Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

Phương thức nuôi thích hợp vịt Minh Hương thương phẩm

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (294.22 KB, 6 trang )

CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT VÀ CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
năng kháng khuẩn của các loại chitosan nhằm
chọn lựa giải pháp thay thế kháng sinh tối ưu
nhất trong điều trị bệnh viêm vú trên bò sữa.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

2.

3.

4.

5.

Aguayo P.R., Larenas T.B., Godoy C.A., Rivas B.C.,
Casanova J.G. and Gomez D.T. (2020). Antimicrobial
and antibiofilm capacity of chitosan nanoparticles
against wild type strain of pseudomonas sp. Isolated
from milk of cows diagnosed with bovine mastitis.
Antibiotics, 9(9): 1-15.
Alam M.R., Kim W.I., Kim J.W., Na C.S. and Kim N.S.
(2012). Effects of Chitosan-oligosaccharide on diarrhoea
in Hanwoo calves. Vet. Med., 57(8): 385-93.
Asli A., Brouillette E., Ster C., Ghinet M.G., Brzezinski
R. and Lacasse P. (2017). Antibiofilm and antibacterial
effects of specific chitosan molecules on Staphylococcus
aureus  isolates associated with bovine mastitis. PLoS
ONE 12(5): e0176988.
Breser M.L., Felipe V., Bohl L.P., Orellano M.S., Isaac
P., Conesa A., Rivero V.E., Correa S.G., Bianco I.D.


and Porporatto C. (2018). Chitosan and cloxacillin
combination improve antibiotic efficacy against different
lifestyle of coagulase-negative Staphylococcus isolates
from chronic bovine mastitis. Sci. Rep., 8(1): 1-13.
Cheng W.N. and Han S.G. (2020). Bovine mastitis: risk
factors, therapeutic strategies, and alternative treatments
- A review. Asian-Aust. J. Anim. Sci., 33(11): 1699-13.

6.

Felipe V., Breser M.L., Bohl L.P., Silva E.R., Morgant
C.A., Correa S.G. and Porporatto C. (2019). Chitosan
disrupts biofilm formation and promotes biofilm
eradication in Staphylococcus species isolated from
bovine mastitis. Int. J. Biol. Macromol., 126: 60-67.
7. Jeon S.J., Ma Z., Kang M., Galvão K.N. and Jeong
K.C. (2016). Application of chitosan microparticles
for treatment of metritis and in  vivo evaluation of
broad spectrum antimicrobial activity in cow uteri.
Biomaterials, 110: 71-80.
8. Jovanovic G.D., Klause A.S. and Niksic M.P (2016).
Antimicrobial activity of chitosan coatings and films
against Listeria monocytogenes on black radish. Rev.
Arg. Microbiol., 48(2): 128-36.
9. Nguyen V.T., Nguyen T.H., Nguyen N.S., Bui V.D.
and Atsushi M. (2015). A study about mastitis infection
characteristics in dairy cow of Bavi, Hanoi, Vietnam.
Asian J. Pha. Clin. Res., 8(3): 165-68.
10. Moon J.S., Kim H.K., Koo H.C., Joo Y.S., Nam H.M.,
Park Y.H. and Kang M.I. (2007). The antibacterial and

immunostimulative effect of chitosan-oligosaccharides
against infection by Staphylococcus aureus isolated from
bovine mastitis. Appl. Microbiol. BioTech., 75(5): 989-98.
11. Orellano M.S., Isaac P., Breser M.L., Bohl L.P., Conesa
A., Falcone R.D. and Porporatto C. (2018). Chitosan
nanoparticles enhance the antibacterial activity of the
native polymer against bovine mastitis pathogens.
Carbohydr. Polym., 213: 1-9.

PHƯƠNG THỨC NI THÍCH HỢP VỊT MINH HƯƠNG
THƯƠNG PHẨM
Ngô Thị Lệ Quyên1*, Nguyễn Công Định1, Phạm Hải Ninh1, Nguyễn Quyết Thắng1,
Nguyễn Qúy Khiêm2 và Đỗ Thị Liên3
Ngày nhận bài báo: 30/11/2021 - Ngày nhận bài phản biện: 20/12/2021
Ngày bài báo được chấp nhận đăng: 30/12/2021
TĨM TẮT
Thí nghiệm 1 nhân tố ngẫu nhiên hồn tồn (phương thức nuôi) được tiến hành trên 600 con
vịt Minh Hương thương phẩm nuôi tại Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xun, nhân tố thí nghiệm
là phương thức ni nhốt và nuôi bán chăn thả để đưa ra các phương thức nuôi phù hợp. Bắt đầu
theo dõi từ 1 ngày tuổi đến 12 tuần tuổi. Kết quả cho thấy tỷ lệ ni sống tại lơ thí nghiệm 1 ni
nhốt đạt 96,33%, lơ thí nghiệm 2 ni bán chăn thả đạt 94,33%. Kết quả nuôi từ 2 phương thức cho
thấy 8 tuần tuổi khối lượng của vịt là 1.527,77-1.565,40 g/con, 12 tuần tuổi khối lượng là 1.826,69–
1.875,33 g/con, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng là 3,01-3,07kg. Hiệu quả kinh tế thu được ở lơ
thí nghiệm 1 là 10.890.000 đồng, ở lơ thí nghiệm 2 là 10.420.000 đồng. Vịt Minh Hương ni thương
phẩm có thể ni theo cả 2 phương thức tùy theo điều kiện thực tế.
Từ khóa: Phương thức ni, vịt Minh Hương, hiệu quả kinh tế.
Viện Chăn nuôi
Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương
3
Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên

* Tác giả liên hệ: KS. Ngô Thị Lệ Quyên, Bộ môn Động vật quý hiếm và Đa dạng sinh học, Viện Chăn nuôi; Điện thoại:
0367184265; Email:
1
2

58

KHKT Chăn nuôi số 274 - tháng 2 năm 2022


CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT VÀ CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
ABSTRACT
The suitable raising methods for commercial Minh Huong duck
A random factor experiment (raising method) was conducted on 600 Minh Huong ducks for
breeding and was conducted at Dai Xuyen Duck breeding and Research Center, experimental 1
(captivity), experimental 2 (semi-scavenging). Starting from 1 day of age to 12 weeks of age. The
results show that: The survival rate achieved from experimental 1 reached 96,33%, experimental 2
reached 94,33%, results from two methods showed that at 8th week age, the weight of ducks was
from 1,527.77–1,565.40 g/duck, 12th week age, the weight of ducks was from 1,826.69- 1,875.33 g/
duck, the feed comsumption/kg body weight gain was 3.01-3.07kg. Economic eficiency obtained in
experimental 1 was 10,890,000VND, in experimental 2 was 10,420,000 VND. Commercially raised
Minh Huong ducks can be raised by both methods depending on actual conditions.
Keywords: Raising methods, Minh Huong duck, economic efficiency.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Vịt Minh Hương còn gọi là vịt suối, một
giống vịt bản địa từ lâu đời ở xã Minh Hương,
Hàm Yên, Tuyên Quang.  Vịt Minh Hương
sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện
kham khổ. Khả năng sử dụng tốt các loại

thức ăn thô, nghèo dinh dưỡng, côn trùng,
sinh vật trong tự nhiên; thức ăn cho vịt ngồi
cám, thóc, cịn là tơm, cua, ốc dưới suối nên
cho sản phẩm thịt có độ dinh dưỡng cao, vị
thơm, ngon được người tiêu dùng ưa chuộng.
Hiện tại vịt Minh Hương được chăn nuôi gần
như 100% ở quy mô nông hộ với phương thức
chăn nuôi chủ yếu là chăn thả và bán chăn thả.
Chính vì vậy cơng tác quản lý gặp nhiều khó
khăn. Dẫn đến tình trạng lai tạp con giống
trong chăn nuôi, ảnh hưởng đến chất lượng
con giống, ảnh hưởng đến an toàn sinh học
đặc biệt trong điều kiện dịch bệnh ngày càng
diễn biến phức tạp, trong khi đó lưu thông
thị trường ngày càng thúc đẩy. Xuất phát từ
những lý do trên, trong hoạt động của nhiệm
vụ khoa học công nghệ “Sản xuất thử nghiệm
ngan Trâu và vịt Minh Hương tại một số tỉnh
miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ” chúng tôi
tiến hành đánh giá khả năng sinh trưởng của
vịt Minh Hương ở các phương thức nuôi khác
nhau, từ đó xác định được phương thức ni
phù hợp, hiệu quả.

được ni thí nghiệm đến 12 tuần tuổi được
thực hiện tại Trung tâm nghiên cứu vịt Đại
Xuyên, trong thời gian từ tháng 4/2020 đến
tháng 7/2020.
2.2. Phương pháp
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu 1 nhân tố

là phương thức nuôi. Lấy 600 vịt 01 ngày tuổi
phân ngẫu nhiên vào 2 lơ thí nghiệm mỗi lô 100
con, 3 lần lặp lại, tổng số 600 con, thời gian thí
nghiệm là 12 tuần. Đàn vịt lơ 1 được ni nhốt
có sân chơi và 1 bể bơi nhỏ; lô 2 nuôi bán chăn
thả, vịt được thả ở 1 hồ lớn gắn với khu nuôi
nhốt để cho vịt có thể vận động nhiều hơn. Tất
cả các điều kiện cịn lại cả 2 lơ đều được ni
trong điều kiện chăm sóc ni dưỡng giống
nhau theo quy trình chăn ni an tồn sinh
học, vệ sinh thú y của Trung tâm Nghiên cứu
Vịt Đại Xuyên, sử dụng thức ăn hỗn hợp với
chế độ dinh dưỡng theo giai đoạn (Bảng 1).
Bảng 1. Chế độ dinh dưỡng theo giai đoạn tuổi
Tuần
tuổi
0–3
4–7
8-12

CP (%)
21
19
17

Giá trị dinh dưỡng
ME (kcal/kg) Ca (%)
2900
0,70
2950

0,65
3050
0,65

P (%)
0,40
0,40
0,40

2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Các chỉ tiêu theo dõi: Đặc điểm ngoại hình,
tỷ lệ ni sồng, khối lượng qua các tuần tuổi,
sinh trưởng tương đối và sinh trưởng tuyệt
đối; tiêu tốn thức ăn/kh tăng khối lượng và
hạch toán sơ bộ hiệu quả chăn nuôi vịt Minh
Hương nuôi thương phẩm.

2.1. Vật liệu, địa điểm và thời gian
Thí nghiệm được tiến hành trên 600 con
vịt Minh Hương thương phẩm 01 ngày tuổi

2.3. Xử lý số liệu
Số liệu được thu thập và xử lý trên chương
trình Excel (2010) và phần mềm Minitab 16.

KHKT Chăn nuôi số 274 - tháng 2 năm 2022

59



CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT VÀ CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Khả năng sinh trưởng của vịt Minh Hương
3.1.1. Tỷ lệ nuôi sống
Qua nghiên cứu tỷ lệ nuôi sống 600 con
vịt Minh Hương thương phẩm tại bảng 2 cho
thấy đàn vịt Minh Hương có sức kháng bệnh
khá tốt. Nuôi từ 01 ngày tuổi đến 12 tuần tuổi
tỷ lệ nuôi sống đạt khá cao tại 2 lô. Trong đó, lơ
thí nghiệm 1 ni nhốt có sân chơi cho kết quả
tỷ lệ nuôi sống đến 12 tuần tuổi đạt (96,33%)
cao hơn so với lô 2 nuôi bán chăn thả (94,33%).
Bảng 2. Tỷ lệ nuôi sống (%) của vịt Minh Hương
Tuần tuổi
01 NT (n=300)
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12

Lô 1

100,00
99,33
98,67
97,67
96,67
96,33
96,33
96,33
96,33
96,33
96,33
96,33
96,33

Lô 2
100,00
99,00
98,67
97,67
96,67
96,00
96,00
95,67
95,67
95,33
94,67
94,33
94,33

Theo dõi trên các giống vịt bản địa cho

thấy vịt Kỳ Lừa nuôi tại cơ sở sản xuất giai
đoạn 1-70 ngày tuổi có tỷ lệ nuôi sống (TLNS)
đạt 93,36% (Trần Huê Viên và ctv, 2002), nuôi
tại Viện Chăn nuôi giai đoạn nở đến 10 tuần
tuổi đạt 96,8% (Nguyễn Thị Minh Tâm và ctv,
2006). Vịt Bầu và vịt Đốm giai đoạn 1-8 tuần
tuổi có TLNS đạt 90,0% (Nguyễn Đức Trọng
và ctv, 2011). Vịt Hịa Lan ni tại Tiền Giang
giai đoạn 0-8 tuần tuổi có TLNS đạt 96,0-97,7%
(Hồng Tuấn Thành và Dương Xn Tuyển,
2016). Vịt Sín Chéng giai đoạn 1-12 tuần tuổi
có TLNS là 95,5% (Bui Huu Doan và ctv, 2017),
nuôi tại Lào Cai giai đoạn 1-12 tuần tuổi ở
phương thức nuôi nhốt và bán chăn thả lần
lượt là 96,67-97,78% và 95,56-96,67% (Phạm
Văn Sơn và ctv, 2020).
3.1.2. Khối lượng cơ thể vịt Minh Hương qua
các tuần tuổi

60

Qua theo dõi giai đoạn vịt con cho thấy vịt
Minh Hương tuân theo quy luật sinh trưởng
của gia cầm, khối lượng cơ thể (KL) tăng theo
thời gian nuôi. Ở thời điểm 01 ngày tuổi, vịt
có KL trung bình tại lơ 1 là 41,77 g/con, lô 2 là
40,73 g/con, thấp hơn so với kết quả nghiên
cứu bảo tồn vịt Minh Hương có KL lúc 01
ngày tuổi là 48,20 g/con (Phạm Công Thiếu
và ctv, 2015), cao hơn so với vịt Mốc là 39,9 g/

con (Lý Văn Vỹ và Hoàng Văn Trường, 2012),
nhưng thấp hơn so với vịt Đốm 44,48-44,65 g/
con (Đặng Vũ Hòa, 2012) và vịt Cổ Lũng 43,21
g/con (Nguyễn Đức Trọng và ctv, 2012).
Bảng 3. Khối lượng vịt (Mean±SE, g/con)
Tuần tuổi
1NT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12

Lô1 (n=90)
41,77 ± 0,61
112,77± 1,98
231,07± 3,57
424,27± 6,22
629,81± 9,13
847,83± 8,1
1103,90± 12,51
1377,30± 22,89
1565,40± 21,49

1703,00± 26,97
1795,33± 27,00
1849,67± 30,74
1875,33± 32,22

Lô 2 (n=90)
40,73 ± 0,59
112,73± 1,74
238,03± 3,80
406,60± 6,17
606,47± 7,74
836,30± 9,8
1081,67± 11,15
1357,53± 22,48
1527,97± 22,67
1658,33± 23,87
1745,67± 25,45
1798,44± 26,09
1826,69± 22,08

Ghi chú: Theo hàng ngang các số mang các chữ cái khác
nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê (P<0,05).

Đến thời điểm 8 tuần tuổi, khối lượng
trung bình của vịt thí nghiệm tại lơ 1 đạt
1.565,40 g/con, cao hơn so với lơ 2 (1.527,97
g/con). Tuy nhiên, phân tích thống kê khơng
thấy có sự sai khác mang ý nghĩa thống kê
giữa 2 lơ thí nghiệm về khối lượng tại thời
điểm 8 tuần tuổi. Khối lượng vịt Minh Hương

thương phẩm thấp hơn so với kết quả nghiên
cứu trên một số giống vịt bản địa khác như vịt
Đốm lúc 8 tuần tuổi đạt 1.659,36g (Đặng Vũ
Hòa, 2015); vịt Kỳ Lừa đạt 1.684,2-1.838,0g/
con (Nguyễn Văn Duy và ctv, 2016); cao hơn
vịt Minh Hương đàn bảo tồn: con trống đạt
1.436,35 g/con và con mái đạt 1.247,83 g/con
(Phạm Công Thiếu và ctv, 2015). Lý Văn Vỹ và
Hoàng Văn Trường (2012) cho biết lúc 8 tuần

KHKT Chăn nuôi số 274 - tháng 2 năm 2022


CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT VÀ CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
tuổi vịt Mốc đạt 927,6g (trống) và 882,2g (mái);
vịt Cổ Lũng chỉ đạt 1.142,3 g/con (Nguyễn
Đức Trọng và ctv, 2012).
Kết thúc 12 tuần tuổi, vịt Minh Hương lơ
1 có KL là 1.875,33 g/con và lô 2 là 1.826,69g/
con. So với kết quả nghiên cứu của Hồ Khắc
Oánh và ctv (2011) trên vịt Bầu Bến ni bảo
tồn tại Hịa Bình lúc 12 tuần tuổi là 1.950g.
Kết quả này thấp hơn kết quả nghiên cứu
của Phạm Văn Sơn và ctv (2020) trên vịt Sín
Chéng nuôi tại Lào Cai lúc 12 tuần tuổi nuôi
nhốt con trống đạt 2.435,00 g/con, con mái đạt
2.130,40 g/con, nuôi bán chăn thả con trống
đạt 2.345,17 g/con, con mái đạt 2.001,79 g/
con. Như vậy, việc áp dụng các phương thức
chăn nuôi khác nhau, vịt Minh Hương thương

phẩm đã không ảnh hưởng đáng kể đến KL
các lô tại thời điểm 12 tuần tuổi. Mặc dù vịt
Minh Hương được nuôi tại các phương thức
khác nhau nhưng do vịt nuôi thương phẩm
được ăn tự do nên KL giữa 2 phương thức là
không đáng kể.
Bảng 4. Sinh trưởng tương đối và tuyệt đối
(n=90)
Giai đoạn
(tuần tuổi)
01NT-1
1-2
2-3
3-4
4-5
5-6
6-7
7-8
8-9
9-10
10-11
11-12
TB

Sinh trưởng
tương đối (%)
Lô 1
Lô 2
96,57
93,83

68,69
68,83
59,43
61,16
41,04
40,52
29,68
30,60
19,52
20,46
15,53
15,56
8,60
9,05
7,37
7,97
6,67
6,89
6,08
5,66
4,56
4,78
30,31
30,44

Sinh trưởng tuyệt
đối (g/con/ngày)
Lô 1
Lô 2
10,14

10,29
16,90
17,90
27,60
24,08
29,36
28,55
31,15
32,83
36,58
35,05
39,06
39,41
26,87
24,35
19,66
18,62
13,19
12,48
7,76
7,54
3,67
4,03
21,83
21,26

Tốc độ sinh trưởng của vịt được đánh
giá thông qua chỉ tiêu sinh trưởng tương đối
và tuyệt đối thể hiện tại bảng 4. Sinh trưởng
tương đối là tỷ lệ % tăng lên của khối lượng cơ

thể ở một giai đoạn nào đó so với khối lượng
của nó ở giai đoạn kế trước, đồ thị biểu diễn có
dạng hyperbol, tuân theo quy luật sinh trưởng

KHKT Chăn nuôi số 274 - tháng 2 năm 2022

chung của gia cầm nói chung. Tại những tuần
tuổi đầu đạt cao nhất cụ thể giai đoạn 0-1 tuần
tuổi lô 1 đạt 96,57%, lô 2 đạt 93,83%.
Qua các giai đoạn tiếp theo sinh trưởng
tương đối giảm dần và đến giai đoạn 11-12
tuần tuổi sinh trưởng tương đối đạt thấp nhất
tại lơ 1 ni nhốt có sân chơi với 4,56% và lơ
2 ni bán chăn thả đạt 4,78%. Trung bình cả
giai đoạn sinh trưởng tương đối lơ 1 ni nhốt
có sân chơi là 30,31% trong khi đó lơ 2 cao hơn
một chút đạt 30,44%.
Theo Bùi Hữu Đoàn và ctv (2016) nghiên
cứu vịt Sín Chéng sinh trưởng tương đối cao
nhất là 103,15% ở tuần đầu tiên sau đó giảm
xuống cịn 2,71% ở 12 tuần tuổi. Đặng Vũ Hòa
(2015) cho thấy sinh trưởng tương đối cao nhất
88,43% ở 1 tuần tuổi sau đó giảm dần xuống cịn
6,32% ở 9 tuần tuổi. Đỗ Ngọc Hà và Nguyễn Bá
Mùi (2018) khi nghiên cứu sinh trưởng tương
đối của vịt Cổ Lũng từ 95,80% ở giai đoạn 0-1
tuần tuổi, giảm đến 12 tuần tuổi xuống còn
2,96%. Kết quả nghiên cứu trên vịt Minh Hương
cũng tuân theo quy luật tương tự như các giống
vịt kiêm dụng khác của tác giả trên.

Giai đoạn 0-1 tuần tuổi sinh trưởng tuyệt
đối lơ ni nhốt có sân chơi đạt 10,14 g/con/
ngày, lô nuôi bán chăn thả đạt 10,29 g/con/
ngày và tăng dần tại các tuần tiếp theo và đạt
đỉnh cao tất cả các lô tại giai đoạn 6-7 tuần tuổi
với 39,06 g/con/ngày ở lô 1 và lô 2 là 39,41 g/
con/ngày. Sau đó, bắt đầu giảm dần và thấp
nhất ở tuần 11-12 chỉ đạt 3,67 g/con/ngày ở lô
1 và lô 2 với 4,03 g/con/ngày. Tính chung cho
cả giai đoạn 0-12 tuần tuổi sinh trưởng tuyệt
đối lô 1 đạt 21,83 g/con/ngày, cao hơn lơ 2 đạt
21,26 g/con/ngày. Phân tích thống kê cho thấy
khơng có sự sai khác về sinh trưởng tuyệt đối
giữa lô 1 với lô 2 (P>0,05).
3.2. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng
Theo dõi tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối
lượng cơ thể trên hai phương thức ni nhốt
có sân chơi và nuôi bán chăn thả chúng tôi thu
được kết quả được thể hiện ở bảng 5 cho thấy
tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng là tỷ lệ
chuyển hóa thức ăn để đạt được tốc độ tăng
trọng, vì tăng trọng là một chức năng chính của

61


CHĂN NI ĐỘNG VẬT VÀ CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
q trình chuyển hóa thức ăn hay nói cách khác
TTTA là hiệu suất giữa thức ăn trên kg TKL.
Bảng 5. Tiêu tốn thức ăn/kg TKL (kg TĂ/kg TKL)

Tuần tuổi
0-1
0-2
0-3
0-4
0-5
0-6
0-7
0-8
0-9
0-10
0-11
0-12

Lô 1
1,65
1,69
1,73
1,78
1,89
1,96
1,97
2,11
2,28
2,51
2,77
3,07

Lô 2
1,63

1,62
1,81
1,85
1,87
1,92
1,92
2,06
2,23
2,46
2,72
3,01

Kết quả nghiên cứu trên vịt Minh Hương
thấp hơn so với vịt Sín Chéng và Cổ Lũng. Theo
Bui Huu Doan và ctv (2017), vịt Sín Chéng ni
tại Học viện Nơng nghiệp Việt Nam giai đoạn
1-12 tuần tuổi có mức tiêu tốn thức ăn là 4,93kg
TA/kg TKL. Cũng theo Phạm Văn Sơn và ctv
(2020) vịt Sín Chéng đến 12 tuần tuổi ni tại
Lào Cai có TTTA/kg TKL là 4,49kg ở phương
thức ni bán chăn thả và 4,60kg ở phương
thức nuôi nhốt. Vịt Cổ Lũng trong giai đoạn
0-12 tuần tuổi tiêu tốn 5,41kg TA/kg TKL (Đỗ
Ngọc Hà và Nguyễn Bá Mùi, 2018).
3.4. Hạch toán sơ bộ hiệu quả chăn nuôi vịt
Minh Hương thương phẩm ở 2 phương thức
nuôi

Giai đoạn 0-8 tuần tuổi, TTTA/kg TKL ở
Kết quả hạch tốn sơ bộ hiệu quả chăn

lơ 1 ni nhốt có sân chơi đạt 2,11kg trong khi
ni
vịt ni thương phẩm với các phương
lô 2 nuôi bán chăn thả đạt 2,06kg. Theo Phạm
Văn Sơn và ctv (2020), TTTA/kg TKL của vịt thức khác nhau được thể hiện qua bảng 6 cho
Sín Chéng là 2,91kg ở phương thức ni bán thấy lợi nhuận thu được = tổng nguồn thu –
chăn thả và 2,99kg ở phương thức nuôi nhốt tổng chi, đối với lơ ni nhốt có sân chơi lợi
cao hơn kết quả nghiên cứu này. Phân tích nhuận thu được khi ni 300 con vịt Minh
thống kê khơng thấy có sự sai khác về TTTA/ Hương là 10.890.000 đồng (đ), cịn tại lơ ni
bán chăn thả là 10.420.000đ. Chênh lệch mức
kg TKL tại 2 lô đến 8 tuần tuổi (P>0,05).
Giai đoạn 0-12 tuần tuổi, vịt đã cơ bản hoàn lợi nhuận giữa 2 lô khi nuôi 300 con vịt Minh
thiện quá trình sinh trưởng, TKL giai đoạn này Hương là khơng đáng kể. Kết quả thí nghiệm
giảm đáng kể, chính vì vậy TTTA/kg TKL tăng cho thấy việc sử dụng phương thức nuôi khác
đáng kể, tại lô 1 đạt 3,07kg trong khi tại lô 2 đạt nhau ở 2 lô không ảnh hưởng đáng kể đến
3,01kg (P>0,05).
hiệu quả kinh tế.
Bảng 6. Hạch tốn sơ bộ hiệu quả chăn ni vịt Minh Hương thương phẩm
Nội dung
Con giống, con
Chi phí thức ăn, kg
Chi phí thuốc thú y, con
Điện, kw/h
Xuất bán, kg
Tổng thu, tr.đ
Tổng chi, tr.đ
Lãi gộp (6)-(7), tr.đ

Lô 1
Lô 2

Số lượng Đơn giá (đ) Thành tiền (đ) Số lượng Đơn giá (đ)
300
0,02
6
300
0,02
1627
0,012
19,524
1520
0,012
300
0,002
0,6
300
0,002
50
0,01858
0,929
50
0,01858
542
0,07
37,94
517
0,07
37,94
27,05
10,89


4. KẾT LUẬN
Vịt Minh Hương có TLNS đến 12 tuần
tuổi ở phương thức ni nhốt có sân chơi là
96,33%; ni bán chăn thả là 94,33%. Khối
lượng 8 tuần tuổi nuôi nhốt có sân chơi là

62

Thành tiền (đ)
6
18,24
0,6
0,929
36,19
36,19
25,77
10,42

1.565,40g/con, ni bán chăn thả là 1.527,97 g/
con; kết thúc 12 tuần đạt tương ứng 1.875,33
và 1.826,69 g/con.
Chênh lệch lợi nhuận giữa ni nhốt
có sân chơi và nuôi bán chăn thả từ 300 vịt
Minh Hương là không đáng kể, chứng tỏ 2

KHKT Chăn nuôi số 274 - tháng 2 năm 2022


CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT VÀ CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
phương thức chăn ni khác nhau khơng có

ảnh hưởng rõ rệt.
Tùy trong điều kiện thực tế cụ thể ta có
thể ni vịt Minh Hương thương phẩm theo
phương thức ni nhốt có sân chơi hoặc nuôi
bán chăn thả sao cho phù hợp.

7.

8.

LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu này được thực hiện bằng kinh phí
của dự án sản xuất thử nghiệm cấp quốc gia “Sản
xuất thử nghiệm ngan Trâu và vịt Minh Hương
tại một số tỉnh miền núi phía Bắc và Bắc Trung
Bộ” thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

2.

3.

4.
5.
6.

Nguyễn Văn Duy, Nguyễn Thị Thúy Nghĩa, Nguyễn
Đức Trọng, Phạm Văn Chung, Vũ Ngọc Sơn, Lý Văn
Vỹ, Vương Thị Lan Anh, Đồng Thị Quyên, Đặng Thị

Vui và Lê Thị Mai Hoa (2016). Báo cáo tổng hợp Kết
quả Khoa học Công nghệ nhiệm vụ Quỹ gen cấp Nhà
nước Khai thác, phát triển nguồn gen vịt đặc sản: vịt Kỳ
Lừa, Bầu Bến, Mốc và Đốm.
Bùi Hữu Đoàn, Hoàng Anh Tuấn và Nguyễn Hoàng
Thịnh (2016). Đánh giá khả năng sản xuất thịt của vịt
lai broiler F1 ( Sín Chéng x Super M3). Tạp chí KHKT
Chăn ni, 216: 22-27.
Bui Huu Doan, Pham Kim Dang, Hoang Anh Tuan,
Doan Van Soan and Nguyen Hoang Thinh (2017).
Meat production capacity of Sin Cheng ducks in Lao
Cai Province, Viet Nam, Proceedings international
conference on: Animal production in Southeast Asia:
Current status and future, Pp, 78-85.
Đỗ Ngọc Hà và Nguyễn Bá Mùi (2018). Một số chỉ tiêu
sinh trưởng của vịt Cổ Lũng nuôi lấy thịt tại Thanh
Hóa, Tạp chí KHNN Việt Nam, 16(8): 737-43.
Đặng Vũ Hịa (2012). Bảo tồn và khai thác nguồn gen
vịt Mốc Bình Định, Chuyên khảo bảo tồn và khai thác
nguồn gen vật ni Việt Nam, Tangr 180-89.
Đặng Vũ Hịa (2015). Một số đặc điểm sinh học, khả
năng sản xuất của vịt Đốm (Pất Lài) và con lai giữa vịt
Đốm với vịt T14. Luận án tiến sĩ nông nghiệp. Viện
Chăn nuôi.

9.

10.

11.


12.

13.

14.

15.

Hồ Khắc Oánh, Hoàng Văn Tiệu, Nguyễn Đức
Trọng, Phạm Văn Trượng, Nguyễn Thị Minh, Phạm
Hữu Chiến, Bùi Văn Thảnh và Bùi Văn Chủm (2011).
Nghiên cứu bảo tồn quỹ gen vịt Bầu Bến tại Hịa Bình,
Tuyển tập các cơng trình nghiên cứu và chuyển giao
tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi vịt – ngan, Trung tâm Nghiên
cứu Vịt Đại Xuyên, trang 169-72.
Phạm Văn Sơn, Hồ Lam Sơn, Nguyễn Khắc Khánh,
Trần Hồng Thanh, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn
Thành Luân, Nguyễn Thị Châu Giang và Ngô Thị
Kim Cúc (2020). Khả năng sản xuất và chất lượng thịt
vịt Sín Chéng ở hai phương thức ni. Tạp chí KHCN
Chăn ni, 111: 23-34.
Nguyễn Thị Minh Tâm, Trần Long, Phạm Công Thiếu,
Hồ Lam Sơn và Lương Thị Hồng (2006). Nghiên cứu
khả năng sản xuất của vịt Kỳ Lừa tại Viện chăn nuôi,
Báo cáo khoa học Viện Chăn nuôi 2006, phần nghiên
cứu về giống vật ni.
Hồng Tuấn Thành và Dương Xn Tuyển (2016). Đặc
điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của vịt Hịa Lan
ni bảo tồn tại Tiền Giang, Tạp chí KHCN Chăn ni,

63: 38-47.
Phạm Cơng Thiếu, Hồng Thanh Hải, Đặng Vũ
Hịa, Phạm Hải Ninh, Lê Thị Bình, Đào Duy Quý
và Nguyễn Thị Quỳnh Nga (2015). Đánh giá chi tiết
nguồn gen vịt Minh Hương. Chuyên đề Bảo tồn và lưu
giữ nguồn gen vật ni 2015.
Nguyễn Đức Trọng, Hồng Văn Tiệu, Hồ Khắc Oánh,
Doãn Văn Xuân, Phạm Văn Chung, Nguyễn Thị Thúy
Nghĩa, Đồng Thị Quyên, Lương Thị Bột và Đặng Thị
Vui (2011). Chọn lọc vịt kiêm dụng P2 (vịt Đốm), Tuyển
tập các công trình NC&CG TBKHKT chăn ni vịt –
ngan, Viện Chăn ni- Trung tâm nghiên cứu vịt Đại
Xuyên, trang 178-82.
Nguyễn Đức Trọng, Nguyễn Thị Thúy Nghĩa, Phạm
Văn Chung, Lương Thị Bột và Mai Hương Thu (2012).
Kết quả nuôi giữ, bảo tồn quỹ gen vịt Cổ Lũng. Hội nghị
bảo tồn nguồn gen vật nuôi 2010–2012. trang 235-42.
Trần Huê Viên, Nguyễn Duy Hoan và Nông Qúy
Thoan (2002). Một số đặc điểm sinh học và sức sản xuất
thịt của giống vịt Kỳ Lừa, Tạp chí Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, 11: 994-95.
Lý Văn Vỹ và Hoàng Văn Trường (2012). Bảo tồn và
khai thác nguồn gen vịt Mốc Bình Định, Chuyên khảo
bảo tồn và khai thác nguồn gen vật nuôi Việt Nam,
Trang 172-80.

ẢNH HƯỞNG CỦA TUỔI CAI SỮA ĐẾN SINH TRƯỞNG
CỦA LỢN CON TẠI HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
Nguyễn Thị Hạnh1* và Đặng Hồng Quyên1
Ngày nhận bài báo: 18/10/2021 - Ngày nhận bài phản biện: 08/11/2021

Ngày bài báo được chấp nhận đăng: 02/12/2021
Khoa Chăn nuôi–Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Bắc Giang
* Tác giả liên hệ: ThS. Nguyễn Thị Hạnh, Khoa Chăn nuôi–Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Bắc Giang. Điện thoại: 0983 241
596, Email:
1

KHKT Chăn nuôi số 274 - tháng 2 năm 2022

63



×