ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CƠNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 3(88).2015
95
NGHIÊN CỨU ĐỘC TÍNH CẤP CÁC SẢN PHẨM GIẢM CÂN
CỦA AXIT HYDROXYCITRIC
A STUDY OF TOXICITY OF WEIGHT LOSING SUPPLEMENTS CONTAINING
HYDROXYCITRIC ACID
Đào Hùng Cường1, Phan Thảo Thơ1, Vũ Thị Hạnh Yến2
1
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng;
2
Viện Kiểm nghiệm Thuốc Trung ương
Tóm tắt - Dịch chiết từ lá, vỏ quả bứa tròn Việt Nam và các muối
của nó là những hợp chất khơng gây hại đến sức khỏe con người.
Với HCA, liều không gây chết chuột là 5,0 ml/kg chuột và có giá trị
LD50 = 10,81 ml/kg chuột. Với HCCa, tất cả các liều thử nghiệm
đều khơng gây chết chuột và có giá trị LD0= 20,0 g/kg chuột.Với
HCK, liều không gây chết chuột là 5,0g/ kg chuột và có giá trị LD50
= 8,66 g/kg chuột ml/kg chuột. Với HCMg, liều không gây chết
chuột là 15,0g / kg chuột và có giá trị LD50 = 26,20 g/kg chuột. Theo
phân loại độc tính của GHS, những hợp chất có giá trị độc tính cấp
LD50 > 5000 mg/kg chuột theo đường uống được coi là chất không
độc. Như vậy, dựa trên kết quả thu được của thử nghiệm có thể
kết luận tất cả 4 mẫu thử đều không độc.
Abstract - The extract from the leaves of the Vietnam round
hammer pod and its salts are compounds that are not harmful to
human health. Specifically, rats are safe with a HCA dose of 5.0
ml/kg weight and an effective specimen is LD50 of 10,81 ml/kg
weight. All of HCCa doses are not harmful to rats and an effective
specimen is LD0 of 20,0 g/kg weight. Allowable doses are in HCK
and HCMg of 5.0 g/kg weight, 15,0 g/kg weight and their effective
specimens are LD50 of 8.66 g/kg weight, 26.20 g/kg weight
respectively. According to GHS’s conventional classification for
whether a substance is toxic or not, a substance is assigned to a
non-toxic one if its LD50 is higher than 5000 mg/kg weight in oral
route. The results show that all of our research samples are nontoxic because they are in GHS’s allowable band.
Từ khóa - bứa lá tròn; HCA; HCK; HCCa; HCMg.
Key words - garcinia oblongifolia; HCA; HCK; HCCa; HCMg.
1. Mở đầu
Theo nghiên cứu mới nhất của Viện tồn cầu McKinsey
(MGI) có gần 1/3 dân số thế giới hiện đang bị thừa cân
hoặc béo phì và đã tiêu tốn 2.000 tỉ USD/năm đối với nền
kinh tế thế giới. Chi phí dành cho béo phì bao gồm phí
chăm sóc y tế, các khoản chi để giảm thiểu tác động và mất
năng suất lao động. Đặc biệt là ở các nền kinh tế phát triển
nhất, béo phì nằm trong nhóm 3 gánh nặng kinh tế hàng
đầu do con người tạo ra, sau thuốc lá và xung đột vũ trang.
Tác động kinh tế tồn cầu của bệnh béo phì ngày càng gia
tăng đang khiến cho chính phủ nhiều nước đau đầu để đưa
ra các biện pháp ứng phó, cũng như các chính sách có thể
mang lại hiệu quả. Một trong những giải pháp mà hiện nay
đang được đại đa số những ngưới bị bệnh béo phì đang ưa
thích đó là sử dụng thực phẩm chức năng giảm cân, đặc
biệt là các sản phẩm axit hydroxycitric (HCA) và các muối
của nó như canxi hydroxycitrat (HCCa), kali hydroxycitrat
(HCK), magie hydroxycitrat (HCMg). Hiệu quả giảm cân
của các sản phẩm này đã được chứng minh bởi tác dụng
làm tăng nồng độ serotonin, giảm sự tích tụ mỡ thừa và
giảm cảm giác thèm ăn [2].
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã chiết xuất HCA từ
lá, vỏ quả bứa, nguồn nguyên liệu dồi dào có gần như ở
mọi miền của đất nước ta và thực hiện sự chuyển hóa HCA
thành các muối kim loại Me (nhóm 1 hoặc nhóm 2) theo
phản ứng [3]:
nên để có cơ sở khoa học cho việc ứng dụng vào sản xuất
các sản phẩm thực phẩm chức năng giảm cân cần phải thử
độc tính sinh học.
Đây là nhóm hoạt chất giảm cân được tạo ra lần đầu
tiên từ nguồn nguyên liệu lá, vỏ quả bứa tròn ở Việt Nam,
2. Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1. Nguyên liệu
HCA: Chất lỏng màu vàng nhạt; HCK: Bột màu vàng
nâu; HCCa: Bột màu trắng; HCMg: Bột màu be
2.2. Đợng vật thí nghiệm
Lồi chuột nhắt trắng giống Swiss; cân nặng: 18-20g; Số
lượng: 80 con; nguồn gốc cung cấp: Viện Vệ sinh Dịch tễ
Trung ương; điều kiện chăm sóc: động vật thí nghiệm
(ĐVTN) được ni trong điều kiện chuồng thoáng mát, đảm
bảo vệ sinh, chế độ ăn uống theo nhu cầu của chuột; cân
nặng: Tất cả ĐVTN được để ổn định trước khi tiến hành thử
nghiệm và theo dõi cân nặng khi tiến hành thử nghiệm.
2.3. Phương pháp xác định độc tính cấp
Cho từng lô chuột nhắt trắng uống chế phẩm thử với
liều tăng dần. Thể tích cho uống là 0,2 – 0,4 ml/10 g chuột;
Theo dõi tình trạng chung của động vật thực nghiệm và tỷ
lệ chết trong 72 giờ. Xác định LD 50 (nếu có) theo phương
pháp Litchfield – Wilcoxon [4], [5].
2.3.1. Thử sơ bộ
Pha loãng dịch chiết gốc với nước cất thành các dung
dịch có độ pha lỗng cách xa nhau để thử sơ bộ. Thử
nghiệm thăm dị ở mức liều khơng làm chết chuột thí
nghiệm. Tử nghiệm thăm dị mức liều làm chết 100% số
chuột thí nghiệm.
2.3.2. Thử nghiệm chính thức
Thử nghiệm với 5 mức liều khác nhau trong khoảng từ
LD0 đến LD100
Đào Hùng Cường, Phan Thảo Thơ, Vũ Thị Hạnh Yến
96
2.3.3. Cách tiến hành thử nghiệm
Cho chuột được nhịn ăn 15 giờ trước khi thí nghiệm,
nước uống theo nhu cầu. Kiểm tra cân nặng trước khi thử
nghiệm. Chuột đạt các yêu cầu về cân nặng được đưa vào
thử nghiệm. Lấy thể tích mẫu thử theo quy định đưa thẳng
vào dạ dày chuột bằng kim cong đầu tù. Dựa trên kết quả
thăm dị trong thử nghiệm sơ bộ, tiến hành thử nghiệm
chính thức trên 50 chuột, chia thành 5 nhóm, mỡi nhóm
được cho uống 1 mức liều. Theo dõi biểu hiện của chuột
sau khi uống trong 24 giờ đầu và theo dõi hoạt động của
ĐVTN trong thời gian 7 ngày sau khi uống.
2.3.4. Tính kết quả
- Tính LD50 theo Behrens
(50 − 𝑎) × 𝑑
𝐿𝐷50 = 𝐴 +
(1)
𝑏−𝑎
Trong đó:
A - Liều gây chết a% ĐVTN;
a - % ĐVTN chết sát dưới 50% sao cho a < 50%;
b - % ĐVTN chết sát trên 50% sao cho b >50%;
d - khoảng cách giữa các liều (ml).
3. Kết quả nghiên cứu và bàn luận
3.1. Kêt quả nghiên cứu đợc tính cấp của HCA
3.1.1. Thử nghiệm sơ bộ
- Mức liều không làm chết chuột: Cho 10 chuột uống
dung dịch mẫu thử HCA với mỗi chuột mức liều 5,0 ml
mẫu thử/kg chuột. Sau 24 giờ theo dõi khơng có chuột thí
nghiệm bị chết.
- Mức liều làm 100% chết chuột: Cho 10 chuột uống
dung dịch mẫu thử HCA với mỗi chuột mức liều 15,0 ml
mẫu thử/kg chuột. Sau 24 giờ theo dõi 100% chuột thí
nghiệm bị chết.
3.1.2. Thử nghiệm chính thức
a. Các mức liều thử nghiệm
Mức liều 1: 5,0 ml mẫu thử/kg chuột; mức liều 2: 7,5
ml mẫu thử/kg chuột; mức liều 3: 10,0 ml mẫu thử/kg
chuột; mức liều 4: 12,5 ml mẫu thử/kg chuột; mức liều 5:
15,0 ml mẫu thử/kg chuột. Thực nghiêm theo dõi trong 24
giờ về biểu hiện và trong 7 ngày về hoạt động của chuột
sau khi uống đã thu được các kết quả sau:
b. Tiêu thụ thức ăn và uống của chuột
Sau khi uống dung dịch thử ở mức liều 1 không nhận
thấy biểu hiện ngộ độc, chuột ăn uống, hoạt động bình
thường. Ở mức liều 2, 3, 4 và 5 chuột có biểu hiện giảm
hoạt động, giảm tiêu thụ thức ăn và nước uống trong thời
gian theo dõi so với nhóm chứng. Chuột chết trong khoảng
thời gian từ 2 đến 24 giờ sau khi uống dung dịch thử.
c. Quan sát dấu hiệu ngộ độc
Ở mức liều 2, 3, 4 và 5, sau khi uống dung dịch thử,
chuột có biểu hiện mệt mỏi, giảm hoạt động, nằm mệt, tốt
mồ hơi. Chuột chết trong khoảng thời gian từ 2 đến 24 giờ
theo dõi. Số chuột khơng chết ở các mức liều trên có biểu
hiện giảm hoạt động, mệt mỏi trong thời gian theo dõi so
với nhóm chứng.
Chuột ở mức liều 1 khơng nhận thấy có biểu hiện ngộ độc.
d. Theo dõi tỷ lệ chết/sống
Kết quả theo dõi tỷ lệ chuột chết/ sống khi được uống
dung dịch thử ở các mức liều thử nghiệm được thể hiện trên
Bảng1.
Bảng 1. Tỷ lệ chuột chết/sống ở các mức liều thử nghiệm
Mức
liều
1
2
3
4
5
Liều thử
(ml mẫu
thử/kg chuột)
5,0
7,5
10,0
12,5
15,0
Số chuột
chết/ sống
thực tế
0/10
1/9
4/6
7/3
10/0
Số chuột
chết/ sống
kỳ vọng
0/28
1/18
5/9
12/3
22/0
% chết
0
5,26
35,71
80,0
100
e. Tính LD50 theo Behrens
Thay các giá trị từ Bảng 1:
a = 35,71%; b = 80,0%; A = 10,0 ml mẫu thử/ kg chuột;
d = 2,5 ml mẫu thử/ kg chuột vào cơng thức (1) sẽ tính được
LD50 theo Behrens:
(50 - 30, 71)* 2,5
LD50 10, 0
10,806
80, 0 - 30, 71
Kết quả nghiên cứu độc tính cấp của HCA cho thấy sau
khi cho chuột uống thuốc, ở mức liều thấp (5,0 ml/kg
chuột) không nhận thấy có biểu hiện ngộ độc, ở mức liều
trong khoảng từ 7,5 ml đến 15,0 ml mẫu thử/ kg chuột,
chuột có biểu hiện mệt mỏi, giảm hoạt động, nằm mệt, toát
mồ hôi. Chuột bị chết trong khoảng thời gian 2 giờ đến 24
giờ theo dõi và tỷ lệ chết tùy theo mức liều uống. Liều
không gây chết chuột là 5,0 ml mẫu thử/ kg chuột.
LD50 = 10,81 ml mẫu thử/ kg chuột. Theo phân loại độc
tính của GHS có thể kết luận mẫu thử HCA không độc [1].
3.2. Kết quả nghiên cứu đợc tính cấp của HCCa
3.2.1. Thử nghiệm sơ bộ
Cho mỡi nhóm 3 chuột uống dung dịch HCCa với các
nồng độ tương ứng và theo dõi số chuột bị chết trong 24
giờ sau khi uống. Kết quả thử nghiệm được thể hiện trên
Bảng 2.
Bảng 2. Số chuột bị chết sau thử nghiệm sơ bộ
Số
Nhóm chuột
thử
Nồng độ
HCCa
(mg/ml)
Thể tích uống Liều tương
Số
(ml dung
ứng
chuột
dịch/ 20 g thể (g HCCa/kg
chết
trọng)
thể trọng)
1
3
4,0
0,5
0,1
0
2
3
40,0
0,5
1,0
0
3
3
80,0
0,5
2,0
0
4
3
200,0
0,5
5,0
0
5
3
400,0
0,5
10,0
0
3.2.2. Thử nghiệm chính thức
a. Các mức liều HCCa thử nghiệm
Mức liều 1: nồng độ 400,0 mg/ml; mức liều 2: nồng độ
500,0 mg/ml; mức liều 3: nồng độ 600,0 mg/ml; Mức liều
4: nồng độ 700,0 mg/ml; mức liều 5: nồng độ 800,0 mg/ml.
Kết quả theo dõi tỷ lệ chuột chết/sống trong 7 ngày khi
được uống dung dịch thử ở các mức liều thử nghiệm được
trình bày trên Bảng 3.
ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CƠNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 3(88).2015
Bảng 3. Tỷ lệ chuột chết/sống ở các mức liều thử nghiệm
Nhóm
1
2
3
4
5
Thể tích uống Liều tương
Nồng độ
Số
Số
(ml dung dịch/
ứng (g
chuột HCCa
chuột
100 g thể
HCCa/kg
thử (mg/ml)
chết
trọng)
thể trọng)
10
400
2,5
10,0
0
10
500
2,5
12,5
0
10
600
2,5
15,0
0
10
700
2,5
17,5
0
10
800
2,5
20,0
0
Kết quả thử nghiệm trên Bảng 3 cho thấy ở tất cả các
nồng độ thử nghiệm, khơng có chuột bị chết, tất cả các
chuột khơng có biểu hiện gì bất thường, suy ra LD0 của
mẫu HCCa thử nghiệm = 20,0 g/kg chuột. Không xác định
được LD50 của mẫu HCCa thử nghiệm trong giới hạn liều
thử nghiệm hay LD50 của mẫu HCCa thử nghiệm
> 20,0 g/kg chuột. Như vậy, mẫu canxi hydroxycitrat thử
nghiệm có độ an tồn cao.
3.3. Kết quả nghiên cứu đợc tính cấp của HCK
3.3.1. Thử nghiệm sơ bộ
Cho mỡi nhóm 3 chuột uống dung dịch HCK với các
nồng độ tương ứng và theo dõi số chuột bị chết trong 24
giờ sau khi uống. Kết quả thử nghiệm được thể hiện trên
Bảng 4.
Bảng 4. Số chuột bị chết sau thử nghiệm sơ bộ
Nhóm
Số
chuột
thử
1
2
3
4
5
3
3
3
3
3
Liều tương
Nồng độ Thể tích uống
Số
ứng (g
HCK (ml dung dịch/
chuột
HCK/kg
(mg/ml) 20g thể trọng)
chết
thể trọng)
4,0
0,5
0,1
0
40,0
0,5
1,0
0
80,0
0,5
2,0
0
200,0
0,5
5,0
0
400,0
0,5
10,0
2
3.3.2. Thử nghiệm chính thức
a. Các mức liều HCK thử nghiệm
Mức liều 1: nồng độ 200,0 mg/ml; mức liều 2: nồng độ
270,0 mg/ml; mức liều 3: nồng độ 340,0 mg/ml; mức liều
4: nồng độ 410,0 mg/ml; mức liều 5: nồng độ 480,0 mg/ml.
Thực nghiệm theo dõi trong 7 ngày về hoạt động của
chuột sau khi uống đã thu được các kết quả sau:
b. Tiêu thụ thức ăn và uống của chuột
Sau khi uống dung dich thử ở mức liều 1 không nhận
thấy biểu hiện ngộ độc, chuột ăn uống, hoạt động bình
thường. Ở mức liều 2, 3, 4 và 5, chuột có biểu hiện giảm
hoạt động, giảm tiêu thụ thức ăn và nước uống trong thời
gian theo dõi so với nhóm chứng. Chuột chết trong khoảng
thời gian từ 2 đến 24 giờ sau khi uống dung dịch thử.
c. Quan sát dấu hiệu ngộ độc
Ở mức liều 2, 3, 4 và 5, sau khi uống dung dịch thử,
chuột có biểu hiện mệt mỏi, giảm hoạt động, nằm mệt, tốt
mồ hơi. Chuột chết trong khoảng thời gian từ 2 đến 24 giờ
theo dõi. Số chuột không chết ở các mức liều trên có biểu
hiện giảm hoạt động, mệt mỏi trong thời gian theo dõi so
với nhóm chứng. Chuột ở mức liều 1 khơng nhận thấy có
biểu hiện ngộ độc.
97
d. Theo dõi tỷ lệ chết/sống
Kết quả theo dõi tỷ lệ chuột chết/ sống khi được uống
dung dịch thử ở các mức liều thử nghiệm được trình bày
trên Bảng 5.
Bảng 5. Tỷ lệ chuột chết/sống ở các mức liều thử nghiệm
Nhóm
Số
chuột
thử
Nhóm 1
Nhóm 2
Nhóm 3
Nhóm 4
Nhóm 5
10
10
10
10
10
Liều tương
Số chuột Số chuột
ứng (g
chết/sống chết/sống
HCK/kg
thực tế
kỳ vọng
thể trọng)
5,0
0/10
0/26
6,75
2/8
2/16
8,5
5/5
7/8
10,25
7/3
14/3
12,0
10/0
24/0
Tỷ lệ
chết
(%)
0
11,1
46,67
82,35
100
e. Tính LD50 theo Behrens
Thay các giá trị từ Bảng 5:
a = 46,67%,
b = 82,35%
A = 8,5 mg/ kg chuột,
d = 1,75 g/ kg chuột
vào cơng thức (1) sẽ tính được LD50 theo Behrens:
(50 - 46, 67) *1, 75
LD50 8, 5
8, 663
82, 35 - 46, 6
Kết quả nghiên cứu độc tính cấp của HCK cho thấy sau
khi cho chuột uống thuốc, ở mức liều 2, 3, 4 và 5 chuột có
biểu hiện mệt mỏi, giảm hoạt động, nằm mệt, toát mồ hôi.
Chuột chết trong khoảng thời gian từ 2 đến 24 giờ theo dõi.
Số chuột không chết ở các mức liều trên có biểu hiện giảm
hoạt động, mệt mỏi trong thời gian theo dõi so với nhóm
chứng. LD50 của mẫu HCK nghiên cứu là 8,663 g/kg chuột.
Theo phân loại độc tính của GHS có thể kết luận mẫu thử
kali hydroxycitrat có độ an tồn cao [1].
3.4. Kêt quả nghiên cứu đợc tính cấp của HCMg
3.4.1. Thử nghiệm sơ bộ
Cho mỡi nhóm 5 chuột uống dung dịch HCMg với các
nồng độ tương ứng và theo dõi số chuột bị chết trong 24
giờ sau khi uống. Kết quả thử nghiệm được thể hiện trên
Bảng 6.
Bảng 6. Số chuột bị chết sau thử nghiệm sơ bộ HCMg
Nhóm
Số
chuột
thử
1
2
3
4
5
5
5
5
5
5
Liều tương
Nồng độ Thể tích uống
ứng (g
HCMg (ml dung dịch/
HCMg/kg
(mg/ml) 20 g thể trọng)
thể trọng)
200
0,5
5,0
400
0,5
10,0
600
0,5
15,0
800
0,5
20,0
1400
0,5
35,0
Số
chuột
chết
0
0
0
1
3
3.4.2. Thử nghiệm chính thức
a. Các mức liều HCK thử nghiệm
Mức liều 1: nồng độ 600,0 mg/ml; mức liều 2: nồng độ
800,0 mg/ml; mức liều 3: nồng độ 1000,0 mg/ml; mức liều
4: nồng độ 1200,0 mg/ml; mức liều 5: nồng độ 140,0
mg/ml. Thực nghiêm theo dõi trong 24 giờ về biểu hiện và
trong 7 ngày về hoạt động của chuột sau khi uống đã thu
được các kết quả sẽ trình bày tiếp theo.
Đào Hùng Cường, Phan Thảo Thơ, Vũ Thị Hạnh Yến
98
b. Tiêu thụ thức ăn và uống của chuột
Sau khi uống dung dich thử ở mức liều 1 chuột ăn uống,
hoạt động bình thường. Ở mức liều 2, 3, 4 và 5, sau khi
uống dung dịch thử, chuột có biểu hiện bất thường: giảm
hoạt động, giảm tiêu thụ thức ăn, nước uống so với nhóm
chứng trong thời gian theo dõi.
c. Quan sát dấu hiệu ngộ độc
Ở mức liều 2, 3, 4 và 5, sau khi uống dung dịch thử,
chuột có biểu hiện tăng hoạt động, sau đó mệt mỏi, giảm
hoạt động, nằm mệt, tốt mồ hơi. Chuột chết trong khoảng
thời gian từ 2 đến 24 giờ theo dõi. Số chuột không chết ở
các mức liều trên có biểu hiện giảm hoạt động, mệt mỏi
trong thời gian theo dõi. Chuột ở mức liều 1 khơng nhận
thấy có biểu hiện ngộ độc.
d. Tỷ lệ chuột chết/sống ở các mức liều thử nghiệm
Kết quả theo dõi tỷ lệ chuột chết/sống khi được uống
dung dịch thử ở các mức liều thử nghiệm được thể hiện trên
Bảng 7.
Bảng 7. Tỷ lệ chuột chết/sống ở các mức liều thử nghiệm HCMg
Mức
liều
1
2
3
4
5
Liều thử
(g mẫu thử/kg
chuột)
15,0
20,0
25,0
30,0
35,0
Số chuột
chết/ sống
thực tế
0/10
1/9
4/6
8/2
10/0
Số chuột
chết/ sống
kỳ vọng
0/27
1/17
5/8
13/2
23/0
% Chết
0
5,56
38,46
86,67
100
e. Tính LD50 theo Behrens
Thay các giá trị từ Bảng 7:
a = 38,46 %; b = 86,67 %; A = 25,0 g mẫu thử/ kg chuột;
d = 5,0 g mẫu thử/ kg chuột vào công thức (1) sẽ tính được
LD50 theo Behrens:
(50 - 38, 46)*5,0
LD50 8,5
26, 20
86,67 - 38, 46
Kết quả nghiên cứu độc tính cấp của HCMg cho thấy sau
khi cho chuột uống thuốc, ở mức liều thấp (15,0 g/kg chuột)
không nhận thấy có biểu hiện ngộ độc, ở mức liều trong
khoảng từ 20,0 g đến 35,0 g mẫu thử/ kg chuột, chuột có biểu
hiện tăng hoạt động, sau đó mệt mỏi, giảm hoạt động, tốt
mồ hơi. Chuột bị chết trong khoảng thời gian 2 đến 24 giờ
theo dõi và tỷ lệ chết tùy theo mức liều uống. LD50 = 26,20
g mẫu thử/ kg chuột. Theo phân loại độc tính của GHS có
thể kết luận mẫu thử HCMg không độc [1].
4. Kết luận
Đã nghiên cứu thử nghiệm thành cơng độc tính cấp của
HCA được chiết tách từ lá, vỏ quả bứa tròn Việt Nam và
các muối HCK, HCCa, HCMg.
Đã xác định đượcLD50 (HCA) = 10,81 ml/kg chuột,
LD50(HCCA) > 20,0 g/kg chuột, LD50(HCK) = 8,663 g/kg
chuột, LD50 (HCMg) = 26,20 g/kg chuột.
Theo phân loại độc tính của GHS (Globally
Harmonized System of Classification and Labelling of
Chemicals, 2003), những chất hoặc hợp chất có giá trị độc
tính cấp LD50 > 5000 mg/kg chuột theo đường uống, được
coi là chất không độc. Như vậy, tất cả 4 chất thử nghiệm
có thể kết luận là khơng độc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] GHS, A Guide to The Globally Harmonized System of Classification
and Labeling of Chemicals United Nations, New York, 2011.
[2] Lewis Y. S., Isolation and properties of hydroxycitric acid, In
Methods in Enzymology; Colowick, S. P., Kaplan, N. O., Eds.;
Academic Press: New York; Vol. 13, pp 613-619, 1969.
[3] Muhammed Majeed, Vladimir Badmaev, Ramaswamy Rajendran
(2004), Process for the production of potassium hydroxy citric acid,
and compositions containing the potassium hydroxy citric acid,
United States Patent US 6,770,782 B1.
[4] OECD Guidelines for testing of chemicals, Section 4, No. 423, 2001.
[5] Viện Dược liệu, Phương pháp nghiên cứu tác dụng dược lý của
thuốc từ dược thảo, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội,
2006.
(BBT nhận bài: 29/12/2014, phản biện xong: 22/01/2015)