà Cúc qua đời, dù thân chủ tôi không được người thân thiết ruột
thịt của bà Cúc ủy quyền thực hiện các cơng việc đó. Vì vậy, căn cứ vào quy định trên,
ngun đơn có trách nhiệm thanh tốn cho bà Tám chi phí liên quan đến các khoản chi
10
và công sức mà bà Tám đã bỏ ra trong q trình chăm sóc, mai táng bà Cúc, có tính đến
có tính tỷ giá lạm phát tại thời điểm xét xử so với thời điểm năm 1990.
Các chi phí bỏ ra để lo ma chay, mua quan tài, thuê dịch vụ trống kèn,…khơng
thể cịn hóa đơn chứng từ, làm sao mà có được từ những năm 1990 đến nay. Bởi vì việc
đó là có thực và nó rất phù hợp với sự thật, cái sự thật đó thực sự khơng thể chối bỏ bởi
bà Tám đứng ra làm cái việc đó là có nhiều người biết, như vậy phải để cơng bằng cho bà
Tám xác định đây là tính trích chia cái cơng cho cho bà Tám mà cơng đó là có thật thì nó
cũng là quy phạm tùy nghi thơi.
Trên cơ sở pháp lý mà tơi đã phân tích, Bị đơn có sở đưa ra yêu cầu phản tố là
yêu cầu Nguyên đơn trả lại tiền cho bà Tám, là Luật sư bảo vệ bị đơn, tôi đề xuất tính ra
diện tích đất:
Trên cơ sở phần diện tích 122m2 phía Nguyên đơn buộc trả lại cho bà Tám. Trên
thực tế diện đất 122m2 khi nó tách thửa thì nó chưa có phù hợp với diện tích tách thửa tối
thiểu ở nơng thơn, và trên mặt thực tế thì căn nhà bà Tám xây dựng trên đất đó khơng thể
được tách thửa, khi nó tách 122m2 đất đó theo chiều dọc thì mặt tiền của thửa khi nó trải
dài như vậy thì khơng đường đi vơ căn nhà, trên vị trí đất chỉ có 100m2, như vậy khả năng
22m2 sẽ bị tháo dỡ. Bà Tám xây dựng căn nhà cấp 4 đó là 138m2 nó có bề ngang là 5m2
nếu thi hành án theo 122m2 đó thì khả năng sẽ phải đập bỏ bức tường nó rất khơng ổn và
khơng đẹp về địa thế căn nhà của bà Tám.
Đề nghị tịa án cơng nhận thêm 78m2 mới đủ diện tích 200m2 để tách thửa và đủ
không gian để ôm trọn cái căn nhà của bà Tám, để bà Tám có nhà để ở, không phải thi
hành án với bất cứ ai, khơng phải thảo dỡ căn nhà đó. Với phần diện tích thiếu 78m2 bà
Tám là hộ nghèo khơng có tiền để trả để mua thêm, trong khi đó bên Ngun đơn cịn
đang nợ bà Tám cái tiền cơng sức quản lý đối với phần di sản, cá nhân ông sinh còn đang
nợ bà Tám khoản vượt thừa là 8,3%, cịn đang nợ bà Tám khoản tiền chăm sóc chi phí
ma chay bỏ ra cơng sức chăm sóc người để lại di sản là bà Cúc.
Rõ ràng ở đây, công sức quản lý đối với bà Tám là rất quan trọng nếu khơng khả
năng bị thu hồi rồi, bởi vì đã không được sử dụng trong thời gian dài, không có người
đóng thuế, đất đai thì nên giao cho những người có nhu cầu sử dụng trực tiếp. Cho nên là
bà Tám đã trơng coi đất đó trên cơ sở ủy quyền trông coi nên là nhà nước không thu hồi
đất của bà Cúc để mà giao cho người khắc sử dụng trực tiếp. Nếu có việc thu hồi đó thì
ngày hơm nay ngun đơn khơng có cơ hội để mà địi nên việc trơng coi của bà Tám là
rất có ý nghĩa nó ảnh hưởng đến số phận pháp lý của thửa đất này.
Đề xuất phần diện tích đất như sau:
- Công sức quản lý di sản trong 27 năm như vậy nó là: 50.000.000 triệu là bao nhiêu:
20m đất
2
- 8,3 % đất thanh tốn thừa cho ơng Sinh phải trả quy đổi ra là: 36m2 đất
- Công sức chăm sóc người quản lý di sản là: 22m2 đất
11
Tổng diện tích đất: 78m2
Trên cơ sở trên, đề nghị Tòa án xem xét đến việc yêu cầu Nguyên đơn trả lại 78m2
đất cho bà Tám.
3.2.3. Cơng nhận diện tích ao 289m2 cho Bà Tám được sử dụng, trên cơ sở như
sau:
Theo Biên bản xác minh ngày 27/06/2017 tại (BL 102) đã được Đại diện UBND
xã Phù Vân đã xác minh rằng diện tích ao 289m2 là của UBND xã Phù Vân quản lý và
thuộc một phần của thửa đất số 100 và 110, tờ bản đồ số 03.
Trong hồ sơ gốc khơng có xác định người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Ủy
ban xã Phù Vân tham gia với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Diện
tích 289m2 có thể của bà Tám, cũng có thể của bà Cúc, cũng có thể của Ủy Ban Bà Tám
hồn tồn có thể xin cơng nhận phần diện tích này, bởi lẽ trong hồ sơ có nói rằng: “Ơng
trưởng thơn Ơng cũng có nói những năm 1960 thì cũng có thấy bố mẹ bà Tám sử dụng
mảnh đất đó rồi và đất đó là đất bị ông Vang ông chỉ nhầm thôi là của Uỷ Ban Xã”. Nơng
thơn có đất xen kẹt trong khu dân cư cũng không vi phạm quy hoạch, nếu như lấp ao này
làm sân bóng cho bon trẻ con, xây 1 cơng trình cơng cộng nhà văn hóa thơn,… khơng
biết như thế nào thì cũng rất là khó nên Ủy Ban Xã xét thấy được người nào có như cầu
sử dụng trực tiếp thì giao cho người đó nếu khơng nó vơ chủ khơng có người sử dụng như
vậy thì nó rất dễ là nơi chứa rác và là nơi gây ôi nhiễm mơi trường là lớn.
Cũng có căn cứ bà Tám cũng đã sử dụng trước đó, đất này cũng khơng thuộc đất
của bà Cúc, bà Tám cũng sử dụng lâu dài và diện tích 289m2 đất ao này khơng phải là đất
vi phạm quy hoạch thì cần xem xét đến đất này cho bà Tám trơng coi.
Từ những phân tích trên, là Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích cho bị đơn là bà Đinh
Thị Tám, cần tư vấn có u cầu phản tố để đảm bảo lẽ cơng bằng hợp pháp cho bà Đinh
Thị Tám, cần đưa thêm các chi tiết cần xác minh như sau:
- Cần thu cập chứng cứ về quy định tách thửa và nhu cầu sử dụng của bà Tám
trên mảnh đất ao.
- Đề nghị tòa xem xét thẩm định tại chỗ về cái việc bản vẽ nội nghiệp. Căn nhà
đó sẽ nằm trên vị trí tách biệt như thế nào khi mà cơng nhận hiệu lực 1 phần hiệu lực của
Hợp đồng.
5. CÂU HỎI SỐ 14: Là luật sư của nguyên đơn, anh (chị) cần thu thập hoặc đề
nghị Tòa án thu thập những chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho
khách hàng?_1.5 điểm_Hồ sơ tình huống LS.DS/06 B3.TH1_DA2/DS (VIẾT TẮT HS
06) TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
TRẢ LỜI:
12
STT
Các vấn đề Luật sư cần phải
chứng minh/Yêu cầu.
Các chứng cứ Luật sư cần thu thập,
giao nộp hoặc đề nghị Tòa án thu
thập.
1
Nhân thân của người khởi kiện: Bản sao y Chứng minh nhân dân hoặc
Chứng minh có đủ năng lực hành vi Căn cước công dân.
dân sự.
2
Nhân thân của người bị kiện và - Bản photo CNMD hoặc CCCD.
người có quyền và nghĩa vụ liên
- Thơng tin nêu trong CMND/CCCD,
quan.
thông tin về hộ khẩu thường trú, địa chỉ
tạm trú, số điện thoại liên lạc của
những người nêu trên.
3
Chứng minh phần diện tích đất
777m2 thuộc quyền sở hữu của ơng
Chu Khắc Trường (chết năm 1945);
bà Chu Thị Cúc (chết năm
28/09/1990) để lại và là di sản thừa kế
hợp pháp.
- Hồ sơ địa chính phần diện tích đất
777m2 tại UBND xã Phù Vân.
- Tờ Bản đồ số 3 năm 1990.
- Bản đồ hiện trạng 1998.
- Giấy xác nhận mảnh đất này thuộc
quyền sử dụng hợp pháp của ơng
Trường, bà Cúc có các ơng, bà hàng
xóm làm chứng ngày 06/06/2016.
- Giấy xác nhận ông Trường chết và
Giấy chứng tử của bà Cúc.
4
Chứng minh các bà Chu Thị Thanh, - Sổ hộ khẩu của hộ ông Trường và bà
ông Chu Khắc Sinh, bà Chu Thị Cúc.
Loan, bà Chu Thị The thuộc hàng
- Chứng minh nhân dân của Chu Thị
thừa kế thứ nhất.
Thanh, ông Chu Khắc Sinh, bà Chu
Thị Loan, bà Chu Thị The.
5
Chứng minh vụ việc đã được tiến - Biên bản họp gia đình ngày
hành hịa giải.
10/01/2007.
- Biên bản hợp gia đình ngày
05/6/2016.
- Biên bản hòa giải tranh chấp đất đai
ngày 19/6/2016.
- Báo cáo kết quả hòa giải tranh chấp
đất đai ngày 25/10/2016.
- Biên bản hòa giải ngày 25/20/2016.
13
6
Chứng minh việc chuyển giao quyền - Giấy chuyển quyền thừa kế ngày
thừa kế của ông Sinh cho vợ chồng 20/01/1994.
ơng Thun, bà Tám đã tạm đình chỉ.
- Thơng báo của UBND xã Phù Vân về
việc tạm đình chỉ việc chuyển quyền
thừa kế.
7
Chứng minh bà Tám chỉ được trông - Giấy giao quyền trông nom (BL 10).
nôm không được phép xây dựng nhà
- Biên bản hòa giải tranh chấp đất
trên phần diện tích 777m2.
đai ngày 19/6/2016.
8
Chứng minh bà Tám đã thu hoạch hoa
lợi trên đất từ năm 1994 đến năm
1999. Xác minh được 50% tổng giá
trị thu nhập cây lâu năm từ 15/4/1994
đến 15/4/1999 cụ thể là bao nhiêu.
Hoa lợi, lợi tức bà Tám thu lại được
mỗi năm là bao nhiêu.
9
Yêu cầu tháo dỡ nhà, tài sản khác của - Thơng báo tạm đình chỉ việc chuyển
bà Tám để trả lại đất là hợp pháp.
quyền sử dụng đất của UBND xã Phù
Vân ngày 10/04/1994.
Hóa đơn, giấy nhận tiền, thỏa thuận
mua bán giữa bà Đinh Thị Tám và bên
thứ 3 về việc mua bán hoa lợi, lợi tức
là sản vật phát sinh từ cây cối trên khu
đất trong vòng 05 năm.
- Biên bản giao đất ngày 15/04/1994.
- Đơn đề nghị Ủy ban nhân dân xã can
thiệp, giải quyết.
- Biên bản hòa giải của Ủy ban nhân
dân xã Phù Vân ngày 19/06/2012, ngày
25/10/2012 (BL 26, 27, 28).
10
Yêu cầu triệu tập bổ sung người có Cần có đơn Đề nghị tịa án triệu tập Đại
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
diện UBND xã Phù Vân tham gia với
tư cách là người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan.
II. CÂU HỎI BẮT BUỘC:
6. CÂU HỎI SỐ 16: Anh (chị) trình bày kết quả nghiên cứu hồ sơ về các vấn đề
nội dung và tố tụng của vụ án?_2.5 điểm_Hồ sơ tình huống LS.DS/06
B3.TH1_DA2/DS (VIẾT TẮT HS 06) TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
TRẢ LỜI:
A. Tóm tắt hồ sơ tình huống:
Ơng Chu Khắc Trường và bà Chu Thị Cúc sinh được 04 người con gồm: Chu Thị
Thanh, Chu Thị Loan, Chu Khắc Sinh, Chu Thị The cùng được sinh ra và lớn lên ở thôn
6 Phù Vân, Phủ Lý, Hà Nam. Vào năm 1945 thì cụ Trường mất, sau đó đến năm 1990 thì
14
cụ Cúc mất. Hai người không để lại di chúc cho là ngơi nhà cấp 4 lợp ngói đỏ 2 gian
tường trát đất với diện tích đất 777m2 tại Thửa đất số 40, tờ bản đồ số 02 được lập năm
1998, tại thôn 6, xã Phù Vân, huyện Phủ Lý (hiện nay là Thành phố Phủ Lý), tỉnh Hà
Nam. Thửa đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt
“GCNQSDĐ”), trên đất có các cây cối lâu năm: nhãn, dừa và một số cây khác.
Ngày 20/01/1994, ông Chu Văn Sinh làm “Đơn chuyển quyền thừa kế” với nội dung
đồng ý chuyển quyền thừa kế toàn bộ di sản của cụ Cúc để lại là mảnh đất, nhà trên đất
cùng ao và cây cối trong vườn từ ông Sinh sang ơng Chu Khắc Thun để trơng nom
hương khói, thờ phụng tổ tiên và sử dụng lâu dài. Việc chuyển quyền thừa kế này các anh
chị em khác của ông Sinh đều không biết. Vì vậy ngày 04/04/1994, bà Thanh và bà The
đã có đơn khiếu nại về vấn đề chuyển quyền thừa kế và được Ủy ban nhân dân (viết tắt
“UBND”) xã Phù Vân thụ lý, ra Thông báo số 05/TB-UB ngày 10/4/1994 “Về việc tạm
đình chỉ việc chuyển quyền thừa kế”. Ngày 15/04/1994, bà Thanh, ông Sinh, bà The và
bà Loan đã bàn bạc và thống nhất lập “Giấy giao quyền trông nom”, giao cho ông Thuyên
trông coi, quản lý nhà đất và thu hoạch cây cối hoa màu trên đất trong thời gian 05 năm
từ ngày 15/4/1994 đến 15/4/1999, với điều kiện nhà cửa tu sửa giữ để ở, không để dột
nát, không được làm nhà, khơng đào kht, hoa lợi, lợi tức trên đất có nghĩa vụ nộp thuế
với nhà nước, và được hưởng 50%, phần còn lại giao cho chị em bà Thanh. Văn bản này
được lập với sự có mặt của bà Thanh, ông Thuyên cùng với một số người trong họ hàng
chứng kiến, có sự xác nhận của chính quyền địa phương.
Đến năm 1999 thì ơng Thun qua đời, bà Tám tiếp tục trông nom và thu hoạch hoa
lợi trên đất. Từ 1990 đến 2016, gia đình bà Tám thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính, đóng
đầy đủ thuế nhà đất.
Vào tháng 5/2016, bà Tám đã xây dựng nhà cấp 4 trên thửa đất nêu trên mà không
thông báo cho bà Thanh, bà The, bà Loan và ông Sinh biết. Sau khi chị em bà Thanh biết
việc xây dựng này, đã yêu cầu bà Tám dừng lại nhưng bà Tám vẫn tiếp tục thực hiện nên
đã báo chính quyền địa phương để giải quyết. UBND xã Phù Vân đã tiến hành hịa giải
02 lần nhưng khơng thành.
Ngày 29/10/2016 và ngày 05/11/2016, bà Thanh, ông Sinh đã nộp đơn khởi kiện bà
Tám tại Tòa án nhân dân (viết tắt “TAND”) thành phố Phủ Lý, Hà Nam với các yêu cầu:
- Yêu cầu bà Đinh Thị Tám trả lại diện tích đất 777m2 tại thửa đất số 40, tờ bản
đồ số 02, lập năm 1998 tại thôn 6, xã Phù Vân, huyện Phủ Lý, tỉnh Hà Nam cho bà Chu
Thị Thanh, ông Chu Văn Sinh, bà Chu Thị Loan, bà Chu Thị The.
- Buộc bà Tám tháo dỡ nhà và các cơng trình đã xây dựng trái phép trên thửa đất.
- Yêu cầu bà Tám trả nhà, đất, cây cối trên Mảnh đất và hoa màu trên đất với 50%
tổng giá trị thu nhập cây lưu niên kể từ ngày 15/04/1994.
15
Sau 02 phiên hòa giải tại Tòa án ngày 27/2/2017 và 07/3/2017 không thành, ngày
03/08/2017, TAND thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam ban hành Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 65/2017/QĐST-DS.
B. Kết quả nghiên cứu hồ sơ về các vấn đề nội dung và tố tụng của vụ án:
1. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
1.1. Nhận xét yêu cầu khởi kiện:
Thứ nhất, yêu cầu bà Đinh Thị Tám trả lại diện tích đất 777m2 tại thửa đất số
40, tờ bản đồ số 02, lập năm 1998 tại thôn 6, xã Phù Vân, huyện Phủ Lý, tỉnh Hà Nam
cho bà Thanh, ông Sinh, bà Loan, bà The.
Nhận xét:
Nhận thấy rằng diện tích đất 777m2 trong đó 360m2 là đất thổ cư, 128m2 đất
thổ canh và 289m2 đất ao do UBND xã Phù Vân quản lý. Phần diện tích đất 289m2 đất ao
do UBND xã Phù Vân quản lý nên đưa vào u cầu khởi kiện vì khơng ảnh hưởng đến
án phí, nguyên đơn là người cao tuổi. Cần tư vấn cho nguyên đơn biết 289m2 đất này có
thể tịa án sẽ khơng chấp nhận. Tuy nhiên Luật sư sẽ làm hết sức mình để Tịa án chấp
nhận phần đất này của bà Cúc. Nếu khơng được Tịa án chấp nhận 289m2 này thì cũng
khơng ảnh hưởng đến quyền lợi của khách hàng. Nên tư vấn cho khách hàng địi tối đa
quyền lợi cho mình. Do đó, khơng cần thiết thay đổi lại yêu cầu khởi kiện.
Thứ hai, yêu cầu buộc bà Đinh Thị Tám phải trả nhà, đất, cây cối trên diện
tích đất 777m2 tại thửa đất số 40, tờ bản đồ số 2, lập năm 1998 của gia đình và hoa màu
trên đất với 50% tổng giá trị thu nhập cây lưu niên kể từ ngày 15/4/1994 đến 15/4/1999
theo giấy gửi UBND xã Phù Vân, Thành phố Phủ Lý, Hà Nam (năm 1994).
Nhận xét:
Nhận thấy rằng, nếu giữ nguyên yêu cầu trả căn nhà cũ của bà Cúc thì phải
chứng minh. Địi bằng hiện vật hay giá trị? Nếu là giá trị thì chứng minh căn nhà này giá
trị bao nhiêu, thước đo nào? Việc này có liên quan đến việc thi hành án hay khơng? Vì
vậy, khơng nên giữ lại u cầu khởi kiện này.
Thứ ba, yêu cầu bà Đinh Thị Tám phải tháo dỡ và di dời căn nhà xây dựng
trái phép trên phần diện tích đất 777m2, thuộc thửa 40, tờ bản đồ số 02, ấp 6, xã Phù Vân,
huyện Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
Nhận xét:
Trường hợp này, bà Tám cho rằng đất của mình nên đã xây nhà, nhà của bà
Cúc đã quá cũ, nên bà Tám xây dựng nhà để thờ cúng, mục đích xây dựng nhà của bà
Tám cũng rất nhân văn. Căn cứ vào lẽ phải và lẽ công bằng thì có thể Tịa án sẽ đứng về
phía Bà Tám. Một người hơn 80 tuổi phải tạo lập chỗ ở mới thì rất khó, và khó thi hành
án. Bản án khơng chỉ tồn tại trên giấy mà cịn thực tế thi hành án. Việc tháo dỡ căn nhà
mới xây sẽ tốn rất nhiều chi phí. Điều này cho thấy cần thiết điều chỉnh yêu cầu khởi kiện.
16
KẾT LUẬN:
Về tình, về lý nếu giữ lại yêu cầu khởi kiện Thứ hai và không điều chỉnh yêu
cầu khởi kiện Thứ ba thì ngun đơn có phần q khắc khe với một bà cụ trên 80 tuổi.
Bà Tám là người trong coi nhà cửa cho gia đình nguyên đơn và cũng là người chăm sóc
lúc cụ Cúc ốm đau và lo ma chay lúc cụ Cúc mất. Nếu buộc tháo dỡ căn nhà bà Tám mới
xây thì bà Tám vừa mất chỗ ở vừa chịu chi phí tháo dỡ. Mục đích cuối cùng của nguyên
đơn là chỉ muốn lấy lại mảnh đất của cha mẹ để lại và cũng mong muốn xây dựng một
căn nhà để thờ cúng ông bà, tổ tiên. Giả sử tòa án chấp nhận 3 yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn thì liệu sau này các nguyên đơn có về để sinh sống trên mảnh đất này được
hay không. Cách hành xử này không phù hợp với phong tục tập quán của ông bà ta từ xưa
đến nay. Như vậy sẽ làm mất đi tình làm nghĩa xóm, mất đi tình cảm anh chị em trong
gia đình, họ tộc.
1.2. Các tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là
có căn cứ:
- 01 tờ trình sự việc theo đơn đề nghị;
- 01 giấy chứng tử của bà Cúc (bản chính);
- 01 CMND của ông Sinh (bản photo);
- 01 CMND của bà Thanh (bản photo);
- 01 bản sơ yếu lý lịch của bà Thanh;
- 02 sổ hộ khẩu (bản sao);
- 01 giấy xác nhận;
- 01 thông báo UBND xã Phù vân ngày 10/04/1994 (bản photo);
- 01 biên bản họp gia đình ngày 10/01/2007 (bản sao);
- 01 biên bản họp gia đình ngày 05/06/2012 (bản sao);
- 01 giấy CNQSDĐ;
- 03 tờ giấy trích lục bản đồ thửa đất;
- 02 biên bản hoà giải UBND xã Phù Vân;
- 01 báo cáo của UBND xã Phù Vân.
2. Các vấn đề đã được thống nhất:
- Nguồn gốc đất là của cụ Cúc:
Thứ nhất, theo các biên bản lấy lời khai bà Chu Thị Thanh ngày 12/11/2016,
Bà Đinh Thị Tám ngày 21/11/2016, bà Chu Thị Loan, bà Chu Thị The ngày 26/11/2016,
phần diện tích đất 777m2 thuộc quyền sở hữu của ông Chu Khắc Trường (chết năm 1945)
và bà Chu Thị Cúc (chết năm 28/09/1990) để lại. Ngồi ra, hồ sơ địa chính từ trước đến
nay do bà Chu Thị Cúc đứng tên.
17
Sau khi cụ Trường và cụ Cúc mất, không để lại di chúc thì phần đất trên được
xác định là di sản thừa kế theo quy định tại Tiểu mục 1.2, Mục 1, Phần II Nghị quyết
số 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: “1.2. Đối với
trường hợp đất do người chết để lại mà người đó có một trong các loại giấy quy định tại
các Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003, thì kể từ ngày 01/7/2004 quyền
sử dụng đất đó cũng là di sản, khơng phụ thuộc vào thời điểm mở thừa kế” và được chia
theo quy định pháp luật.
Căn cứ Phần I, III của Thông tư 81/TANDTC năm 1981 hướng dẫn các tranh
chấp về thừa kế: “(1). Pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của cơng dân theo Hiến
pháp năm 1980. Cơng dân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình sau khi
chết (thừa kế theo di chúc) nếu khơng có di chúc thì thừa kế theo luật. (2). Hàng thừa kế
thứ nhất gồm: Vợ góa (vợ cả góa, vợ lẽ góa) hoặc chồng góa, các con đẻ và con nuôi; bố
đẻ, mẹ đẻ hoặc bố nuôi, mẹ nuôi”, bà Chu Thị Thanh, ông Chu Khắc Sinh, bà Chu Thị
Loan, bà Chu Thị The thuộc hàng thừa kế thứ nhất được nhận các phần thừa kế bằng
nhau.
Thứ hai, ngày 20/01/1994, ông Chu Khắc Sinh đã tự ý lập giấy chuyển quyền
thừa kế nhà đất nêu trên cho ông Chu Khắc Thuyên (vợ là bà Đinh Thị Tám) vào. Khi
biết việc này, bà Chu Thị Thanh và bà Chu Thị The có làm đơn khiếu nại gửi đến UBND
xã Phù Vân yêu cầu đình chỉ việc chuyển quyền thừa kế do ông Chu Khắc Sinh đã tự ý
chuyển quyền thừa kế mà khơng có sự đồng ý của các chị em còn lại. Đơn chuyển quyền
thừa kế ngày 27/1/1994 đã được đình chỉ bởi thơng báo về việc tạm đình chỉ việc chuyển
quyền thừa kế số 05/TB-UB ngày 10/04/1994 của UBND xã Phù Vân. Như vậy, đơn
chuyển quyền thừa kế 27/1/1994 khơng cịn giá trị.
Sau đó, do khơng có điều kiện quản lý, trông nom phần di sản thừa kế nên bà
Thanh, bà Loan và bà The đã lập giấy giao quyền trông nom nhà đất nêu trên cho ông
Chu Khắc Thuyên vào ngày 15/5/1994. Ông Thuyên được hưởng 50% hoa lợi thu được
trên đất. Căn cứ vào quy định tại Điều 1, Điều 2 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991
của Hội đồng Nhà nước quy định: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về
việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê,
mượn, tặng cho tài sản; làm hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các bên có thỏa thuận
khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng”; “Hợp
đồng dân sự được giao kết hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng, khơng trái pháp luật và đạo
đức xã hội”. Như vậy, giấy giao quyền trông nom nhà, đất ngày 15/4/1994 hoàn toàn xuất
phát từ sự tự nguyện giữa hai bên, không trái đạo đức, không trái quy định pháp luật và
có xác nhận của Trưởng thơn ơng Chu Hải ng và UBND xã Phù Vân cùng tồn thể nội
ngoại hai bên gia đình thân chủ tơi và ông Chu Khắc Thuyên làm chứng, do đó hợp đồng
này có hiệu lực pháp luật.
- Những người thừa kế gồm 04 người con. Không tranh chấp diện thừa kế, không
tranh chấp thời điểm mở thừa kế.
18
3. Các vấn đề chưa được thống nhất:
- Xây dựng nhà trái phép: Nguyên đơn cho rằng bà Tám đang xây dựng nhà
trái phép trên đất của bà Cúc. Nguyên đơn đã báo cáo sự việc lên UBND xã Phù Vân
nhưng bà Tám vẫn cố tình xây dựng nhà. Trong khi đó bà Tám cho rằng bà đang xây
dựng nhà hợp pháp trên đất của mình vì bà đã nhận chuyển nhượng từ ông Sinh.
- Chuyển quyền thừa kế: về số tiền 500.000 đồng thì ơng Sinh cho rằng đây
chỉ là khoản tiền hỗ trợ của người anh họ đối với người em. Trong khi bà Tám cho rằng
đây là số tiền vợ chồng bà Tám đã trả cho ông Sinh để chuyển quyền sử dụng đất.
- Giấy giao quyền trong nom: Nguyên đơn cho rằng có thỏa thuận việc trong
nôm cho ông Thuyên. Trong khi bà Tám không thừa nhận có việc giao quyền trong nom
cho ơng Thun.
- Việc đóng thuế cho nhà nước.
4. Quan hệ pháp luật tranh chấp:
Theo bản đồ địa chính lập năm 1998 thì phần đất tranh chấp là của bà Cúc. Bà
Tám cho rằng ông Sinh đã chuyển quyền thừa kế cho vợ chồng bà, chồng bà là ông
Thuyên đã mất nên đất này là của bà Tám. Bà Thanh, bà Loan, ông Sinh, bà The cho rằng
đây là tài sản của mẹ họ để lại và họ là những người thừa kế theo pháp luật nên đất này
là của họ.
Vì vậy để trả lời cho câu hỏi “Ai có quyền sử dụng đất” thì đó là “tranh chấp về
quyền sử dụng đất”.
5. Xác định tư cách đương sự: (Căn cứ khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 68 BLTTDS
2015)
5.1. Nguyên đơn:
Người thứ nhất: Bà CHU THỊ HỒNG THANH (tên khác là Chu Thị Thanh,
sinh năm 1930):
- Địa chỉ: Số nhà 12, Tổ 16, phường Nam Thanh, TP.Điện Biên Phủ, tỉnh Điện
Biên.
- Người đại diện theo ủy quyền: bà CHU THỊ HỒNG TÂM (sinh năm 1970 Số nhà 61, tổ 16, phường Nam Thanh, TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên).
Người thứ hai: Ông CHU VĂN SINH (sinh năm 1936):
- Địa chỉ: Thôn Vạn Thắng, xã Hòa Thắng, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
5.2. Bị đơn:
Bà ĐINH THỊ TÁM (sinh năm 1930):
- Địa chỉ: thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
19
5.3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Người thứ nhất: Bà CHU THỊ LOAN (sinh năm 1935):
- Địa chỉ: tổ 3, phường Cầu Thía, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái.
- Người đại diện theo ủy quyền: ông CHU ANH QUYẾT (sinh năm 1952 Thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam).
Người thứ hai: Bà CHU THỊ THE (sinh năm 1944):
- Địa chỉ: Đội 1 thơng Diên Điền, xã Bình Hịa, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam
Định.
- Người đại diện theo ủy quyền: ông CHU ANH QUYẾT (sinh năm 1952 Thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam).
Người thứ ba: Ông CHU KHẮC HỒNG (sinh năm 1956):
- Địa chỉ: thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
Người thứ tư: Bà TRẦN THỊ ĐẮC (sinh năm 1957):
- Địa chỉ: thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
Người thứ năm: Bà CHU THỊ MAI (sinh năm 1952):
- Địa chỉ: thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
TAND Thành phố Phủ Lý đã triệu tập thiếu người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan UBND xã Phù Vân vì phần diện tích 289m2 đất ao do UBND xã Phù
Vân quản lý.
6. Quyền khởi kiện:
Nguyên đơn bà Chu Thị Thanh (sinh năm 1930) và ông Chu Văn Sinh (sinh năm
1936) đều có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
Theo bản đồ địa chính lập năm 1998 thì phần đất tranh chấp là của bà Cúc mất
để lại. Bà Cúc mất không để lại di chúc cho nên các con bà là ông Sinh, bà Thanh, bà
The, bà Loan là người thừa kế theo pháp luật. Ơng Sinh chuyển quyền thừa kế cho ơng
Thun không được sự đồng ý của các đồng thừa kế còn lại là bà Thanh, bà Loan, bà The
nên việc chuyển quyền này đã bị đình chỉ bởi UBND xã Phù Vân. Sau đó, các đồng thừa
kế cùng giao quyền trông nom di sản cho ông Thuyên mà không phải là chuyển quyền sở
hữu quyền sử dụng. Do đó, phần di sản này vẫn thuộc quyền sở hữu của các chị em
nguyên đơn. Tuy nhiên, bà Tám cho rằng ông Sinh đã chuyển quyền thừa kế cho vợ chồng
bà, chồng bà là ông Thuyên đã mất nên đất này là của bà và xây nhà trên đất bất chấp sự
ngăn cản của bà Thanh và can thiệp của chính quyền địa phương. Việc chiếm hữu quyền
sử dụng đất và xây nhà của bà Tám là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích của
ngun đơn. Do đó, ngun đơn khởi kiện bà Tám là hồn tồn có căn cứ và hợp pháp.
20
7. Thời hiệu khởi kiện:
Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 184 BLTTDS 2015 dẫn chiếu Khoản 3
Điều 155 BLDS 2015 thì tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của luật đất đai
thì khơng áp dụng thời hiệu khởi kiện. Vì vậy yêu cầu này thỏa điều kiện về thời hiệu.
8. Thẩm quyền của Tòa án:
- Theo Khoản 9 Điều 26 BLTTDS 2015 thì tranh chấp đất đai cụ thể là tranh chấp
về quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
- Về thẩm quyền theo Cấp thì đây là vụ án tranh chấp về quyền sử dụng đất theo
Điểm a Khoản 1, Khoản 3 Điều 35 BLTTDS 2015 thì vụ án này thuộc thẩm quyền giải
quyết của tòa án nhân dân cấp huyện.
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án theo lãnh thổ thì theo Điểm c Khoản 1 Điều 39
BLTTDS 2015 là Tịa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.
Vì vậy, TAND thành phố Phủ Lý là tịa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp
trên đúng theo quy định của pháp luật.
9. Thủ tục tiền tố tụng:
Thời điểm xảy ra tranh chấp đất là năm 2016 nên trình tự thủ tục giải quyết sẽ
được áp dụng BLTTDS 2015 và Luật đất đai 2013 (viết tắt “LĐĐ 2013”). Cụ thể, căn cứ
Điều 202 LĐĐ 2013 và Điều 3 Nghị quyết 01/2017/NQ/HĐTP: “Đối với tranh chấp ai là
người có quyền sử dụng đất mà chưa được hịa giải tại UBND xã, phường, thị trấn nơi có
đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202 LĐĐ 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều
kiện khởi kiện quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015.”
Trong vụ tranh chấp này, Nguyên đơn và Bị đơn đã được giải quyết thơng qua
thủ tục hịa giải cơ sở là UBND xã Phù Vân. Cụ thể, UBND đã tổ chức hòa giải 02 lần
vào ngày 19/6/2016 và 25/10/2016 nhưng khơng thành. Từ đó, Ngun đơn có đủ điều
kiện để khởi kiện lên TAND thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.