NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG KHÁNG OXY HÓA, ỨC CHẾ ENZYME
α-AMYLASE VÀ α-GLUCOSIDASE CỦA CAO CHIẾT TỪ VỎ LỰU
(PUNICA GRANATUM)
Nguyễn Thị Ái Lan1, Nguyễn Phạm Tuấn2
1
Trường Đại học Trà Vinh
2
Trung tâm Cơng nghệ sinh học tỉnh An Giang
Tóm tắt
Mục tiêu nghiên cứu được thực hiện để tìm hiểu khả năng ức chế hoạt động của enzyme
α-amylase, α-glucosidase và kháng oxy hóa của vỏ lựu ở phịng thí nghiệm. Mẫu vỏ lựu được ly
trích bằng phương pháp Soxhlet với các dung mơi (nước, Ethanol 70 % và Methanol 70 %). Khả
năng ức chế enzyme α-amylase, enzyme α-glucosidase và kháng oxy hóa được xác định bằng việc
đo quang phổ ở bước sóng 660 nm, 405 nm và 517 nm. Kết quả, độ ẩm đạt 69,04 % và hiệu suất
chiết của vỏ lựu đạt 10,27 - 13,27 %. Cao chiết vỏ lựu có sự hiện diện của các hợp chất Alkaloid,
Terpenoids, Flavonoid, Steroid, Tanin và Phenol. Hàm lượng Phenolic, Flavonoid và Tannin tổng
của cao chiết vỏ lựu đạt lần lượt 101,24 - 311,34 mg GE/g cao chiết; 67,99 - 90,54 mg Quercetin/g
cao chiết và 76,67 - 124,92 mg Tannic acid/g cao chiết. Cao chiết vỏ lựu có khả năng kháng oxy
hóa bằng phương pháp với giá trị IC50 lần lượt là 65,27 µg/mL (nước); 57,26 µg/mL (Ethanol) và
49,17 µg/mL (Methanol). Cao chiết vỏ lựu có khả năng ức chế enzyme α-amylase với giá trị IC50
lần lượt là 63,46 µg/mL (nước); 53,24 µg/mL (Ethanol) và 47,37 µg/mL (Methanol). Cao chiết
vỏ lựu có khả năng ức chế enzyme α-glucosidase với giá trị IC50 lần lượt là 73,30 µg/mL (nước);
68,36 µg/mL (Ethanol) và 60,37 µg/mL (Methanol).
Từ khóa: α-amylase; α-glucosidase; Kháng oxy hóa; DPPH; Cây lựu.
Abstract
Antioxidant activity, α-amylase and α-glucosidase inhibiting activities of the extract
of Punica granatum peel
This study was to evaluate the inhibitory effects of extracts of Pomegranate peel on enzyme
α-amylase and α-glucosidase, antioxidant at in vitro. The plant extraction was carried out by
Soxhlet method with solvents (aqueous, Ethanol 70 % and Methanol 70 %). Inhibition activities
of α-amylase, α-glucosidase and antioxidant were measured by spectrophotometer at 660 nm,
405 nm and 517 nm wavelength. The results showed that the moisture content was 69.04 %
and extraction efficiency of pomegranate peel ranged from 10.27 to 13.27 % Pomegranate
peel extract has the presence of bioactive compounds such as Alkaloids, Flavonoids, Saponins,
Terpenoids, Steroids, Tannin and Phenol. The Phenolic and Flavonoid content of Pomegranate
peel per g of dry weight were 101.24 - 311.34 mg Gallic acid/g; 67.99 - 90.54 mg Quercetin/g
and, 76.67 - 124.92 mg Tannic acid/g, respectively. Pomegranate peel extract has antioxidant
ability by DPPH method with IC50 value of 65.27 µg/mL (aqueous); 57.26 µg/mL (Ethanol)
and 49.17 µg/mL (Methanol), respectively. Pomegranate peel extract has the ability to inhibit
α-amylase with an IC50 values of 63.46 µg/mL (aqueous); 53.24 µg/mL (Ethanol) and 47.37 µg/
mL (Methanol), respectively. Pomegranate peel extract has the ability to inhibit α-glucosidase
with an IC50 values of 73.30 µg/mL (aqueous); 68.36 µg/mL (Ethanol) and 60.37 µg/mL
(Methanol), respectively.
Keywords: α -amylase; α-glucosidase; Antioxidant; DPPH; Pomegranate peel.
80
Nghiên cứu chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ trong sử dụng hợp lý tài nguyên,
bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
1. Đặt vấn đề
Cây lựu (Punica granatum) được coi là một cây thuốc và cây ăn quả, được biết đến như một
trong những loại trái cây quan trọng và được cơng nhận trên tồn cầu vì hương vị dễ chịu và lợi ích
tuyệt vời cho sức khỏe do có chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học. Trái lựu có thể được sử dụng
như hoa quả ăn tươi, làm nước uống và các sản phẩm khác tùy theo nhu cầu của mỗi người. Lợi ích
về sức khỏe của quả lựu không chỉ giới hạn ở phần thịt quả, mà cịn ở những phần khơng ăn được
(chủ yếu là vỏ) do có chứa nhiều hợp chất hoạt tính sinh học hơn phần ăn được. Vỏ trái lựu chiếm
gần 30 - 40 % khối lượng của quả lựu và vẫn là sản phẩm phụ sau khi chiết xuất nước ép. Theo Khan
và cs. [1], vỏ lựu chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học như Phenolic, Flavonoid, Tannin,… ứng
dụng để điều trị các bệnh, như: thuốc chống viêm; đái tháo đường; chống dị ứng và kháng tiểu cầu.
Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh do sự rối loạn chuyển hóa Carbohydrate khi hormone Insulin
của tuyến tụy bị thiếu hay suy giảm tác động trong cơ thể. ĐTĐ biểu hiện bằng lượng Glucose
trong máu cao hơn bình thường. Đối với người bệnh tiểu đường type 2, việc tăng Glucose trong
máu thường gây những biến chứng nguy hiểm. Kiểm soát đường huyết đặc biệt là đường huyết sau
bữa ăn được xem là một nhiệm vụ quan trọng trong điều trị ĐTĐ. Điều này có thể đạt được thơng
qua việc ức chế enzyme tiêu hóa Carbohydrate như enzyme α-amylase và α-glucosidase. Việc sử
dụng các chất ức chế có nguồn gốc thiên nhiên có hiệu quả cao, chi phí thấp trong điều trị bệnh đái
tháo đường luôn là một vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm. Các nghiên cứu trước đây cho thấy,
cao chiết thực vật có tiềm năng ức chế như enzyme α-amylase và α-glucosidase, như: lá ổi; khổ
qua; lá sa kê [2]. Từ đó, nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá khả năng kháng oxy hóa và ức
chế enzyme α-amylase và α-glucosidase của vỏ lựu nhằm góp phần tận dụng phụ phế phẩm, giảm
thải ô nhiễm môi trường và hướng tới việc sử dụng vỏ lựu vừng trong hỗ trợ và điều trị bệnh đái
tháo đường cũng như các biến chứng của bệnh đái tháo đường.
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1. Vật liệu nghiên cứu
Nguyên vật liệu: vỏ lựu (Punica granatum) được thu thập từ chợ Cần Đăng, huyện Châu
Thành, tỉnh An Giang.
Hóa chất và thiết bị: máy đo quang phổ (Human, Hàn Quốc), máy đông khô chân không
(Christ, Mỹ), máy cô quay chân không (Eyala, Nhật Bản), máy ly tâm (Orto alresa, Tây Ban
Nha), gallicd acid, quercetin, DPPH (Merck, Mỹ), enzyme α-amylase và α-glucosidase, acarbose
(Sigma, Mỹ),… hóa chất và thiết bị cần thiết khác.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp tạo cao chiết vỏ lựu
Trái lựu được thu từ chợ Cần Đăng, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. Trái lựu được tiến
hành loại bỏ phần thịt quả, thu lại phần vỏ lựu và tiến hành sấy khô ở điều kiện nhiệt độ 50 0C trong
72 giờ rồi nghiền thành bột mịn. Bột vỏ quả lựu (300 g) được chiết xuất bằng hệ thống Soxhlet
với các dung môi (nước, Ethanol 70 % và Methanol 70 %), với tỷ lệ giữa nguyên liệu và dung
môi là 1:10 (w/v), ở điều kiện nhiệt độ 50 0C, trong 12 giờ. Sau đó, hỗn hợp được tiến hành ly tâm
5.000 vòng/phút trong 20 phút, loại bỏ phần cặn, thu phần dịch. Phần dịch được lọc qua giấy lọc
Whatman có đường kính 0,45 µm, thu dịch lọc và bỏ phần cặn. Phần dịch lọc sau đó được tiến
hành cơ quay chân khơng để đuổi dung môi (Ethanol và Methanol) và tiến hành đông khô bằng
máy đông khô để thu cao chiết vỏ lựu, bảo quản ở nhiệt độ -20 0C và thực hiện các nghiên cứu.
Nghiên cứu chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ trong sử dụng hợp lý tài nguyên,
bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
81
2.2.2. Định tính các hợp chất có hoạt tính sinh học của cao chiết vỏ lựu
Định tính các hợp chất có hoạt tính sinh học theo phương pháp của Yadav và cộng sự [3]
(Bảng 1).
2.2.3. Phân tích hàm lượng Phenolic và Flavonoid tổng của cao chiết vỏ lựu
Hàm lượng Flavonoid tổng theo Pieme và cs. [4]: Hút 0,1 mL Quercetin, thêm 0,3 mL nước
cất, 0,03 mL NaNO2 5%. Ủ 5 phút ở 25 0C, thêm 0,03 mL AlCl3 10 %. Ủ thêm 5 phút, thêm 0,2 mL
NaOH 1 mM và nước cất để tổng thể tích là 1 mL, đo ở λ = 510 nm.
Hàm lượng Flavonoid tổng được xác định theo công thức: C = c x V/m. Trong đó: C: hàm
lượng Flavonoid tổng (mg Quercetin/g chiết xuất); c: giá trị x từ đường chuẩn Quercetin (mg/mL);
V: thể tích dịch chiết (mL); m: khối lượng cao chiết có trong V (g).
Hàm lượng Phenolic tổng theo Yadav và Agarwala [5]: Gallic acid nồng độ 0-100 µg/mL.
Cho 1 mL dung dịch Gallic acid vào 2,5 mL thuốc thử Folin - Ciocalteu 10 %, phản ứng trong 5
phút; thêm tiếp 2 mL dung dịch Na2CO3 2 %, sau 45 phút phản ứng ở nhiệt độ phòng, đo độ hấp
thụ ở λ = 765 nm.
Hàm lượng Phenolic tổng được tính theo cơng thức: P = a × V/m. Trong đó: P: hàm lượng
Phenolic tổng (mg Gallic acid/g cao chiết); a: giá trị x từ đường chuẩn (mg/mL); V: thể tích dung
dịch cao chiết (mL); m: khối lượng cao chiết trong thể tích V (g).
Hàm lượng Tannin của cao chiết theo Kavitha và Indira [6]. Sử dụng Tannic acid làm chất
chuẩn đối chiếu (0 - 100 µg/mL). Phản ứng cho 0,1 mL dung dịch Tannic acid bổ sung thêm 7,5
mL nước cất và 0,5 mL thuốc thử Folin-Ciocalteu, thêm 1 mL dung dịch Na2CO3 35 % và bổ sung
thêm nước cất đủ 10 mL, để phản ứng ở nhiệt độ phòng trong 30 phút. Tiến hành đo độ hấp thu ở
bước sóng λ = 700 nm.
Hàm lượng Tannin được tính theo cơng thức: P = a x V/m. Trong đó: P: hàm lượng Tannin
(mg Tannic acid/g cao chiết); a: giá trị x từ đường chuẩn (mg/mL); V: thể tích dung dịch cao chiết
(mL); m: khối lượng cao chiết trong thể tích V (g).
Bảng 1. Định tính hợp chất trong cao chiết vỏ lựu
Hợp chất
Alkaloid (Mayer)
Flavonoid
Thực nghiệm
1 mL dịch trích + vài giọt TT Mayer
1 mL dịch trích 2 mL + Pb(OAc)4 10 %
Hiện tượng
Kết tủa màu nâu
Xuất hiện màu vàng
Saponin (Foam)
3 mL dịch trích + 6 mL H2O→ đun nóng
Xuất hiện bọt
Xuất hiện vịng đỏ nâu
giữa 2 lớp
Steroid (Salkowski) 1 mL dịch trích + 2 mL CHCl3 + 2 mL H2SO4đđ
Tannin và phenol
( Braymer)
Terpenoid
0,5 mL dịch trích + 10 mL H2O + 2 - 3 giọt FeCl3 0,1%
Kết tủa xanh dương đen
2 mL dịch trích + 2 mL (CH3CO)2O + 2 - 3 giọt H2SO4đđ
Xuất hiện màu đỏ đậm
2.2.4. Khảo sát khả năng kháng oxy hóa của cao chiết vỏ lựu
Khả năng ức chế gốc tự do DPPH theo Shekhar và Anju [7]: 1 mL cao chiết với 1 mL dung
dịch DPPH 0,1 M, ở nhiệt độ phòng trong 30 phút và trong điều kiện tối và đo độ hấp thụ ở λ =
517 nm. Khả năng ức chế gốc tự do DPPH theo công thức:
AA % = (Ao-A1/Ao) x 100.
82
Nghiên cứu chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ trong sử dụng hợp lý tài nguyên,
bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
Trong đó: AA %: Phần trăm ức chế gốc tự do DPPH; Ao: Độ hấp thụ quang phổ của mẫu đối
chứng; A1: Độ hấp thụ quang phổ của mẫu cao chiết. Vitamin C là chất chuẩn.
2.2.5. Khảo sát khả năng ức chế enzyme α-amylase của cao chiết vỏ lựu
Phản ứng ức chế sự thủy phân tinh bột của α-amylase theo Đào Thị Xuân Trang và cs. [2]:
50 μL α-amylase 0,5 U/mL được ủ với 100 μL cao chiết và 100 μL dung dịch đệm Phosphate
pH = 7, ủ ở nhiệt độ 37 0C trong 10 phút, thêm 250 μL tinh bột 1 mg/mL và ủ ở nhiệt độ 37 0C trong
10 phút. Sau đó, hỗn hợp được thêm 100 μL HCl 1 N để dừng phản ứng và 300 μL thuốc thử Iodine
0,1 N để nhận biết lượng tinh bột còn lại dựa trên phản ứng màu xanh đặc trưng của phức hợp tinh
bột-iodine, tiến hành đo quang ở λ = 660 nm để xác định lượng tinh bột còn lại sau phản ứng. Phần
trăm enzyme α-amylase bị ức chế (%): dựa vào lượng tinh bột ban đầu và lượng tinh bột cịn lại
sau phản ứng thơng qua giá trị đo độ hấp thu quang phổ.
Phần trăm enzyme α-amylase bị ức chế (%) = 100 - Hiệu suất phản ứng (%)
Hiệu suất phản ứng (%) = (Ao - A1)/Ao x 100. Trong đó: Ao: Giá trị quang của dung dịch đối
chứng (lượng tinh bột ban đầu). A1: Giá trị quang của dung dịch sau phản ứng (lượng tinh bột còn
lại). Acarbose là chất chuẩn.
2.2.6. Khảo sát khả năng ức chế enzyme α-glucosidase của cao chiết vỏ lựu
Phản ứng ức chế sự thủy phân tinh bột của α-glucosidase theo Đào Thị Xuân Trang và cộng
sự [2]: 100 μL α-glucosidase được ủ với 50 μL cao chiết ở nhiệt độ 37 0C trong 10 phút, thêm
50 μL pNPG nồng độ 4 mM và ủ ở nhiệt độ 37 0C trong 20 phút. Sau cùng, kết thúc phản ứng bằng
việc bổ sung 1000 μL Na2CO3 0,2 M và đo ở λ = 405 nm. Phần trăm α-glucosidase bị ức chế (%)
được tính dựa vào lượng p-nitrophenol tạo thành từ pNPG trong phản ứng qua giá trị đo độ hấp
thu quang phổ.
Phần trăm enzyme α-glucosidase bị ức chế (%) = (B - A)/B x 100. Trong đó: A: Giá trị quang
của mẫu thật. B: Giá trị quang của mẫu đối chứng. Acarbose là chất chuẩn thực hiện tương tự mẫu
cao chiết.
2.3. Phương pháp thống kê
Số liệu thí nghiệm được xử lý bằng phần mềm Excel 2010 và thống kê bằng phần mềm
Statgraphics plus 16.0. Số liệu được trình bày dưới dạng trung bình ± sai số chuẩn.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Kết quả tạo cao chiết vỏ lựu
Quy trình trích cao được thực hiện với vỏ lựu là 5.000 g (tươi), độ ẩm của vỏ trái lựu là 69,04
% và vỏ lựu chiết xuất với các dung môi khác nhau là 300 g (khô) (Bảng 2). Kết quả nghiên cứu
cho thấy, hiệu suất trích cao có sự khác biệt giữa các dung mơi chiết, hiệu suất chiết cao nhất ở
dung môi là Methanol với hiệu suất 13,27 %; dung môi Ethanol đạt hiệu suất 12,71 % và dung môi
nước đạt hiệu suất 10,27 %.
Bảng 2. Kết quả phân tích độ ẩm, hiệu suất của cao chiết vỏ lựu
Chỉ tiêu theo dõi
Khối lượng mẫu tươi (g)
Độ ẩm (%)
Khối lượng mẫu khô (g)
Khối lượng cao khô (g)
Hiệu suất chiết (%)
Cao chiết nước
5.000
69,04 ± 0,27
300
30,80 ± 0,06
10,27 ± 0,11
Cao chiết Ethanol
5.000
69,04 ± 0,27
300
38,13 ± 0,13
12,71 ± 0,19
Cao chiết Methanol
5.000
69,04 ± 0,27
300
39,80 ± 0,24
13,27 ± 0,17
Nghiên cứu chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ trong sử dụng hợp lý tài nguyên,
bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
83
3.2. Định tính các hợp chất có hoạt tính sinh học của cao chiết vỏ lựu
Cao chiết vỏ lựu từ các dung mơi khác nhau điều có chứa các hợp chất Alkaloid, Terpenoids,
Flavonoid, Steroid, Tanin và Phenol (Bảng 3). Kết quả tương tự nghiên cứu của Jayaprakash và
Sangeetha [8] cho rằng, dịch trích vỏ lựu có chứa các hợp chất như Saponin, Flavonoid, Alkaloid,
Terpenoid, Steroid, Tanin và Phenol.
Bảng 3. Kết quả phân tích các hợp chất có hoạt tính sinh học của cao chiết vỏ lựu
Chỉ tiêu theo dõi
Saponin
Flavonoid
Terpenoids
Alkaloid
Tanin và Phenol
Steroid
Cao chiết nước
(+)
(+)
(+)
(+)
(+)
(+)
Cao chiết Ethanol
(+)
(+)
(+)
(+)
(+)
(+)
Cao chiết Methanol
(+)
(+)
(+)
(+)
(+)
(+)
Ghi chú: “+”: dương tính; “-”: âm tính.
3.3. Phân tích hàm lượng Phenolic và Flavonoid tổng của cao chiết vỏ lựu
Hàm lượng Phenolic tổng được tính dựa theo đường chuẩn Gallic acid: y = 0,0049x + 0,0127;
R2 = 0,9985. Hàm lượng Phenolic thấp nhất ở cao chiết vỏ lựu bằng nước là 101,24 mg Gallic
acid/g cao chiết; kế đến cao chiết vỏ lựu bằng Ethanol đạt 273,74 mg Gallic acid/g cao chiết. Cao
nhất, hàm lượng Phenolic ở vỏ lựu bằng Methanol đạt 311,34 mg Gallic acid/g cao chiết (Bảng 4).
Hàm lượng Flavonoid tổng dựa đường chuẩn Quercetin, y = 0,0054x + 0,0185; R2 = 0,9992.
Cụ thể, hàm lượng Flavonoid tổng cao nhất ở cao chiết vỏ lựu bằng Methanol (90,54 mg Quercetin/g
cao chiết); kế đến là cao chiết vỏ lựu bằng Ethanol (79,97 mg Quercetin/g cao chiết) và thấp nhất
là cao chiết vỏ lựu bằng nước (90,54 mg Quercetin/g cao chiết) (Bảng 4).
Bảng 4. Kết quả phân tích hàm lượng Phenolic và Flavonoid tổng của cao chiết vỏ lựu
Mẫu cao chiết
Nước
Ethanol
Methanol
101,24c ± 0,23 237,74b ± 0,04 311,34a ± 0,17
67,99c ± 0,03 79,97b ± 0,13 90,54a ± 0,09
76,67c ± 0,21 118,89b ± 0,19 124,92a ± 0,27
Hoạt chất
Hàm lượng Phenolic (mg gallic acid/g cao chiết)
Hàm lượng Flavonoid (mg quercetin/g cao chiết)
Hàm lượng Tannin (mg tannic acid/g cao chiết)
Ghi chú: các số chữ số giống nhau theo cùng một hàng khơng có ý nghĩa khác biệt
thống kê mức ý nghĩa 5 %. Số liệu được trình bày dưới dạng trung bình ± sai số chuẩn.
0,6
0,5
Độ hấp thu
Độ hấp thu
0,5
0,4
0,3
0,4
0,3
0,2
0,2
0,1
0,1
0
0
20
40
60
Gallic acid (µg/mL)
80
y = 0,0054x + 0,0185
R² = 0,9992
0,6
y = 0,0049x + 0,0127
R² = 0,9985
100
0
0
20
40
60
80
100
Quercetin (µg/mL)
(a)
(b)
Hình 1: Đường chuẩn gallic acid (a) và quercetin (b)
84
Nghiên cứu chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ trong sử dụng hợp lý tài nguyên,
bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
Hàm lượng Tannin tổng được phân tích dựa trên đường chuẩn Tannic acid: y = 0,0128x +
0,0122 với hệ số R2 = 0,9899. Hàm lượng Tannin thấp nhất ở cao chiết vỏ trái lựu bằng nước đạt
76,67 mg Tannic acid/g cao chiết; kế đến là ở cao chiết vỏ trái lựu bằng Ethanol đạt 118,89 mg
Tannic acid/g cao cao chiết và cao nhất là lượng Tannin ở cao chiết vỏ trái lựu bằng Methanol đạt
124,92 mg g Tannic acid/g cao cao chiết (Bảng 4).
3.4. Khả năng kháng oxy hóa của cao chiết vỏ lựu
Tiến hành vẽ đường biểu diễn thể hiện của phần trăm ức chế gốc tự do bằng phương pháp
DPPH của vitamin C dựa vào nồng độ từ nồng độ 0 - 100 µg/mL. Phương trình đường chuẩn
vitamin C: y = 0,8383x + 3,2718; từ đó suy ra giá trị IC50 của vitamin C là 55,73 µg/mL.
Bảng 5. Khả năng kháng oxy hóa của cao chiết vỏ lựu và vitamin C
Nồng độ (µg/mL)
0
20
40
60
80
100
IC50
Vitamin C
0,00f
23,28e ± 0,12
37,19d ± 0,05
54,22c ± 0,21
71,15b ± 0,19
85,27a ± 0,13
55,73
Phần trăm khử gốc tự do (%)
Cao chiết nước Cao chiết Ethanol
0,00f
0,00f
18,34e ± 0,32
23,69e ± 0,32
29,51d ± 0,32
36,65d ± 0,32
45,46c ± 0,32
55,29c ± 0,32
61,00b ± 0,32
73,67b ± 0,32
76,68a ± 0,32
86,43a ± 0,32
65,27
57,26
Cao chiết Methanol
0,00f
27,81e ± 0,32
40,53d ± 0,32
62,49c ± 0,32
78,61b ± 0,32
92,92a ± 0,32
49,57
Ghi chú: các số chữ số giống nhau theo cùng một cột khơng có ý nghĩa khác biệt
thống kê mức ý nghĩa 5 %. Số liệu được trình bày dưới dạng trung bình ± sai số chuẩn.
Tiến hành vẽ đường biểu diễn phần trăm ức chế gốc tự do bằng phương pháp DPPH của cao
chiết vỏ lựu dựa trên kết quả phân tích phần trăm ức chế ở nồng độ 0 - 100 µg/mL.
Cao chiết vỏ lựu bằng nước, phương trình đường chuẩn: y = 0,7533x + 0,8346 và có R2 =
0,9976 và giá trị IC50 của cao chiết vỏ lựu bằng nước là 121,16 µg/mL (Bảng 5).
Cao chiết vỏ lựu bằng Ethanol, phương trình đường chuẩn: y = 0,8582x + 3,0438 và có R2 =
0,9938 và giá trị IC50 của cao chiết vỏ lựu bằng Ethanol là 109,60 µg/mL (Bảng 5).
Cao chiết vỏ lựu bằng Methanol, phương trình đường chuẩn: y = 0,9128x + 4,7533 và có R2
= 0,9889; giá trị IC50 của cao chiết vỏ lựu bằng Methanol là 98,42 µg/mL (Bảng 5).
3.5. Hiệu quả ức chế enzyme α-amylase của cao chiết vỏ lựu
Tiến hành xây dựng phương trình đường chuẩn biễu diễn khả năng ức chế α-amylase của
Acarbose ở các nồng độ từ 0 -100 µg/mL, phương trình đường chuẩn của acarbose: y = 0,7171x +
6,1262 và R² = 0,9746; giá trị IC50 của Acarbose là 76,48 µg/mL (Bảng 6).
Xây dựng phương trình đường chuẩn biễu diễn khả năng ức chế α-amylase của cao chiết vỏ
lựu từ các loại dung môi dựa vào nồng độ từ 0 - 100 µg/mL (Bảng 6).
Cao chiết vỏ lựu bằng nước, phương trình đường chuẩn: y = 0,7117x + 4,8329 và R² =
0,9839; giá trị IC50 của cao chiết vỏ lựu bằng nước là 63,46 µg/mL.
Cao chiết vỏ lựu bằng Ethanol, phương trình đường chuẩn: y = 0,8579x + 9,3619 và R² =
0,9944; giá trị IC50 của cao chiết vỏ lựu bằng Ethanol là 53,24 µg/mL.
Cao chiết vỏ lựu bằng Methanol, phương trình đường chuẩn: y = 0,7884x + 8,0624 và R² =
0,9863; giá trị IC50 của cao chiết vỏ lựu bằng Methanol là 47,37 µg/mL (Bảng 6).
Nghiên cứu chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ trong sử dụng hợp lý tài nguyên,
bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
85
Bảng 6. Hiệu quả enzyme α-amylase của cao chiết vỏ lựu và Acarbose
Nồng độ
(µg/mL)
0
20
40
60
80
100
IC50
Acarbose
0,00f
26,62e ± 0,32
37,73d ± 0,32
49,36c ± 0,32
60,36b ± 0,32
77,83a ± 0,32
76,48
Phần trăm ức chế enzyme α-amylase (%)
Cao chiết nước
Cao chiết Ethanol
Cao chiết Methanol
0,00f
0,00f
0,00f
23,65e ± 0,32
28,45e ± 0,32
33,45e ± 0,32
d
d
36,48 ± 0,32
45,04 ± 0,32
48,57d ± 0,32
46,45c ± 0,32
58,46c ± 0,32
63,25c ± 0,32
b
b
60,25 ± 0,32
70,45 ± 0,32
77,59b ± 0,32
75,69a ± 0,32
82,49a ± 0,32
90,69a ± 0,32
63,46
53,24
47,37
Ghi chú: các số chữ số giống nhau theo cùng một cột khơng có ý nghĩa khác biệt
thống kê mức ý nghĩa 5 %. Số liệu được trình bày dưới dạng trung bình ± sai số chuẩn.
3.6. Hiệu quả ức chế enzyme α-glucosidase của cao chiết vỏ lựu
Xây dựng phương trình đường chuẩn biễu diễn khả năng ức chế α-glucosidase của Acarbose
ở các nồng độ từ 0-100 µg/mL, phương trình đường chuẩn của Acarbose: y = 0,733x - 0,8981 và
R² = 0,9969; giá trị IC50 của Acarbose là 69,44 µg/mL (Bảng 7).
Bảng 7. Hiệu quả enzyme α-glucosidase của cao chiết vỏ lựu và Acarbose
Nồng độ
(µg/mL)
0
20
40
60
80
100
IC50
Acarbose
0,00f
13,59e ± 0,32
27,66d ± 0,32
42,41c ± 0,32
57,58b ± 0,32
73,28a ± 0,32
69,44
Phần trăm ức chế enzyme α- glucosidase (%)
Cao chiết nước
Cao chiết Ethanol
Cao chiết Methanol
f
f
0,00
0,00
0,00f
e
e
12,49 ± 0,32
15,49 ± 0,32
20,11e ± 0,32
26,14d ± 0,32
28,69d ± 0,32
34,97d ± 0,32
c
c
40,89 ± 0,32
43,57 ± 0,32
49,45c ± 0,32
54,67b ± 0,32
59,46b ± 0,32
66,58b ± 0,32
a
a
68,99 ± 0,32
72,57 ± 0,32
79,75a ± 0,32
73,30
68,36
60,37
Ghi chú: các số chữ số giống nhau theo cùng một cột khơng có ý nghĩa khác biệt
thống kê mức ý nghĩa 5 %. Số liệu được trình bày dưới dạng trung bình ± sai số chuẩn.
Xây dựng phương trình đường chuẩn biễu diễn khả năng ức chế α-glucosidase của cao chiết
vỏ lựu từ các loại dung môi dựa vào nồng độ từ 0 - 100 µg/mL (Bảng 7).
Cao chiết vỏ lựu bằng nước, phương trình đường chuẩn y = 0,6946x - 0,8681 và R² = 0,9995;
giá trị IC50 của cao chiết vỏ lựu bằng nước là 73,30 µg/mL (Bảng 7).
Cao chiết vỏ lựu bằng Ethanol, phương trình đường chuẩn y = 0,7281x + 0,2271 và R² =
0,9994; giá trị IC50 của cao chiết vỏ lựu bằng Ethanol là 68,36 µg/mL (Bảng 7).
Cao chiết vỏ lựu bằng Methanol, phương trình đường chuẩn: y = 0,7895x + 2,3357 và R² =
0,9966; giá trị IC50 của cao chiết vỏ lựu bằng Methanol là 60,37 µg/mL (Bảng 7).
4. Thảo luận chung
Trong suốt quá trình sấy mẫu, nhiệt độ cao làm phá vỡ các cấu trúc tế bào bên trong của
nguyên liệu, tạo điều kiện cho dung môi và nguyên liệu tiếp xúc tốt hơn, tăng khả năng ly trích.
Bên cạnh đó, q trình sấy cịn có tác dụng làm giảm độ ẩm của nguyên liệu, giúp tăng tỷ lệ dung
môi sử dụng với nguyên liệu. Độ ẩm là hàm lượng nước tự do có trong mẫu, độ ẩm càng cao tương
ứng với hàm lượng nước có trong mẫu càng nhiều. Hiệu suất chiết giữa các dung mơi có sự khác
biệt phụ thuộc vào dung môi. Các dung môi khác nhau được sử dụng để chiết xuất ra các hợp chất
khác nhau, tùy thuộc vào độ phân cực của dung môi [9].
86
Nghiên cứu chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ trong sử dụng hợp lý tài nguyên,
bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
Phân tích định tính cho thấy, cao chiết vỏ lựu từ các dung mơi khác nhau điều có sự hiện
diện của các hợp chất Alkaloid, Terpenoids, Flavonoid, Steroid, Tannin và Phenol. Nhóm chất
Flavonoid và Polyphenol có các hoạt tính sinh học cao, có ý nghĩa trong hoạt động kháng oxy hóa,
kháng viêm, kháng ung thư và bảo vệ gan.
Bảng 8. Giá trị IC50 (µg/mL) của cao chiết vỏ lựu với khả năng kháng oxy hóa và ức chế
enzyme α-amylase và α-glucosidase trong điều kiện in vitro
STT
1
2
3
4
5
Cao chiết và chất chuẩn
Vitamin C
Cao chiết nước
Cao chiết Ethanol
Cao chiết Methanol
Acarbose
Khả năng khử gốc tự
do DPPH
55,73
65,27
57,26
49,17
-
Ức chế enzyme
α-amylase
63,46
53,24
47,37
76,48
Ức chế enzyme
α-glucosidase
73,30
68,36
60,37
69,44
Hàm lượng Flavonoid, Phenolic và Tannin tổng giữa các dung mơi sử dụng trích ly có sự
khác nhau, hàm lượng Flavonoid, Phenolic và Tannin thể hiện cao nhất cao chiết vỏ lựu bằng
Methanol (311,34 mg Gallic acid/g cao chiết; 90,54 mg Quercetin/g cao chiết; 124,92 mg Tannic
acid/g cao chiết); kế đến cao chiết vỏ lựu bằng Ethanol đạt hàm lượng 237,74 mg Gallic acid/g cao
chiết; 79,97 mg Quercetin/g cao chiết; 118,89 mg Tannic acid/g cao chiết và thấp nhất, cao chiết
vỏ lựu bằng nước chỉ đạt 101,24 mg Gallic acid/g cao chiết; 67,99 mg Quercetin/g cao chiết; 76,67
mg Tannic acid/g cao chiết.
Kết quả nghiên cứu thấp hơn Derakhshan và cộng sự [10], hàm lượng Phenolic ở cao chiết
của 09 loại vỏ trái lựu ở Iran, có hàm lượng Phenolic trong khoảng 12,4 - 413 mg Gallic acid/g cao
chiết khi trích ly với dung mơi Ethanol 80 %. Trong khi đó, Mashkor [11], hàm lượng Phenolic ở
cao chiết vỏ trái lựu trong khoảng 84,15 - 168,26 mg Gallic acid/g và hàm lượng Flavonoid ở cao
chiết vỏ trái lựu đạt trong khoảng 42,40 - 87,21 mg Quercetin/g. Cao chiết khi tiến hành trích ly
với các dung mơi khác nhau là Methanol, Ethanol, Acetone. Hơn nữa, Shahindokht và Doostkam
[12], hàm lượng Phenolic ở cao chiết vỏ trái lựu đạt hàm lượng Phenolic trong khoảng 59,73 189,1 mg Gallic acid/g và hàm lượng Flavonoid trong khoảng 18,61 - 126,0 mg Quercetin/g cao
chiết khi tiến hành trích ly vỏ trái lựu từ các loại dung môi khác và nguồn nguyên liệu ở các đại
phương khác nhau.
Kết quả nghiên cứu thấp hơn Abderrezak và Hayat [13], tổng hàm lượng Tannin của cao
chiết vỏ trái lựu dao động trong khoảng 549,14 - 798,76 mg Tannic acid/g cao khơ khi tiến hành
trích ly vỏ trí lựu bằng các loại dung mơi khác nhau như Ethanol 96 %, Methanol, Acetone, nước
và hỗn hợp nước: Methanol (50:50, v/v). Hơn nữa, Hadjadj và cộng sự [14], hàm lượng Tannin
đạt cao nhất là 47,78 mg CE/g cao chiết khi tiến hành trích ly vỏ trái lựu bằng dung môi Ethanol.
Sự khác nhau về hàm lượng Flavonoid, Phenolic và Tannin của cao chiết vỏ lựu là do i) do
phương pháp trích cao giống nhau có thể cho kết quả khác nhau bởi vì khác biệt về các yếu tố như
giai đoạn sinh trưởng và thời gian lấy mẫu thí nghiệm; (ii) hợp chất có hoạt tính sinh học trong
thực vật bậc cao ở những vị trí khác nhau có hàm lượng, thành phần khác nhau. Điều này giải
thích tại sao cao chiết từ các bộ phận vỏ, lá và thân cho kết quả phân tích hàm lượng hoạt chất sinh
học khác nhau; (iii) thành phần hóa học của các cao chiết khác nhau cho kết quả hàm lượng hoạt
chất sinh học khác nhau; (iv) do sự khác biệt về giống cây trồng, mùa và thời kỳ thu hoạch, điều
kiện khí hậu nơng nghiệp cũng như phương pháp, thời gian khai thác và dung môi chiết xuất [15];
(v) các dung môi thường được sử dụng để chiết xuất hợp chất chống oxy hóa (từ trái cây/rau tươi
Nghiên cứu chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ trong sử dụng hợp lý tài nguyên,
bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
87
ở các nồng độ khác nhau), bao gồm: Aceton; Ethanol, Methanol, Propanol và Ethyl acetate. Khả
năng hòa tan của các hợp chất chống oxy hóa trong dung mơi có ảnh hưởng đáng kể đến việc thu
hồi các hợp chất tại thời điểm chiết xuất. Do đó, độ phân cực của dung mơi có ảnh hưởng gián tiếp
trong q trình chiết xuất vì nó có thể làm tăng khả năng hịa tan của các hợp chất chống oxy hóa.
Hiệu quả kháng oxy hóa bằng phương pháp DPPH của cao chiết vỏ lựu cao hơn so với chất
chuẩn vitamin C. Cụ thể, giá trị IC50 của vitamin C đạt 55,73 µg/mL, trong khi đó giá trị IC50 của
cao chiết vỏ lựu cao hơn 1,17 lần (nước, IC50 = 65,27 µg/mL); cao hơn 1,03 lần (Ethanol, IC50 =
57,26 µg/mL); thấp hơn 0,89 lần (Methanol, IC50 = 49,57 µg/mL). Hiệu quả kháng oxy hóa bằng
phương pháp DPPH của cao chiết vỏ lựu thấp hơn một số nghiên cứu trước đây.
Kết quả nghiên cứu cao hơn nghiên cứu Hadjadj và cộng sự [14], cao chiết vỏ trái lựu có khả
năng kháng oxy hóa bằng phương pháp DPPH với giá trị EC50 đạt 4,64 µg/mL khi tiến hành trích
ly vỏ trái lựu bằng Ethanol 70 %. Hơn nữa, Abderrezak và Chibane (2019) [13], cao chiết vỏ trái
lựu có khả năng kháng oxy hóa bằng phương pháp DPPH với giá trị IC50 đạt lần lượt 76,75 µg/
mL; 85,37 µg/mL; 160,01 µg/mL và 183,71 µg/mL khi tiến hành trích ly vỏ trái lựu bằng các dung
mơi khác nhau như Ethanol; hỗn hợp Methanol và nước (50 : 50, v/v); Acetone và nước. Hiệu quả
kháng oxy hóa bằng phương pháp DPPH của cao chiết vỏ lựu có sự khác biệt giữa các dung môi
chiết xuất là do hàm lượng Phenolic, Tannin và Flavonoid trong các loại cao chiết (Bảng 5). Các
hợp chất Polyphenol gồm một nhóm lớn các chất có khả năng kháng oxy hóa. Khả năng kháng oxy
hóa khử cho phép hợp chất Polyphenol hoạt động như một chất khử cung cấp hydro và làm ngừng
hoạt động của các gốc tự do. Flavonoid là một nhóm các hợp chất có trong thực vật, cho thấy hoạt
tính kháng oxy hóa thơng qua q trình thu nhặt hoặc khử gốc tự do [16].
Acarbose là chất có khả năng ức chế enzyme α-amylase và α-glucosidase và thường được
sử dụng như nghiệm thức đối chứng dương trong các thí nghiệm khảo sát sự ức chế hoạt động của
enzyme α-amylase và α-glucosidase trong điều kiện in vitro.
Khả năng ức chế enzyme α-amylase và α-glucosidase của cao chiết vỏ lựu thấp hơn so với
chất chuẩn Acarbose, với giá trị IC50 của Acarbose đạt 76,48 µg/mL (α-amylase) và 69,44 µg/mL
(α-glucosidase). Trong khi đó, giá trị IC50 của cao chiết vỏ lựu với enzyme α-amylase thấp hơn 1,36
lần (nước, IC50 = 63,46 µg/mL); thấp hơn 1,23 lần (Ethanol, IC50 = 53,24 µg/mL) và thấp hơn 1,13
lần (Methanol, IC50 = 47,37 µg/mL). Giá trị IC50 của cao chiết vỏ lựu với enzyme α-glucosidase
cao hơn 1,11 lần (nước, IC50 = 73,30 µg/mL); thấp hơn 0,98 lần (Ethanol, IC50 = 68,36 µg/mL) và
thấp hơn 0,87 lần (Methanol, IC50 = 60,37 µg/mL).
Các hoạt chất từ thực vật có khả năng ức chế enzyme α-amylase và α-glucosidase có thể
được sử dụng như một nhóm thuốc hỗ trợ điều trị bệnh đái tháo đường bằng cách ngăn chặn sự
thủy phân nhanh các Carbohydrate thành đường đơn và do đó kiểm sốt lượng Glucose huyết [17].
Cao chiết vỏ lựu có khả năng ức chế enzyme α-amylase và α-glucosidase và thể hiện cao nhất ở
cao chiết vỏ lựu được chiết bằng dung môi Methanol (IC50 = 47,37 µg/mL và IC50 = 60,37 µg/mL);
kế đến là dung môi chiết xuất Ethanol và thấp nhất là dung môi nước. Hiệu quả ức chế enzyme
α-amylase và α-glucosidase của cao chiết vỏ lựu có sự tương đồng với hàm lượng Polyphenol và
Flavonoid được xác định ở trên, có nghĩa là những cao chiết giàu Polyphenol và Flavonoid có
khả năng ức chế các enzyme càng cao. Kết quả nghiên cứu thấp hơn Sani và Nair [18], cao chiết
Methanol có khả năng ức chế enzyme α-amylase và ức chế quá trình Glycosyl hóa Hemoglobin
với giá trị IC50 đạt lần lượt là 72,15 µg/mL và 83,21 µg/mL. Trong khi đó, Chukwuma và cộng sự
[19], cao chiết Methanol có khả năng ức chế enzyme α-amylase với giá trị IC50 đạt là 10,60 µg/mL.
Nhiều nghiên cứu khác cũng cho thấy, các cao chiết thực vật có hoạt tính ức chế enzyme
α-amylase và α-glucosidase phụ thuộc vào Polyphenol. Ngồi ra, Flavonoid là một nhóm chính
88
Nghiên cứu chuyển giao, ứng dụng khoa học cơng nghệ trong sử dụng hợp lý tài nguyên,
bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
của các hợp chất Polyphenol đã được báo cáo là có khả năng ức chế enzyme α-amylase và
α-glucosidase. Các nhóm chất trên có hoạt tính ức chế các enzyme trên là do số và vị trí các nhóm
Hydroxyl của chúng trong phân tử đã xác định các yếu tố để ức chế enzyme. Sự ức chế hoạt động
tăng đáng kể với sự gia tăng số lượng nhóm hydroxyl trên vịng B. Các nhóm Hydro trong cấu trúc
phân tử Flavonoid có thể hình thành liên kết Hydro với nhóm –OH trong chuỗi bên hoạt động của
các acid amin chức năng của enzyme giúp cản trở phản ứng giữa enzyme α-amylase và tinh bột sẽ
ức chế quá trình thủy phân tinh bột [20].
5. Kết luận
Cao chiết vỏ lựu là nguồn nguyên liệu tiềm năng, phong phú và chứa nhiều hoạt chất có
hoạt tính sinh học, có thể được sử dụng làm ngun liệu cho q trình sản xuất các sản phẩm có
khả năng hỗ trợ và điều trị bệnh. Cao chiết vỏ lựu có khả năng kháng oxy hóa, ức chế enzyme
α-amylase và α-glucosidase trong điều kiện in vitro. Nghiên cứu phân tách các hoạt chất tiềm năng
và đánh giá hoạt tính sinh học của vỏ lựu trong điều kiện in vitro và in vivo.
Lời cảm ơn: Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn Trung tâm Công nghệ sinh học tỉnh
An Giang và Trường Đại học Trà Vinh đã hỗ trợ và tạo điều kiện để thực hiện nghiên cứu này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Khan, H., Jawad, M., Kamal, M. A., Nabavi, S. M., & Daglia, M (2018). Evidence and prospective of
plant derived flavonoids as antiplatelet agents: Strong candidates to be drugs of future. Food and Chemical
Toxicology. In Press. DOI: 10.1016/j.fct.2018.02.014.
[2]. Đào Thị Xuân Trang, Phạm Thị Lan Anh và Bùi Tấn Anh (2012). Khảo sát khả năng điều trị bệnh tiểu
đường của cao chiết lá ổi (Psidium guajava L.). Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, 22b: 163 - 171.
[3]. Yadav, M., S. Chatterji, S.K. Gupta, & Watal G (2014). Preliminary phytochemical screening of six
medicinal plants used in traditional medicine. International Journal of Pharmacy and Pharmaceutical
Sciences, 6(5): 539 - 542.
[4]. Pieme, C.A. S.G. Kumar, M.S. Dongmo, J.Y. Ngogang, & A.K. Saxena (2014). Antiproliferative
activity and induction of apoptosis by Annona muricata (Annonaceae) extract on human cancer cells. BMC
complementary and alternative medicine, 14(1): 1 - 10.
[5]. Yadav, R.N.S. & M. Agarwala (2011). Phytochemical Analysis of Some Medicinal Plants. Journal of
Phytology, 3: 10 - 14.
[6]. Kavitha, C.C.I. and Indira, G (2016). Quantitative estimation of total phenolic, flavonoids, tannin
and chlorophyll content of leaves of Strobilanthes Kunthiana (Neelakurinji). Journal of Medicinal Plants
Studies 4 (4): 282 - 286.
[7]. Shekhar, T.C. & G. Anju (2014). Antioxidant Activity by DPPH Radical Scavenging Method of Ageratum
conyzoides Linn. Leaves. American Journal of Ethnomedicine, Vol. 1, No. 4, pp. 244 - 249.
[8]. Jayaprakash, A. and Sangeetha, R. (2015). Phytochemical Screening of Punica granatum Linn. Peel
Extracts. Journal of Academia and Industrial Research, 4 (5): 160 - 162.
[9]. Boeing, JS. O.B. Érica, F.M. Paula, & V.V. Jesuí (2014). Evaluation of solvent effect on the extraction
of phenolic compounds and antioxidant capacities from the berries: application of principal component
analysis. Chemistry Central Journal, 8(1): 48.
[10]. Derakhshana, Z., Margherita F., Marzieh T., Farnoosh A., Ali H., Motahreh S. Hosseinig, Gea O.C.
& Elham K.S. (2018). Antioxidant activity and total phenolic content of ethanolic extract of pomegranate
peels, juice and seeds. Food and Chemical Toxicology, 114: 108 - 111.
Nghiên cứu chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ trong sử dụng hợp lý tài nguyên,
bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
89
[11]. Mashkor, I.M.AA. (2014). Total phenol, Total Flavonoids and Antioxidant Activity of Pomegranate
Peel. International Journal of ChemTech Research CODEN, 6 (11): 4656 - 4661.
[12]. Shahindokht, B.J.P. & Doostkam, A (2019). Comparative evaluation of bioactive compounds of
various cultivars of pomegranate (Punica granatum) in different world regions. AIMS Agriculture and
Food, 4(1): 41 - 55.
[13]. Abderrezak, K, & Hayat A.C. (2019). Comparison of five solvents in the extraction of phenolic
antioxidants from pomegranate (Punica granatum L.) peel. The North African Journal of Food and Nutrition
Research 03 (05): 140 - 147.
[14]. Hadjadj, S., Benyahkem M., Lamri K. & Ould El H.K.A (2018). Potential assessment of pomegranate
(Punica granatum l.) fruit peels as a source of natural antioxidants. Pharmacophore, 9(4): 29 - 35.
[15]. Borochov-Neori, H., Judeinstein, E., Harari, M., Greenberg, A., Shomer, I. and Holland, D (2009).
Seasonal and cultivar variations in antioxidant and sensory quality of pomegranate (Punica granatum L.)
fruit. Journal of Food Composition and Analysis 22 (3): 189 - 195.
[16]. Baharfar, R., R. Azimi, & M. Mohseni (2015). Antioxidant and antibacterial activity of flavonoid-,
polyphenol- and anthocyanin-rich extracts from Thymus kotschyanus boiss & hohen aerial parts. J Food Sci
Technol, 52(10): 6777 - 6783.
[17]. Zhenhua, Y., Z. Wei, Z. Yong, & K. Wenyi (2014). α-Glucosidase inhibitors isolated from medicinal
plants. Food Science and Human Wellness, 3(4): 136 - 174.
[18]. Sani, B. & Nair, S (2017). Studies on in vitro evaluation of antidiabetic potentials of watermellon and
pomegranate peels. Bayero Jour of Pure and Applied Sciences, 10(1): 32 - 35.
[19]. Chukwuma, C.I., Mashele S. & Akuru E.A (2020). Evaluation of the in vitro α-amylase inhibitory,
antiglycation, and antioxidant properties of Punica granatum L. (pomegranate) fruit peel acetone extract
and its effect on glucose uptake and oxidative stress in hepatocytes. Journal of Food Biochemistry,
44(5):e13175.
[20]. Kang, B.H., K. Racicot, S.J. Pilkenton, & E. Apostolidis. (2014). Evaluation of the in vitro antihyperglycemic effect of Cinnamomum cassia derived phenolic phytochemicals, via carbohydrate hydrolyzing
enzyme inhibition. Plant Foods Hum Nutr, 69(2): 155 - 60.
Ngày chấp nhận đăng: 10/11/2021. Phản biện: TS. Nguyễn Thị Phương Mai
90
Nghiên cứu chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ trong sử dụng hợp lý tài nguyên,
bảo vệ môi trường và phát triển bền vững