TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----o0o----NGÔ THỊ MINH HẰNG
TIẾP XÚC VĂN HÓA VIỆT – PHÁP
TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC Ở NAM KỲ
Ngành: Văn hoá học
Mã số: 9229040
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS. TRẦN LONG
TS. TRẦN THANH NHÀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2022
Cơng trình được hồn thành tại:
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------
Người hướng dẫn khoa học:
TS. TRẦN LONG
TS. TRẦN THANH NHÀN
Phản biện độc lập 1: PGS.
TS LÂM NHÂN
Phản biện độc lập 2: PGS.
TS. NGUYỄN ĐỨC LỘC
Phản biện 1:
PGS. TS. LÂM NHÂN
Phản biện 2:
PGS. TS. NGUYỄN ĐỨC LỘC
Phản biện 3:
TS. ĐINH THỊ DUNG
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án Tiến sĩ Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân Văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí
Minh.
Vào lúc………giờ…… Ngày ……tháng ……. năm 2022
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư viện Đại học quốc gia TP.HCM
Thư viện Trường Đại học KHXH&NV, TP.HCM
Thư viện Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
DANH MỤC CƠNG TRÌNH KHOA HỌC
CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Ngô Thị Minh Hằng. 2020. Sự biến đổi mơi trường văn hố giáo
dục Nam Kỳ từ truyền thống đến hiện đại giai đoạn 1861 -1945,
Tạp chí Khoa học ĐH Sư Phạm Tp HCM, ISSN: 1859 -3100,
27/02/2020.
2. Ngô Thị Minh Hằng. 2020. Tổ chức và vận hành hệ thống giáo
dục Nam Kỳ thời thuộc Pháp (1861 - 1945), Tạp chí Khoa học Xã
Hội, ISSN: 1859 -0136, 10/02/2020.
3. Ngơ Thị Minh Hằng. 2020. Giáo dục của Thực dân Pháp với các
dân tộc thiểu số ở Nam Kỳ giai đoạn 1862-1945, Tạp chí Phát triển
khoa học và Cơng Nghệ, Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh, ISSN:
2588-1043, 20/12/2020
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trước khi Pháp xâm lược Việt Nam, giáo dục của nước ta chịu ảnh hưởng của giáo dục
Nho giáo, từ nhận thức, cách tổ chức trường học, phương pháp giảng dạy cho đến chương
trình, sách giáo khoa, hình thức thi cử và ngơn ngữ dùng trong nhà trường. Một nền giáo dục
chỉ hướng đến việc học chữ và thi cử mà coi nhẹ việc học nghề và khoa học tự nhiên.
Sau khi thực dân Pháp hoàn thành việc chinh phục bằng quân sự, Pháp đã thực hiện việc
chinh phục về mặt tinh thần, mà việc đầu tiên là xây dựng ở Nam Kỳ một hệ thống giáo dục
theo mơ hình của Pháp. Khi xác lập hệ thống giáo dục mới, người Pháp đã từng bước xoá bỏ
nền giáo dục Nho học, thay vào đó là một nền giáo dục theo mơ hình văn hoá giáo dục
phương Tây, thay đổi tổ chức hệ thống các trường học từ tiểu học cho đến đại học, thay đổi
cách thức tổ chức lớp học, xây dựng cơ sở vật chất, phát triển đội ngũ giáo viên, học sinh…
Tại Nam Kỳ, nơi người Pháp thiết lập hệ thống giáo dục đầu tiên nhưng hệ thống giáo dục ở
đây mới chỉ có bậc tiểu học, trung học và các trường dạy nghề, chưa có các trường Đại học và
Cao đẳng như ở Bắc Kỳ.
Với hệ thống giáo dục này, mục đích của thực dân Pháp nhằm đào tạo những công chức,
viên chức bản xứ để làm việc cho bộ máy thống trị thuộc địa. Một nền giáo dục được thành
lập để phục vụ cho mục đích thống trị, ngồi những hạn chế thì về mặt khách quan nó cũng có
những đóng góp nhất định cho văn hóa giáo dục Việt Nam, góp phần đặt cơ sở cho giáo dục
Việt Nam hiện đại. Nền giáo dục Việt Nam chịu ảnh hưởng của nền giáo dục Pháp trong một
thời gian dài và có những yếu tố cịn tiếp tục ảnh hưởng cho đến ngày nay. Quá trình áp đặt hệ
thống giáo dục theo mơ hình văn hóa giáo dục Pháp cũng chính là q trình tiếp nhận và biến
đổi văn hóa giáo dục Việt – Pháp ở trong phạm vi cả nước nói chung và ở Nam Kỳ nói riêng.
Đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về giáo dục Việt Nam và tiếp xúc văn hóa giáo dục
Việt - Pháp ở giai đoạn này, nhưng các cơng trình nghiên cứu chủ yếu tiếp cận dưới góc độ
lịch sử, giáo dục, cịn ít các cơng trình nghiên cứu tiếp xúc văn hóa giáo dục Việt - Pháp dưới
góc độ văn hóa. Nghiên cứu tiếp xúc văn hóa qua trường hợp giáo dục sẽ cho phép chúng ta
nhìn nhận những thay đổi về quan niệm, nhận thức của xã hội đối với giáo dục; thay đổi về
văn hóa tổ chức, quản lý trường học; và văn hóa ứng xử trong học đường… Nói một cách khái
qt, đó chính là q trình biến đổi văn hóa giáo dục ở Việt Nam nói chung và Nam Kỳ nói
riêng trong thời kỳ thuộc Pháp. Nhằm xem xét q trình tiếp xúc văn hóa Việt – Pháp trong
lĩnh vực giáo dục diễn ra như thế nào, phục dựng lại bức tranh tổng thể về sự biến đổi văn hóa
giáo dục Nam Kỳ thời Pháp thuộc, từ đó rút ra những hệ quả, đặc điểm, bài học kinh nghiệm
cho sự phát triển của giáo dục Việt Nam hiện nay, Nghiên cứu sinh đã chọn vấn đề “Tiếp xúc
văn hoá Việt - Pháp trong lĩnh vực giáo dục ở Nam Kỳ” làm đề tài luận án tiến sỹ để nghiên
cứu.
2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1. Mục đích nghiên cứu
2
Nghiên cứu q trình tiếp xúc văn hố giáo dục Việt – Pháp ở Nam Kỳ giai đoạn 1858 –
1945 dưới góc nhiǹ văn hóa ho ̣c, nhằ m mu ̣c đić h tim
̀ hiể u những ảnh hưởng tić h cực của quá
triǹ h tiế p xúc đó đố i với nề n văn hóa Việt Nam giai đoạn này. Từ đó, rút ra những kinh
nghiệm của sự tiếp xúc này đến giáo dục Việt Nam trong giai đoạn tồn cầu hố hiện nay.
2.2. Nhiệm vu ̣ nghiên cứu
- Tổ ng quan về tiǹ h hiǹ h nghiên cứu các công triǹ h liên quan đế n luận án.
- Hệ thố ng cơ sở lý luận và vận dụng các lý thuyết nghiên cứu để giải quyế t các vấ n đề
của luận án.
- Khái quát quá trình tiếp xúc văn hố giáo dục của Pháp và những chính sách điều
chỉnh, cải cách của pháp về giáo dục áp đặt ở Nam Kỳ.
- Phân tích q trình tiếp nhận nền giáo dục Pháp vào Nam Kỳ.
- Đưa ra những hệ quả của q trình tiếp xúc văn hố giáo dục Pháp và rút ra những
bài học kinh nghiệm của giáo dục Việt Nam giai đoạn hiện nay.
3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
3.1. Câu hỏi nghiên cứu
Các câu hỏi nghiên cứu cho đề tài nghiên cứu được đặt ra như sau:
1. Bối cảnh kinh tế xã hội ở Nam Kỳ khi tiếp xúc với giáo dục Pháp? Sự ảnh hưởng
của Pháp đến văn hoá Việt Nam trên các lĩnh vực văn hoá như thế nào?
2. Sự tiếp xúc văn hoá giáo dục Pháp giai đoa ̣n 1858 - 1945, người Việt Nam nói
chung và Nam Kỳ nói riêng đã tiế p nhận những nội dung mới gì từ văn hóa Pháp? Q trình
tiếp nhận đó đã tạo nên những biế n đổi văn hóa giáo dục của dân tộc trên các phương diện
nhận thức, tổ chức, ứng xử như thế nào?
3. Những đặc điểm, hệ quả tích cực và hạn chế của q trình tiếp xúc văn hóa giáo dục
Việt – Pháp ảnh hưởng đến Việt Nam thế nào? Những bài học kinh nghiệm rút ra gì cho nền
giáo dục của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay?
3.2. Giả thuyết nghiên cứu
Khi nghiên cứu quá trình tiếp xúc văn hóa Việt – Pháp trên lĩnh vực giáo dục ở Nam Kỳ,
văn hóa Việt Nam đã tiếp nhận văn hố Pháp nhưng có sự sàng lọc và biến đổi để phù hợp với
văn hoá bản đia.
Người Pháp trong quá trình cai trị thuộc địa đã thiết lập nền giáo dục Pháp – Việt nhằm
tuyên truyền nền văn minh của Pháp để người Việt quen đi nền văn hoá bản địa. Tuy nhiên,
ngược lại với mong muốn của Pháp, những tư tưởng tiến bộ, tự do, bình đẳng, dân chủ đã du
nhập vào Việt Nam. Qua sự tiếp nhận nền giáo dục mới, cùng với sức mạnh của nền văn hoá
bản địa, người Việt Nam đã hấp thu những giá trị ưu tú trong văn hoá Pháp, biến nó thành sức
mạnh và cơng cụ để giải quyết các vấn đề của lịch sử dân tộc. Nền giáo dục Pháp – Việt đã
làm thay đổi về nhận thức, tổ chức, ứng xử… về học tập, nội dung, quan hệ giữa cách chủ thể
giáo dục, góp phần hình thành nền giáo dục dân tộc của Việt Nam giai đoạn cận đại.
3
Trong bối cảnh tồn cầu hố hiện nay, việc tiếp xúc và giao lưu văn hoá với nhiều nước
khác nhau trên thế giới rất phổ biến, nền văn hoá Việt Nam, trong đó có giáo dục có nguy cơ
bị mất đi những giá trị bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc
4. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu nền giáo dục Việt Nam giai đoạn cận đại là một đề tài nghiên cứu của nhiều
ngành khoa học khác nhau như: Lịch sử, Giáo dục học, văn hoá học…. Và thu hút nhiều nhà
nghiên cứu Việt Nam và thế giới. Ở nhiều góc độ khác nhau, các cơng trình nghiên cứu đã đưa
ra những kết luận và nhận xét đa chiều về văn hoá giáo dục giai đoạn cận đại. Nhìn tổng thể,
nghiên cứu giáo dục Việt Nam thời cận đại nói chung và nghiên cứu tiếp xúc văn hóa giáo dục
Việt - Pháp nói riêng có các nhóm tác giả và các cơng trình tiêu biểu sau đây:
4.1. Các công nghiên cứu về giáo dục thời Nguyễn
Các công trình đã trình bày rất cụ thể về lịch sử giáo dục Việt Nam từ thời Bắc thuộc
đến thời phong kiến. Chính quyền phong kiến đã rất quan tâm đến việc dạy và học để tuyển
chọn nhân tài cho đất nước. Các cơng trình cũng đã trình bày khá cụ thể về chế độ khoa cử
thông qua các kỳ thi: Hương, Hội, Đình, qua đó thấy được tinh thần hiếu học của các người
xưa và vài trò của người thầy trong việc truyền thụ tri thức.
4.2.
Các cơng trình nghiên cứu của các tác giả về quá trình tiếp xúc văn hóa
Việt – Pháp
Những cuốn sách đã tái hiện rất chi tiết bối cảnh xã hội Việt Nam trước và sau khi
Pháp xâm lược. Quá trình Pháp tiến hành tổ chức cai trị ở Việt Nam, triều đình chống lại sự
bành trướng của Pháp qua thái độ của các quan lại, sĩ phu nỗi dậy chống Pháp. Khi tiếp xúc
với phương Tây đã làm xuất hiện những tư tưởng canh tân, cải cách văn hoá dân tộc.
Khi tiếp xúc và giao lưu với văn hoá Pháp đã làm thay đổi văn hóa Việt Nam trên
nhiều phương diện, cụ thể là về tôn giáo, ngôn ngữ, tư tưởng, văn học, nghệ thuật… trong đó
có giáo dục. Nền giáo dục mới do Pháp tổ chức đã tác động tích cực đến Việt Nam, đó là đổi
mới về nhận thức của dân tộc, đó là chủ nghĩa duy lý, nhìn đối tượng ở khía cạnh tồn nhân
loại, chống lại mơi giáo điều, đề cao chủ nghĩa cá nhân, chấp nhận đối thoại và tư duy phân
tích.
4.3. Nhóm các cơng trình nghiên cứu về lịch sử giáo dục Việt – Pháp
Những cuốn sách liên quan đến lịch sử giáo dục, cung cấp cho người đọc cái nhìn
khách quan về lịch sử Việt Nam khi Pháp xâm lược. các tác giả giải thích các nguyên nhân
khiến Pháp vào Việt Nam và chính sách cai trị của Pháp như: bộ máy cai trị, chế độ thuế
khố, cơng cuộc khai thác thuộc địa… ảnh hưởng đến xã hội Việt Nam Trước tình hình biến
động, những cuốn sách trình bày sự kháng cự của triều đình Huế và các sĩ phu Việt Nam,
cũng như thái độ của người dân Việt Nam trước chế độ thuộc địa do Pháp cai trị.
Những cuốn sách này đã khái quát hệ thống giáo dục Việt - Pháp trước năm 1945 trên
các lĩnh vực như giáo dục tiểu học, trung học, cao đẳng, đại học. Tác giả phân tích nền giáo
dục ở Việt Nam thời Pháp thuộc đã trải qua 2 cuộc cải cách quan trọng. Cuộc cải cách lần
4
thứ 1 là thiết lập một hệ thống trường lớp theo mơ hình của nhà nước Pháp, dần dần loại bỏ
sử dụng chữ Hán trong giáo dục. Trong cuộc cải cách lần 2, mục đích của chính quyền Pháp
là dần dần hoàn thiện hơn hệ thống giáo dục cũng như truyền bá chữ Pháp trong toàn cõi
Việt Nam. Những tác giả cung cấp cho độc giả cái nhìn tồn diện về giáo dục Việt Nam thời
Pháp thuộc và ảnh hưởng của nó trên các mặt kinh tế, văn hố, xã hội của Việt Nam giai
đoan cận đại. Nền giáo dục mới của Việt Nam giai đoạn này đã đáp ứng được nhu cầu của xã
hội Việt Nam khi nền giáo dục truyền thống đã khơng cịn phù hợp, u cầu phải đổi mới.
Nền giáo dục mặc dù mục đích nhằm phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị của Pháp,
nhưng đã đào tạo ra những trí thức tiến bộ, có tinh thần dân tộc, đã biết kết hợp văn hố
Đơng - Tây để giải phóng dân tộc.
Các cơng trình trên đây là những cơng trình nghiên cứu về lịch sử trong đó có phần
trình bày về giáo dục và tiếp xúc văn hoá giáo dục như là một bộ phận trong tiến trình lịch sử
dân tộc Việt Nam, vì vậy những nội dung giáo dục cịn được trình bày ở dạng khái qt, nên
khơng thể trình bày một cách đầy đủ và sâu sắc văn hóa giáo dục ở Việt Nam nói chung và
Nam Kỳ nói riêng.
4.4. Nhóm các cơng trình nghiên cứu về tiếp xúc văn hóa giáo dục Việt – Pháp
Toàn cảnh nền giáo dục đã được các tác giả trình bày qua số lượng trường học, các bậc
học, từ đó đưa ra kết luận về nền giáo dục thực dân ở Việt Nam, chỉ ra những mặt “tích cực”
và “tiêu cực” trong chính sách giáo dục của Pháp vào Việt Nam. Những Tác giả đã đưa ra
một góc nhìn mới khách quan và tồn diện về nền giáo dục Pháp – Việt giai đoạn này.
Trường học được tổ chức chặt chẽ, tập trung, đúng giờ, chương trình học theo từng cấp học,
theo từng hệ, với nhiều đối tượng học sinh. Học sinh chuyển từ lối học thụ động sang lối học
chủ động tích cực tham gia vào việc tiếp nhận kiến thức. Việc học đi đơi với thực hành,
mang tính thực tế hơn, học sinh thay đổi nhận thức và phương pháp tư duy và lối sống, mở
ra một môi trường xã hội cho thanh niên Việt Nam. Với sự phát triển của giáo dục và sử
dụng chữ quốc ngữ trong trường học, số học sinh đi học tăng lên, tạo cơ hội cho sự phát triển
của nghệ thuật, báo chí.
Với nền giáo dục mới đã đạo tạo ra nhiều trí thức mới, nhưng mang trong mình tinh
dần tự hào dân tộc. Những phản ứng của trí thức Nho học trước sự ảnh hưởng của văn minh
phương Tây vào Việt Nam. Các nhà Nho tiêu biểu giai đoạn này với tư tưởng canh tân đã
chủ động tiếp nhận những mặt tích cực của văn hố phương Tây trên cơ sở dung hợp văn
hố Đơng – Tây. Xuất hiện những tầng lớp trí thức mới tồn tại song song với tầng lớp trí
thức Nho giáo. Sự đan xen giữa các thế hệ trí thức đã làm cho văn hố truyền thống Việt
Nam khơng bị đứt gãy mà vẫn ổn định phát triển cùng với thời cuộc.
Những bài viết, sách và cơng trình khoa học của các tác giả người Pháp, người Mỹ,
người Việt nói trên đã đề cập khá tồn diện về tình hình chính trị, kinh tế, văn hố và giáo dục
của Đơng Dương nói chung và Việt Nam nói riêng. Các cơng trình trên đều có một điểm
chung là đi sâu nghiên cứu về quá trình du nhập và phát triển của giáo dục Việt – Pháp. Về
văn hoá giáo dục ở Nam Kỳ thì các tài liệu chưa đề cập chi tiết, nhiều tài liệu trên được trình
5
bày dưới góc nhìn của các học giả nước ngồi nên cách nhìn nhận, đánh giá vấn đề chưa được
khách quan và tồn diện. Nhìn chung các nguồn tài liệu nói trên trình bày về giáo dục Nam
Kỳ thời thuộc Pháp, nhưng phần lớn các cơng trình đều tiếp cận giáo dục dưới góc độ giáo
dục hoặc lịch sử, chưa có cơng trình nào đi sâu tiếp cận dưới góc độ văn hoá. Mặc dù vậy, đây
là nguồn tư liệu phong phú cho phép chúng tôi những chất liệu cụ thể và cái nhìn tồn diện, đa
chiều để kế thừa nghiên cứu tiếp xúc văn hoá giáo dục Nam Kỳ.
5. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
5.1. Đối tượng nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tiếp xúc văn hoá giáo dục Việt – Pháp ở Nam Kỳ
giai đoạn 1858 – 1945, thông qua các trường do người Pháp tổ chức và các trường được Pháp
cho phép tổ chức, trong đó nhấn mạnh q trình biến đổi văn hố giáo dục ở Nam Kỳ được
thể hiện ở các nội dung văn hoá nhận thức giáo dục; văn hoá tổ chức giáo dục; văn hoá ứng xử
trong trường thời Pháp thuộc.
5.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án
Phạm vi về không gian: Luận án trung nghiên cứu quá trình tiếp xúc văn hoá giáo
dục Việt - Pháp ở Nam Kỳ thời thuộc Pháp. Địa giới hành chính của Nam Kỳ lúc bấy giờ
tương ứng với khu vực Nam Bộ hiện nay, bao gồm vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ.
Phạm vi về thời gian: Thời gian mà luận án đề cập tập trung nghiên cứu là từ năm
1858 đến năm 1945. Nghiên cứu sinh chọn mốc thời gian này vì năm 1858 là thời điểm thực
dân Pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam và áp đặt hệ thống giáo dục Pháp – Việt đầu tiên ở Nam
Kỳ, cụ thể là năm 1861, Pháp thành lập ngôi trường đầu tiên là Trường Thông ngôn Bá Đa
Lộc (Évque d’ Adran). Năm 1945 là mốc kết thúc thời gian nghiên cứu của đề tài, vì đây là
giai đoạn chính quyền đơ hộ của thực dân Pháp bị sụp đổ, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
ra đời. Giai đoạn từ năm 1858 – 1945, là giai đoạn thể hiện rõ nhất sự tiếp xúc, ảnh hưởng,
biến đổi về văn hoá giáo dục ở Nam Kỳ.
Phạm vi về chủ thể: Chủ thể tiếp nhận văn hoá Việt – Pháp ở đây là người dân Nam
Kỳ đối với văn hoá giáo dục Pháp; chủ thể của văn hố nhận thức giáo dục chính là xã hội và
chính quyền quản lý hành chính đối với việc dạy và học trong trường; chủ thể của văn hố tổ
chức giáo dục chính là chính quyền thực dân ở Nam Kỳ trong việc tổ chức và quản lý việc
giáo dục và đào tạo. Chủ thể của văn hoá ứng xử trong giáo dục chính là chính quyền thực
dân, các cấp quản lý giáo dục với những chủ trương, chính sách, chế độ đãi ngộ đối với người
thầy và người học và đối với phụ huynh. Còn trong trường học đó là những chủ thể trực tiếp
giữa thầy và trò, giữa trò và trò.
Giới hạn về nội dung: Nam Kỳ là khu vực Pháp đầu tư giáo dục khá sớm nhưng chủ
yếu tập trung đầu tư cho giáo dục phổ thơng và giáo dục dạy nghề, cịn giáo dục cao đẳng và
đại học chưa có, do đó phạm vi nội dung của luận án, nghiên cứu sinh chỉ xác định tập trung
nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục phổ thông và giáo dục dạy nghề. Nghiên cứu văn hóa giáo
dục phổ thơng và dạy nghề Việt – Pháp, luận án tập trung vào những nhân tố tác động đến quá
6
trình tiếp xúc và biến đổi văn hóa giáo dục như chính sách giáo dục của thực dân Pháp đối
người dạy và người học, những biến đổi về nội dung, chương trình, phương pháp dạy học, mối
quan hệ ứng xử giữa thầy giáo và học sinh, học sinh với học sinh trong trường học Pháp –
Việt. Tìm hiểu những ảnh hưởng tích cực cũng như hạn chế của văn hố giáo dục Pháp đối
với giáo dục Việt Nam ở Nam Kỳ.
Luận án chỉ tìm hiểu ảnh hưởng tác động của của văn hoá giáo dục Pháp ở Nam Kỳ
Việt Nam giai đoạn 1858 – 1945 (không tim
̀ hiể u sự tác động trở la ̣i của văn hóa Việt Nam
với văn hóa Pháp). Để đảm bảo tính liên tục, hệ thống và làm rõ được sự biến đổi văn hóa
giáo dục, luận án cịn trình bày thêm nghiên cứu về văn hố giáo dục Nam Kỳ Triều Nguyễn
và có liên hệ văn hoá giáo dục Việt Nam hiện nay.
6.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
Để nghiên cứu đạt được những mục tiêu đề ra, luận án đã sử dụng các cách tiếp cận và
các phương pháp nghiên cứu sau đây: Phương pháp hồi cứu tài liệu, Phương pháp so sánh
văn hoá, Phương pháp hệ thống – cấu trúc, phương pháp phân tích và tổng hợp, Phương
pháp tiếp cận liên ngành: nghiên cứu sinh đã sử dụng cách tiếp cận liên ngành trong nghiên
cứu như phương pháp lịch sử và phương pháp logic của khoa học lịch sử, Phương pháp
thống kê.
7. NGUỒN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU CỦA. LUẬN ÁN
Để hoàn thành luận án, chúng tôi đã thu thập các nguồn tài liệu sau đây:
- Nguồn tài liệu ở các Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, II, Thư viện quốc gia Việt Nam,
Thư viện Đa ̣i ho ̣c Khoa học Xã hội và Nhân văn, Các văn bản về văn hóa, giáo dục của chính
quyền thuộc địa Pháp, sách, các bài viết của các nhà thực dân, những nhà nghiên cứu đương
thời được lưu trữ tại đây.
- Các tài liệu, sách, tạp chí của các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa, giáo dục được xuất
bản qua các giai đoạn lịch sử.
- Các tài liệu của các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học, các cơ quan quản lý giáo
dục, văn hóa trong và ngồi nước; tài liệu trên các website có độ tin cậy.
8. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN
8.1.
Ý nghĩa khoa học: Luận án tập trung hệ thống lại tình hình nghiên cứu của
các tác giả trong và ngồi nước về các khía cạnh khác nhau liên quan đến văn hóa Việt –
Pháp. Từ góc độ văn hóa học, luận án phục dựng lại bức tranh tồn cảnh q trình tiếp xúc
văn hóa giáo dục Việt – Pháp ở Nam Kỳ giai đoạn từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1945. Luận án
có cách nhìn mới về sự tiếp xúc ảnh hưởng và thay đổi về văn hoá giáo dục của Nam Kỳ giai
đoạn này, góp phần bổ sung thêm nghiên cứu tiếp xúc và giao lưu văn hóa Việt – Pháp, những
biến đổi của văn hóa giáo dục ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc. Với những kết quả nghiên cứu, luận
án giúp người đọc nhận thức rõ hơn và đánh giá một cách khách quan về sự biến đổi và tác
động của văn hóa giáo dục Việt – Pháp.
8.2.
Ý nghĩa thực tiễn: Việc nghiên cứu đề tài luận án góp phần lý giải những
thay đổi về văn hoá giáo dục ở Nam Kỳ, từ đó rút ra những đặc điểm, hệ quả, bài học kinh
7
nghiệm cho việc xây dựng, cũng cố và phát huy vai trò của giáo dục trong sự nghiệp phát triển
của đất nước hiện nay. Luận án cũng bổ sung thêm một hướng tiếp cận và phương pháp
nghiên cứu các hiện tượng, các thành tố các hoạt động tinh thần của xã hội của ngành văn hoá
học.
Từ những kết quả nghiên cứu, luận án sẽ cung cấp thêm những tư liệu mới, đặc biệt là
tư liệu lưu trữ nghiên cứu về văn hoá giáo dục Việt – Pháp giai đoạn cận đại, tài liệu tham
khảo cho giảng dạy, học tập và nghiên cứu về q trình tiếp xúc văn hóa giáo dục Việt – Pháp
ở Nam Kỳ nói riêng và Việt Nam nói chung.
9. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Ngồi phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án cịn có 4 chương
nội dung sau đây:
Chương 1. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn.
Chương 2. Giáo dục triều Nguyễn ở Nam Kỳ trước khi Pháp xâm lược
Chương 3. Biến đổi văn hoá giáo dục Việt – Pháp ở Nam Kỳ khi tiếp xúc với giáo dục Pháp
Chương 4. Đặc điểm và bàn luận về văn hoá giáo dục Việt – Pháp ở Nam Kỳ
PHẨN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1.1. Khái niệm văn hóa
1.1.1.2. Khái niệm văn hóa giáo dục và cấu trúc của văn hố giáo dục
1.1.1.3. Khái niệm tiếp xúc và giao lưu văn hoá
1.1.2. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu của đề tài
Lý thuyết giao lưu và tiếp xúc văn hóa: có thể nói, q trình tiếp xúc văn hố như
là một quy chế điển hình của chuyển giao văn hố, và Việt Nam được xem như một
quy chiếu điểu hình của sự chuyển giao trong thời điểm tiếp xúc với văn hoá Phương
Tây, cụ thể là với người Pháp. Quá trình chuyển giao giáo dục luôn là một trong
những vectơ quan trọng để nghiên cứu chuyển giao văn hoá Việt Nam giai đoạn cận đại.
Lý thuyết triết lý giáo dục: triết lý giáo dục có quan hệ mật thiết với bộ dấu hiệu nhận
diện của các cơ sở giáo dục, trong bộ dấu hiệu nhận diện của các cơ sở giáo dục ở trên thế
giới và Việt Nam, số lượng và thành phần của các thành tố có thể khác nhau, song phổ biến
nhất là các thành tố Sứ mệnh (mission), Mục đích (Aims, Purpose), Mục tiêu (Objective). Sứ
mệnh (mục đích) và mục tiêu là những phạm trù tối thiểu cần thiết cho việc tham gia vào cấu
trúc của triết lý giáo dục. Hai thành tố này tạo nên câu trúc tối thiểu của triết lý giáo dục.
Đến lượt mình, mục tiêu giáo dục quy định nguyên lý và những giá trị cốt lõi của văn hoá
8
giáo dục. Bốn thành tố sứ mệnh, mục tiêu, nguyên lý và những giá trị cốt lõi của văn hoá
giáo dục tạo nên cấu trúc cơ bản của triết lý giáo dục.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Khơng gian văn hố Nam Kỳ
Năm 1834, theo chỉ du ̣ năm Minh Mệnh 15, Nam Kỳ gồm: Gia Đi ̣nh, Biên Hòa, Đi ̣nh
Tường, Viñ h Long, An Giang, Hà Tiên. Năm 1867, sau khi chiếm đóng 6 tỉnh Nam Kỳ, thực
dân Pháp đã nhiều lần thay đổi về địa giới cũng như đơn vị hành chính của nhiều tỉnh. Năm
1899, thực dân Pháp chia Nam Kỳ thành 20 tỉnh. Như vậy, sau nhiều lần phân chia, đến thời
điểm này, Nam Kỳ có 20 tỉnh (Gia Đinh,
̣ Châu Đố c, Hà Tiên, Ra ̣ch Giá, Trà Vinh, Sa Đéc,
Bế n Tre, Long Xuyên, Tân An, Sóc Trăng, Thủ Dầ u Một, Tây Ninh, Biên Hòa, Mỹ Tho, Bà
Ria,̣ Chơ ̣ Lớn, Viñ h Long, Gò Công, Cầ n Thơ, Ba ̣c Liêu, Cap Saint Jacques (Vũng Tàu).
1.2.2. Thời gian văn hoá Nam khi Pháp xâm lược
Ngày 31.08.1858, mười ba chiến hạm của liên quân thực dân Pháp – Tây Ban Nha Huy
dưới sự tổng chỉ huy của một thiếu tướng hải quân Pháp đã đến thả neo ngoài khơi vịnh Đà
Nẵng đã nổ súng xâm lược nước ta. Sau khi chiếm Việt Nam, pháp tiến hành hai cuộc khai
thác thuộc địa. Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội thực dân Pháp phải thực hiện
đào tạo nguồn nhân lực đa dạng ở nhiều ngành, nghề. Đây chính là nhân tố thúc đẩy sự phát
triển giáo dục của Pháp ở Việt Nam.
1.2.3. Chủ thể văn hoá Nam Kỳ
Nam Kỳ là vùng đất mới, có nhiều cộng đồng dân cư đến sinh sống, ngồi người Việt
chiếm đa số, cịn có người Khmer, người Hoa, người Chăm, Xtiêng, Mạ, Chơro… Khi sinh
sống trên vùng đất này, những dân tộc đã tạo nên các mối quan hệ gắn kết, giao lưu văn hóa
trên nhiều lĩnh vực. Chính sự giao lưu này đã tạo nên những nét văn hoá rất riêng cho vùng
đất Nam Kỳ.
1.2.4. Khái quát quá trình biến đổi kinh tế - xã hội ở Nam Kỳ khi tiếp xúc văn hoá
Pháp
1.2.4.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội ở Nam Kỳ trước khi Pháp xâm lược
Trước khi bị thực dân Pháp xâm lược, Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền
và đã đạt được một số thành tựu nhất định về kinh tế, văn hoá. Nam Kỳ cũng nằm trong sự
quản lý của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn. Nền kinh tế Việt Nam thời nhà Nguyễn là
chủ yếu dựa trên ngành sản xuất nơng nghiệp.
1.2.4.2. Q trình biến đổi kinh tế - xã hội ở Nam Kỳ khi tiếp xúc văn hoá Pháp
Để khai thác tài nguyên và bóc lột nhân dân Việt Nam, sau khi bình định xong về quân
sự, thực dân Pháp đã tiến hành hai cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất và cuộc khai thác
thuộc địa lần thứ hai. Với các chính sách về kinh tế, văn hóa, xã hội đó, ở Nam Kỳ đã diễn ra
quá trình tiếp xúc và biến đổi về xã hội, văn hóa một cách nhanh chóng.
Về kết cấu hạ tầng, có nhiều thay đổi, hệ thống giao thông được tổ chức lại, nhiều
phương tiện vận chuyển mới được du nhập. Với sự phát triển của đô thị, công nghiệp và giao
thương buôn bán đã làm xuất hiện những giai cấp và tầng lớp xã hội mới. Về tư tưởng, tồn
9
tại và xuất hiện cùng lúc nhiều hệ tư tưởng khác nhau: nho giáo, dân chủ tư sản và vô sản.
Xuất hiện các loại hình văn học, báo chí, nghệ thuật mới... Chính điều này đã làm cho Nam
Kỳ sớm hội nhập vào nền văn hoá hiện đại của thế giới.
1.2.5. Quá trình xác lập hệ thống giáo dục của Pháp ở Nam Kỳ
1.2.5.1. Hệ thống giáo dục ở Nam Kỳ trước khi Pháp xâm lược
Thế kỷ 18, Nguyễn Ánh đặt chức Đốc học, ban bố học quy, tổ chức khoa thi, lối học
cử nghiệp theo Nho giáo ở Nam Kỳ. Lúc này, thường thì mỗi làng có một trường tư do một
Nhiêu học điều hành. Học sinh học lễ nghĩa và điển tích Trung Hoa, các phép tính sơ đẳng
và học chữ Hán, chữ Nôm. Thường mỗi Huyện, phủ sẽ có một trường học, nội dung học
cũng giống như nội dung ở trường làng, nhưng rộng hơn.
Trước khi có khoa thi Hương, các khoa thi ở giai đoạn này gọi là kỳ thi Nho học Tam
trường để chọn nhân tài ra làm việc, những sĩ tử cũng phải trải qua những quy định thi cử
như kỳ thi Hương. Năm 1813, Gia Long mới tổ chức khoa thi Hương đầu tiên ở trường thi
Gia Định dành cho sĩ tử Bình Thuận, Biên Hoà, Phiên An, Định Tường, Vĩnh Thanh và Trấn
Hà Tiên. Năm 1864, vua Tự Đức mở khoa thi Hương ở tỉnh An Giang, cho các sĩ tử ở cho ba
tỉnh miền Tây thuộc quyền kiểm soát của triều đình và ba tỉnh miền Đơng do Pháp quản lý.
Đây cũng là kỳ thi cuối cùng trên đất Nam Kỳ.
1.2.5.2. Hệ thống giáo dục của Pháp ở Nam Kỳ
Nam Kỳ là vùng đất đầu tiên Pháp chiếm được đã trở thành thí điểm của những chính
sách giáo dục của chính quyền thuộc địa. Từ năm 1861 – 1867, một số trường đã được mở ra
ở Nam Kỳ. Ngày 21/09/1861, Chamer mở ra trường Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) để đào
tạo thông dịch viên. Năm 1873, Pháp cho mở trường Hậu bổ nhằm đào tạo những người
thanh tra dân sự cho Pháp.
Ngày 5/11/1874, Pháp ban hành Quy chế giáo dục chia nền giáo dục ra làm hai bậc
tiểu học và trung học. Ngày 17/03/1979, tổ chức giáo dục cũ được thay thế bằng tổ chức
giáo dục mới chia làm ba cấp: cấp I (trường tổng), cấp II (trường quận) và cấp III (trường
trung học). Ngày 15/05/1906 Hội đồng hoàn thiện giáo dục Nam Kỳ được thành lập. Tháng
04/1913, Hội đồng hoàn thiện giáo dục bản xứ đã quyết định bãi bỏ hẳn việc học chữ Hán
trong các trường Pháp – Việt ở hệ thống cấp I và cấp bổ túc.
Cuối năm 1917, Tồn quyền Đơng Dương Albert Sarraut đã ban hành Bộ “Học chính
tổng quy” để cải cách hệ thống giáo dục. Pháp chủ trương nhanh chóng xố bỏ hồn toàn
nền giáo dục Nho học. Năm 1923, M Merlin lên làm Tồn quyền Đơng Dương đã có một số
thay đổi và điều chỉnh trong chương trình giáo dục Việt Nam, từ năm 1924 chương trình có
mục đích hạn chế việc học của thanh niên và học sinh Việt Nam. Năm 1927, Tồn quyền
Đơng Dương ra nghị định đặt thêm bằng tú tài bản xứ, tức là bằng trung học đệ nhị cấp,
tương tương tú tài tây học theo chương trình bên Pháp.
Tiểu kết chương 1
Sự tiếp xúc văn hoá giáo dục Pháp – Việt giai đoạn 1858 -1945 là một giai đoạn lịch
sử đặc biệt của dân tộc Việt Nam nói chung và Nam Kỳ nói riêng. Đây là giai đoạn văn hoá
10
Việt Nam có sự thay đổi rõ nét trên tất cả các phương diện từ kinh tế, chính trị, xã hội và văn
hố. Thơng qua nội dung chương một với những vấn đề lý luận về khái niệm về văn hoá, văn
hoá ứng xử, văn hoá giáo dục, văn hoá tổ chức và các lý thuyết về giao lưu và tiếp xúc văn
hoá, triết lý giáo dục là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh vận dụng trong việc nghiên cứu
tìm hiểu văn hố Nam Kỳ giai đoạn cận đại khi tiếp xúc văn hố Pháp. Đó là bối cảnh diễn
ra q trình tiếp xúc, mục đích của Pháp khi xâm lược và thay đổi cấu trúc xã hội Việt Nam.
Với nhiều chính sách về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa mà thực dân Pháp áp đặt ở Nam
Kỳ, q trình tiếp xúc với văn hóa phương Tây được diễn ra một cách nhanh chóng và tồn
diện trên nhiều phương diện, trong đó có q trình tiếp xúc về giáo dục.
CHƯƠNG 2
VĂN HOÁ GIÁO DỤC TRIỀU NGUYỄN Ở NAM KỲ
TRƯỚC KHI PHÁP XÂM LƯỢC
2.1. Văn hoá nhận thức trong giáo dục triều Nguyễn
2.1.1. Nhận thức về triết lý giáo dục triều Nguyễn
Triết lý giáo dục Triều Nguyễn chịu sự chi phối bởi quan điểm của Nho giáo và Khổng
Tử. Có thể đúc kết lại thành một số tư tưởng chính như sau: thứ nhất, Nho giáo đề cao việc
học, đã đưa sự nghiệp giáo dục loài người thành một đạo học lớn, linh thiêng như một tín
ngưỡng, trở thành một con đường mà nam nhân nào cũng phải trải qua. Thứ hai, quan niệm
giáo dục đề cao đạo đức và đạo làm người. Đạo làm người chính là phải biết yêu thương
người hiền, hết mình thờ cha mẹ, hết mình thờ vua, thật thà giao tiếp với bạn bè. Thứ ba,
quan niệm giáo dục rất đề cao kẻ sĩ và quý trọng nhân tài. Thứ tư, quan niệm về trách nhiệm
bổn phận của con người trong xã hội. Học để làm quan, để quản lý và giúp xã hội ổn định.
2.1.2.
Nhận thức về việc học trong giáo dục triều Nguyễn
Chính quyền phong kiến rất coi trọng việc học và thi cử, coi trọng người tài. Đây là
một nét văn hoá gắn liền với lịch sử phát triển nền giáo dục theo Nho học trong suốt gần 10
thế kỷ. Nhà Nguyễn có rất nhiều chính sách tơn vinh và ưu tiên cho những người học hành đỗ
đạt. Những sĩ tử đỗ Hương cống và Sanh đồ đều được nhà nước miễn thuế thân và được bổ
nhiệm chức vụ trong triều đình. Ngồi ra, triều đình cũng có nhiều chính sách quan tâm đến
quyền lợi của người học như tạo điều kiện về cơ sở vật chất trong việc xây trường học, cấp
học bổng cho học sinh học giỏi. Đội ngũ giáo quan triều Nguyễn được chọn lựa hết sức kỹ
càng phải là những người có tuổi tác chững chạc và đỗ đạt.
2.1.3.
Nhận thức về người thầy trong giáo dục triều Nguyễn
Trong nhận thức của người dân, người thầy khơng chỉ là người dạy chữ mà cịn là
hình ảnh mẫu mực về nhân cách, đạo đức, lối sống, là tâm gương mẫu mực cho trị noi theo.
Vì quan niệm như vậy nên người thầy phải là những người có kiến thức rộng, có phẩm chất
đạo đức tốt, lối sống gần gũi, thân thiện với mọi người, thường là 40 tuổi trở lên. Chính thầy
giáo đã ươm mầm cho học trị những kiến thức về văn hóa dân tộc, về ý thức cội nguồn,
khơi dậy lòng tự hào dân tộc, tình yêu nước, yêu đồng bào qua mỗi bài giảng. Người thầy
trong giáo dục truyền thống hầu hết đều là nam giới đóng vai trị làm thầy giáo, nữ giới
11
không tham gia vào công việc giảng dạy và đào tạo.
2.1.4.
Nhận thức về người học trong giáo dục triều Nguyễn
Nền giáo dục phong kiến coi trọng giáo dục, chính vì thế, những anh học trò cũng rất
được xã hội coi trọng. Những anh học trị ln hiếu học và ln nhận thức về bổn phận và
trách nhiệm của mình với xã hội và đất nước. Trường học thời phong kiến quy định chỉ nam
giới mới đi học. Tuy nhiên, không phải tất cả nam giới đi học đều được đi thi, những người
con của nhà phường chèo, con hát và những kẻ phản nghịch, nguỵ quan có tiếng xấu thì bản
thân hoặc con cháu thì khơng được đi thi, nếu mang sách hay mượn người làm hộ thì trị tội
theo luật. Tuổi đi học thì khơng quy định một cách cụ thể, thường trẻ khoảng 6, 7 tuổi sẽ đi
học, và học đến khi già vẫn có thể đi thi.
2.1.5. Nhận thức về phương pháp dạy và học trong giáo dục triều Nguyễn
Về phương pháp dạy học trong trường học truyền thống có thể kể các phương pháp
sau: đầu tiên là lối dạy thầy đọc trò chép, học “nấu sử sơi kinh” thuộc lịng kinh nghĩa, cổ
sử, cổ văn, học thuộc nhuần nhuyễn những lời nói của thánh hiền. Thứ hai, là Phương pháp
“nêu gương” một nhân vật trong cổ sử, hay kể một câu chuyện, thông qua nhân vật lịch sử
hay câu chuyện đó thầy và trị sẽ rút ra những bài học cho mình. Thứ ba, dạy và học theo
quan điểm “ôn cổ tri tân”, ôn điều củ để biết điều mới, đây không chỉ là nguyên tắ c mà cò n
là phương pháp cơ bản trong tư tưởng giáo du ̣c nho giáo. Thứ tư, thầy luôn yêu cầu trò học
kết hợp với suy nghĩ, học phải biết vận dụng kiến thức vào trong thực tế. Cuối cùng, là
phương pháp giảng bài theo kiểu “giáo dục quyền uy”. Thầy giáo là người bề trên, trò phải
tuân theo mọi yêu cầu, mệnh lệnh của thầy, không được phép cãi lại thầy.
2.2. Văn hoá tổ chức và quản lý trong giáo dục Triều Nguyễn
2.2.1. Văn hoá tổ chức các trường học triều Nguyễn
2.2.1.1. Hệ thống các trường học triều Nguyễn
Để đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân các trường học công được xây dựng ở Lộ,
phủ và huyện. Ngồi những trường học ở kinh đơ, lộ, phủ, huyện, việc mở trường học tại các
thơn xóm, hương ấp rất được khuyến khích để góp phần vào việc đào tạo lớp trí thức và quan
lại giúp vua trị nước. Những trường này gọi là trường học tư hay các trường hương học. Việc
dạy và học còn được tổ chức bởi những lực lượng giáo dục ngồi nhà trường, đó là giáo dục
trong gia đình, đây là một hình thức giáo dục nổi bật trong nền giáo dục phong kiến.
2.2.1.2. Hệ thống cơ sở vật chất trong trường học triều Nguyễn
Nhà Nguyễn rất quan tâm đến việc xây dựng cơ sở vật chất cho trường học và có
những quy định cụ thể, đặc biệt là trường học ở Kinh đô. Dưới triều Nguyễn, trường học ở
phủ và huyện rất phát triển, trong đó mạnh nhất là thời vua Minh Mạng và Tự Đức. Số lượng
trường thi dùng để tổ chức thi Hương giảm để đỡ tốn kém về kinh phí, nhưng số lượng
trường công lập được dùng để dạy bảo cho học trị thì lại tăng và tổ chức xuống đến cấp
huyện ở cả đồng bằng và miền núi. Tuy trường học chưa đều khắp ở mọi nơi ở khu vực miền
núi, nhưng đây có thể xem là một thành tựu về xây dựng môi trường cơ sở vật chất cho giáo
dục dưới triều Nguyễn, mà các triều đại trước đây chưa làm được.
12
2.2.2. Văn hoá quản lý giáo dục triều Nguyễn
Triều Nguyễn bắt đầu từ vua Gia Long đã quan tâm đến việc dạy và học, nhà vua tổ
chức việc học rập khuôn theo kiểu tổ chức của triều Lê. Năm 1803, sau khi thành lập nhà
Quốc học ở Kinh đô Huế. Năm 1820, Minh Mạng đã đổi nhà Quốc học là trường Quốc Tử
giám. Đi đôi với việc phát triển hệ thống giáo dục ở kinh đô, nhà Nguyễn rất chú ý đến việc
bổ nhiệm đội ngũ giáo quan và quản lý việc dạy học rất được quan tâm.
Còn trường học tư ở địa phương đa phần do những bậc ẩn nho, là những người có tài,
đã đỗ đạt nhưng khơng chịu làm quan mà sống ẩn dật và mở trường dạy học.
2.2.3. Văn hoá tổ chức học tập trong giáo dục triều Nguyễn
2.2.3.1. Tổ chức chương trình học tập trong trường
Dưới thời Nguyễn, chương trình được thống nhất trong cả nước, ở cả trường cơng lẫn
trường tư và có sự thay đổi theo từng bậc. Các nho sinh từ khi bắt đầu học cho đến khi đi thi,
phải trải qua 4 cấp đó là: lớp vỡ lịng, lớp tiểu tập, lớp trung tập, lớp Đại tập.
2.2.3.2. Tổ chức hệ thống sách giáo khoa trong trường học
Hầu hết các sách học của học trò thời phong kiến đều là sách của Trung Quốc, một số
ít sách vở do người Việt biên soạn để dạy cho lớp vỡ lòng cho đến tiểu tập. Sách giáo khoa
có thể chia ra sách do người Việt soạn và người Trung Quốc soạn.
2.2.4. Văn hoá tổ chức thi cử trong giáo dục triều Nguyễn
2.2.4.1. Những quy định về thi cử và nội dung thi
2.2.4.2. Quy chế thi triều Nguyễn
2.3. Văn hoá ứng xử trong giáo dục triều Nguyễn
2.3.1. Ứng xử giữa nhà trường với thầy giáo, học trò và phụ huynh
2.3.1.1. Ứng xử giữa nhà trường với thầy giáo
Đội ngũ giáo quan ở đây đã được chọn lựa hết sức kỹ càng phải là những người có tuổi
tác chững chạc. Chất lượng của đội ngũ giáo quan dưới triều Nguyễn luôn được thường
xuyên kiểm tra theo dõi nhằm không ngừng nâng cao về chất lượng giáo dục.
2.3.1.2. Ứng xử giữa nhà trường với học trò
Các triều đại phong kiến Việt Nam ln có những chính sách coi trọng hiền tài và
quan tâm đến việc học của học trò. Triều Nguyễn rất quan tâm đến việc thi cử và có nhiều hỗ
trợ cho học trị, trong đó có sự hỗ trơ ̣ về sách vở và tiền bạc. Những sĩ tử đỗ Hương cống và
Sanh đồ đều được nhà nước miễn thuế thân. Ngồi những chính sách tơn vinh việc đào tạo
nhân tài, triều đình thời Nguyễn cũng có những có chế độ quy định cụ thể với từng học trị,
trừ các hồng tử có chế độ học tập riêng, còn đa phần các học sinh đều được tuyển chọn qua
sát hạch và thi cử nhất định và cấp học bổng cho học sinh. Trường học triều Nguyễn còn
quy định chặt chẽ về đối tượng nào mới được đi học và đi thi.
2.3.1.3. Ứng xử giữa nhà trường với phụ huynh
Ứng xử giữa nhà trường với phụ huynh thể hiện qua sự phối hợp giữa phụ huynh với
nhà trường và thầy dạy. Phụ huynh muốn biết việc học của con em mình có thể gặp quan
giáo huấn phụ trách, để thể hiện những mong muốn và nguyện vọng của mình đối với việc
13
học của con. Ngược lại, với những học trò chưa ổn, các quan giáo huấn cũng có thể trực tiếp
nói với phụ huynh. Để phụ huynh yên tâm về việc học của con, triều đình đã đầu tư phát
triển về cơ sở vật chất trong trường học và nâng cao chất lượng giáo viên giảng dạy. Nếu
thầy dạy kém sẽ được thay thế bằng người khác, ngược lại, những người dạy tốt, sẽ được
trọng dụng.
2.3.2. Ứng xử giữa thầy với thầy, thầy với trò, giữa trò với trò trong trường học
triều Nguyễn
2.3.2.1. Ứng xử giữa thầy với thầy
Mối quan hệ ứng xử giữa thầy với thầy trong trường học triều Nguyễn là mối quan hệ
cung kính, tơn trọng và khiêm nhường. Họ có mối quan hệ gắn kết, hỗ trợ giúp đỡ và làm
trịn chức trách của mình. Thầy giáo ít chịu sự quản lý của chính quyền phong kiến nên mối
quan hệ hỗ trợ giữa thầy và thầy trong giảng dạy ít được thể hiện. Mối quan hệ giữa thầy và
thầy trong trong trường học thời Nguyễn đa phần dừng lại ở mối quan hệ thỉnh giảng, mời
giảng, nói chuyện cùng nhau trong trường học.
2.3.2.2. Ứng xử giữa thầy với trò
Quan hệ thầy trò cũng là mối quan hệ tương hỗ, tác động ảnh hưởng đến nhau theo
nhiều khía cạnh. Thầy giáo khơng chỉ dạy kiến thức mà cịn dạy cho học trò những lễ nghi,
đạo đức và cách ứng xử với những người xung quanh. Thầy coi việc giáo dục đạo đức, nhân
cách cho trò một yêu cầu quan trọng để trở thành những con người vừa có đức, vừa có tài.
Thầy ln có trách nhiệm dạy và ôn luyện cho học trò đi thi. Với công lao to lớn của thầy,
những học trị đó ln mang ơn có trách nhiệm với thầy đến hết cuộc đời.
2.3.2.3. Ứng xử giữa trò với trò
Trong lớp học phong kiến, mối quan hệ bạn bè khơng chỉ có mối quan hệ bạn bè bình
đẳng thơng thường, mà cịn có mối quan hệ thể hiện tính tơn ti. Học trị có nhiều độ tuổi
khác nhau nên sẽ có những cách ứng xử khác nhau. Để tạo sự gắn kết giữa các thế hệ học
trò của cùng một thầy giáo. Các thế hệ học trò của một thầy thường tổ chức nhau lại bất luận
tuổi tác, trình độ, địa vị xã hội trong một tổ chức gọi là Hội đồng môn. Hàng năm, những
thành viên trong Hội đồng mơn phải có một khoản đóng hàng năm gọi là “tiền đồng mơn”.
Tiền này sẽ được sử dụng trong những trường hợp gia đình thầy có chuyện vui, buồn.
Tiểu kết chương 2
Trong quá triǹ h hiǹ h thành, phát triể n của chế độ phong kiế n Việt Nam từ thế kỷ XI
đế n nửa đầ u thế kỷ XIX, giai cấ p phong kiế n Việt Nam đã lựa cho ̣n tư tưởng Nho giáo làm
cơ sở trong hoa ̣ch đinh
̣ giáo du ̣c - khoa cử để lựa cho ̣n nhân tài nhằ m góp phầ n duy tri,̀ củng
cố chế độ phong kiế n. Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về giáo du ̣c từ nội dung đế n tổ chức
và quản lý đố i với Việt Nam thời phong kiế n là rấ t lớn. Dù có những hạn chế nhất định
nhưng nền giáo dục thời Phong kiến đặc biệt là những lúc đỉnh cao, đã có những đóng góp to
lớn cho nền giáo dục nước nhà; thực sự là đòn bẩy thúc đẩy tinh thần học tập, truyền thống
hiếu học và bồi đắp nguyên khí cho quốc gia trong những giai đoạn phát triển của lịch sử
14
giáo dục dân tộc. Nền giáo dục này góp phần làm cơ sở nền tảng để những trí thức tân tiến
tiếp nhận những tư tưởng giáo dục mới của Pháp ở giai đoạn sau, góp phần giữ gìn bản sắc
văn hoá dân tộc, để lại cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm quý báu trong tổ chức giáo
dục hiện nay.
CHƯƠNG 3
BIẾN ĐỔI VĂN HOÁ GIÁO DỤC VIỆT – PHÁP Ở NAM KỲ
KHI TIẾP XÚC GIÁO DỤC PHÁP
3.1.
Biến đổi văn hoá nhận thức trong giáo dục thời thuộc Pháp
3.1.1.
Nhận thức về triết lý giáo dục thời thuộc Pháp
Mặc dù không đưa ra một triết lý cụ thể, nhưng thông qua các chính sách và mục tiêu
của Pháp đối với giáo dục thuộc địa, có thể rút ra vài quan điểm, triết lý của Pháp đối với
giáo dục. Mục đích của Pháp khi thực hiện một chính sách văn hố giáo dục nơ dịch nhằm
thực hiện một âm mưu chính trị thâm độc, nhằm đồng hoá lâu dài dân tộc Việt Nam. Thứ
nhất là đào tạo tay sai, đào tạo nhân viên thực hành, đào tạo đội ngũ công dân chuyên
nghiệp, thợ lành nghề phục vụ cho yêu cầu khai thác thuộc địa. Thứ hai, là truyền bá văn
minh và tư tưởng Pháp, lịng biết ơn sự khai hóa và sự trung thành với Pháp. Thứ ba, là mục
đích mị dân, làm người Việt tin rằng hệ thống giáo dục của Pháp ở Việt Nam là văn minh và
tiến bộ.
3.1.2.
Nhận thức về việc học trong giáo dục thời thuộc Pháp
Sau khi đã bình định Việt Nam, thực dân Pháp đã chú ý đến chính sách giáo dục, xem
giáo dục như là một công cụ chắc chắn nhất để thực hiện mưu đồ chinh phục về mặt tinh
thần những người dân thuộc địa. Việc mở trường không phải xuất phát từ thiện tâm khai hoá
của Pháp mà xuất phát từ âm mưu nơ dịch, đồng hố, thực hiện chính sách ngu dân và khai
thác kinh tế, tài nguyên ở thuộc địa, từ nhu cầu đào tạo bộ máy tay sai và âm mưu ru ngủ,
đầu độc tinh thần của thế hệ trẻ.
3.1.3.
Nhận thức về người thầy trong giáo dục thời thuộc Pháp
Đội ngũ giáo viên giai đoạn này là người Pháp và người Việt được đào tạo ở các
trường do Pháp thành lập hoặc tốt nghiệp ở Pháp về, vì thế kiến thức chuyên môn được đào
tạo một cách bài bản và có tiêu chuẩn nhất định mới được làm giáo viên. Giáo viên khơng
phân biện nam hay nữ và có sự đa dạng về độ tuổi,tuổi ít nhưng có năng lực thì có thể quản
lý lớp và dạy học. Việc này giúp tận dụng được nhân tài, tránh bỏ sót người có năng lực vì
giới hạn về độ tuổi như thời phong kiến. Theo giáo dục Pháp, mỗi thầy cô sẽ phụ trách một
mơn riêng biệt, học trị sẽ được học với nhiều thầy cô và được tiếp cận với nhiều phương
pháp khác nhau.
3.1.4.
Nhận thức về người học trong giáo dục thời thuộc Pháp
Trường học của giai đoạn này, học sinh khơng phân biệt giới tính, địa vị đều được dạy
những kiến thức về cả khoa học xã hội và cả khoa học tự nhiên, kỹ thuật, ngoại ngữ. Trong
khoa học xã hội, học sinh được học lịch sử, văn hóa thế giới, luân lý, triết học Đông – Tây.
Các môn khoa học tự nhiên học sinh được học toán, địa dư, kinh tế. Học sinh còn được phân
15
ban theo các ban khoa học, ban toán và ban triết học. Bằng việc bắt buộc học sinh học cả hai
thứ tiếng Quốc ngữ và tiếng Pháp, trường học Pháp – Việt đã trang bị cho học sinh một công
cụ hữu ích để học sinh mở rộng giao tiếp và hiểu biết của mình với các nền văn hóa thế giới.
3.1.5.
Nhận thức về phương pháp dạy và học trong giáo dục thời thuộc Pháp
Đa phần các trường được lập ra đều sớm xác định mục tiêu giáo dục mới khác xa với
nền giáo dục Nho học đã tồn tại lâu đời của Việt Nam. Đó là xây dựng mơ hình giáo dục phổ
cập quốc dân, đa ngành, mọi đối tượng đều được hưởng nền giáo dục mới này, không phân
biệt giàu nghèo, tuổi tác, không phân biệt về giới, đào tạo và học theo yêu cầu người học với
những phương pháp dạy tích cực. Các phương pháp mới được các thầy giáo tân tiến áp dụng
trong dạy và học
3.1.6.
Nhận thức của tầng lớp trí thức qua tiếp xúc giáo dục Việt – Pháp
3.1.6.1. Sự ra đời của tầng lớp trí thức tân học yêu nước
Tầng lớp trí thức Tân học chia làm hai giai đoạn. Tầng lớp trí thức giai đoạn đầu có sự
kế t hơ ̣p giữa phương Tây và phương Đông, học sinh được học song song cả chữ Hán, chữ
Pháp và chữ Quốc ngữ. Tầng lớp trí thức giai đoạn sau, đó là những tri thức Tây học được
đào tạo từ các trường ho ̣c của Pháp. Đây là nguồ n cung cấ p bộ phận trí thức Tây ho ̣c có triǹ h
độ và bằ ng cấ p cao nhấ t trong xã hộ i lúc đó và đa ̣t đươ ̣c những bằ ng cấ p cao như tiế n si,̃ tha ̣c
si.̃ Ngoài ra, cịn có một bộ phận trí thức Tây học đươ ̣c hiǹ h thành nên bởi quá triǹ h tự ho ̣c ở
trong nước khi các nguồ n sách vở mới từ phương Tây bắ t đầ u tràn vào Việt Nam và việc du
ho ̣c tự phát, tự tổ chức, bí mật ở nước ngoài.
3.1.6.2. Tư tưởng canh tân trong giáo dục của các trí thức Nam Kỳ
Tư tưởng cách tân không chỉ xuất hiện ở giai đoạn ra đời hệ thống trường Pháp – Việt,
mà tư tưởng cách tân đã xuất hiện vào thời phong kiến khi văn hoá Việt Nam tiếp xúc với
văn hoá phương Tây vào khoảng thế kỷ XIX. Nhưng văn hoá Phương Tây chỉ thực sự ảnh
hưởng đến văn hoá Việt Nam từ đầu thế kỷ XX, sau khi Pháp xâm lược Viêt Nam và tiến
hành những đợt khai thác thuộc địa.
Thế kỷ XX, các trí thức Nho giáo và tân học ở Nam Kỳ đã có những hoạt động cách
tân sắc nét hơn thể hiện tinh thần dân tộc và tiếp biến những giá trị phù hợp của văn hoá
phương Tây vào văn hố Việt Nam, trong đó có giáo dục. Phong trào Minh Tân ở Nam Kỳ
được nhen nhóm từ năm 1904, thể hiện rõ qua các bài báo được Trần Chánh Chiếu và Lương
Khắc Ninh đăng lên Nơng cổ mín đàm, Lục tỉnh tân văn. Phong trào Minh Tân đã để la ̣i
những dấ n ấ n đặc trưng trong quá triǹ h hiǹ h thành đội ngũ trí thức tân ho ̣c.
3.2.
Biến đổi văn hoá tổ chức và quản lý trong giáo dục ở Nam Kỳ thời thuộc
Pháp
3.2.1. Văn hoá tổ chức các trường học ở Nam Kỳ thời thuộc Pháp
3.2.1.1. Hệ thống trường học phổ thông thời thuộc Pháp
Ngay sau khi chiếm đóng Nam Kỳ, người Pháp đặt mục tiêu xây dựng hệ thống giáo
dục mới, loại dần nền giáo dục Nho học, triệt bỏ chữ Hán, chữ Nôm và thay thế bằng chữ
Pháp, chữ quốc ngữ. Hệ thống các trường phổ thông là các trường học đã được mở khắp các
16
địa phương ở Nam Kỳ từ Sài Gòn đến Mỹ Tho, Cần Thơ. Tính đến năm 1886, ở Nam Kỳ có
17 trường do người Âu quản lý, trong đó có 10 trường nam và 7 trường nữ. Số học sinh
trường nam có 1.829 em, do 48 giáo viên người Pháp và 78 giáo viên người Việt dạy. Học
sinh trường nữ có 992 em do do 25 giáo viên người Pháp và 25 giáo viên người Việt dạy.
Trường hàng quận có 16 trường với l553 học sinh và 24 giáo viên người Pháp và 51 giáo
viên người Việt. Trường hàng tổng có 219 trường với 10.441 học sinh do 270 giáo viên
người Việt dạy. Trường hàng xã có 91 trường với 3.416 học sinh và 91 giáo viên người Việt.
3.1.1.2.. Hệ thống các trường dạy nghề thời thuộc Pháp
Sự ra đời một loạt các trường dạy nghề là một nét mới trong văn hóa tổ chức hệ thống
giáo dục ở Nam Kỳ thời thuộc Pháp.
3.1.1.3. Hệ thống cơ sở vật chất trong trường học thời thuộc Pháp
Trước hết các trường học được lựa chọn và đặt ở các vị trí trung tâm của các thành
phố hay các địa phương, thuận tiện cho học sinh trong việc đi học và sinh hoạt. Khuôn viên
nhà trường được thiết kế, xây dựng thành một khu riêng biệt, có tường rào, cổng trường,
biển tên trường và các khu trong trường với các chức năng khác nhau ln được bố trí một
cách hợp lý và khoa học, thuận lợi cho quá trình hoạt động của thầy giáo và học sinh. Ða số
trường học dưới thời Pháp thuộc được lợp bằng ngói đỏ, tường qt vơi màu vàng. Nền của
trường học phải cao hơn 1 mét so với đất vườn xung quanh. Cửa lớp học, cửa sổ và hàng rào
sắt đều sơn màu nhu. Sàn lớp học được lót bằng gạch vng màu đỏ. Trước sân trường
thường có vài cây phượng. Các trường có thư viện, có các phịng thí nghiệm, khu thể dục,
thể thao; đối với các trường dạy nghề cịn có các xưởng thực hành được trang bị hiện đại
theo tiêu chuẩn lúc bấy giờ và phù hợp với từng ngành nghề đào tạo.
3.2.2. Văn hoá quản lý giáo dục thời thuộc Pháp
3.2.2.1. Tổ chức hệ thống quản lý giáo dục ở cấp độ toàn Nam Kỳ
3.2.2.2. Tổ chức quản lý giáo dục ở các hạt (tỉnh), phủ, huyện
3.2.2.3. Tổ chức quản lý ở các trường phổ thơng và đội ngũ giáo viên
3.2.3. Văn hố tổ chức học tập trong trường học ở Nam Kỳ thời thuộc Pháp
3.2.3.1. Tổ chức chương trình học tập trong trường
+ Tổ chức chương trình giáo dục tồn diện
Chương trình học ở các cấp thể hiện rõ mục tiêu giáo dục của Pháp ở các nước thuộc
địa, có nội dung tồn diện, học sinh khơng chỉ được dạy về khoa học xã hội mà còn được dạy
cả về khoa học tự nhiên, kỹ thuật, ngoại ngữ, các môn gắn với đời sống. Trong khoa học xã
hội, học sinh được học lịch sử, văn hóa thế giới, luân lý, triết học Đông – Tây. Các môn khoa
học tự nhiên học sinh được học tốn học, hình học, hố học, địa dư, kinh tế. Một số mơn mới
chưa từng có trong nền giáo dục truyền thống, đó là giáo dục về thể chất và vệ sinh, khoa học
thường thức,… Học sinh được rèn luyện sức khoẻ thơng qua các trị chơi vận động, môn học
về cơ thể người, nguyên tắ c vệ sinh, các bệnh truyề n nhễm và dich
̣ bệnh; các mơn về động vật
- thực vật và lợi ích, tác hại của chúng; các môn về nghệ thuật như vẽ, thủ công.
+ Tổ chức học tập những chuẩn mực đạo đức mới trong trường
17
Khi Pháp thiết lập hệ thống giáo dục thuộc địa ở Việt Nam đã đưa vào chương trình học
những giá trị đạo đức mới, góp phần hình thành chuẩn mực đạo đức ứng xử mới của người
Việt Nam giai đoạn này.
+ Tổ chức học tập chữ Quốc ngữ và chữ Pháp trong trường
Chữ quốc ngữ tuy xuất hiện đã lâu, nhưng giai đoạn đầu chỉ tồn tại trong nội bộ những
người theo đạo Kitô giáo, để truyền giáo, dịch và soạn giáo lý, ghi chép các hoạt động của
các giáo sĩ và hoạt động của giáo dân. Mãi đến giữa thế kỷ XIX ở Nam Kỳ và đầu XX ở Bắc
Kỳ, Chữ quốc ngữ mới có cơ hội phát triển hồ nhịp với văn hố dân tộc. Việc sử dụng chữ
Quốc ngữ và chữ Pháp cùng với các chính sách về giáo dục của Pháp giữa thế kỷ XIX đã tạo
điều kiện cho sự phát triển mạnh mẽ của giáo dục Việt Nam, mở ra trang sử mới cho giáo
dục Nam Kỳ nói riêng và Việt Nam nói chung.
3.2.3.2. Tổ chức hệ thống sách giáo khoa trong trường học thuộc Pháp
Sách giáo khoa và tài liệu học tập sử dụng trong trường học Pháp giai đoạn đầu, chính
quyền Pháp cho in các quyển sách giáo khoa về mẫu tự chữ quốc ngữ, hai quyển về số học
và hình học cơ bản. Chính quyền cịn phát cho học sinh tờ Nguyệt san thuộc địa và tờ Gia
Định báo để dùng như sách giáo khoa. Thời gian sau, thực dân Pháp đưa sách giáo khoa từ
Pháp sang để dạy cho học sinh ở những trường Pháp – Việt. Pháp đã đưa vào trong chương
trình học những mơn về khoa học tự nhiên, về thiên văn, vũ trụ… cân bằng lại hệ thống giáo
trình của giáo dục truyền thống.
3.2.4. Văn hố tổ chức thi cử trong giáo dục ở Nam Kỳ thời thuộc Pháp
3.2.4.1. Những quy định về thi cử và nội dung thi
3.2.4.2. Quy chế thi
3.3. Biến đổi văn hoá ứng xử trong giáo dục ở Nam Kỳ thời thuộc Pháp
3.3.1. Ứng xử giữa nhà trường với thầy giáo, học sinh và phụ huynh
3.3.1.1. Ứng xử giữa nhà trường với thầy giáo
Các hiệu trưởng các trường, giáo sư và giáo viên người Pháp và Việt đều đặt dưới
quyền của Viên Giám đốc Sở giáo dục phụ trách việc giáo dục toàn xứ dưới quyền của Giám
đốc Nha học chính. Các giáo viên phụ trách các lớp nằm dưới quyền kiểm soát của hiệu
trưởng tất cả những việc liên quan đến việc giảng dạy và trật tự của trường. Giáo viên có sự
đa dạng về độ tuổi, không phân biệt già hay trẻ, nam nữ, ai cũng được trọng dụng nếu có
năng lực. Muốn tuyển làm giáo viên trường Pháp – Việt phải thi đậu cuộc thi sát hạch, phải
có hạnh kiểm và đạo đức tốt, có bằng cấp phù hợp. Giáo viên được bồi dưỡng thường xuyên
hàng năm theo kế hoạch cụ thể. Về chế độ nghỉ ngơi của thầy giáo được Pháp quy định rõ
ràng, giáo viên được nghỉ ba tháng hè có lãnh lương.
3.3.1.2.Ứng xử giữa nhà trường với học sinh
Pháp có nhiều chính sách quan tâm đến việc học tập của học sinh các trường phổ
thông và trường nghề. Học sinh trong trường Pháp – Việt được huởng những quyền lợi về
cơ sở vật chất bảo đảm cho việc học tập như: phịng học, thư viện, phịng thí nghiệm, phòng
18
thể dục, phòng ăn, phòng vệ sinh. Học sinh được tiếp cận với những phương pháp học tập
mới, học đi đôi với hành, trực quan sinh động, tiếp cận với tri thức của phương Tây.
Một bản điều lệ giản lược được áp đặt cho các trường, quy định một hệ thống kỷ luật,
một bảng danh dự, học sinh buộc phải tn theo. Hầu hết các trường cơng đều có ký túc xá
cho học sinh ở xa. Chế độ học bổng thực sự có tác dụng khuyến khích học sinh học tập tích
cực và tranh đua trong các kì khoa cử để được chọn vào chính quyền thuộc địa, hay cố gắng
thi cử để được du học nước ngoài. Trong trường học Pháp – Việt không có qui đinh
̣ nào
mang tiń h pháp lý quy đinh
̣ hạn chế số lượng học sinh đi học, cơ hội đi ho ̣c vẫn mở ra vớ i
tấ t cả mo ̣i người, kể cả phu ̣ nữ và con nhà nghèo. Nam hay nữ đều bình đẳng trong việc
được truyền thụ kiến thức, được quyền học hành và hưởng những lợi ích của việc học.
3.3.1.3. Ứng xử giữa nhà trường với phụ huynh
Đầu tiên, có thể nhắc đến vai trị của phụ huynh trong việc đăng ký cho con đi học ở
trường Pháp – Việt. Việc đi học là tự do và không áp đặt cho mọi người, vì thế, phụ huynh
có quyền cho con đi học hoặc không. Để phụ huynh yên tâm cho theo con học trong trường
Pháp – Việt, chính quyền Pháp rất quan tâm đến việc đầu tư cơ sở vật chất và đội ngũ giáo
viên giảng dạy trong trường. Phụ huynh cịn được tham gia vào chương trình đào tạo của con
khi học tại trường.
Khi một học sinh có lỗi về kỷ luật hay về ăn mặc, học lực kém thầy giám thị sẽ liên hệ
với phụ huynh, mời phụ huynh lên trường để trực tiếp nói chuyện. Nếu nghỉ học một ngày
thì hơm sau phải đem thư có chữ ký của phụ huynh, nói rõ lý do nghỉ học, vào trình cho văn
phịng thì mới được cấp giấy phép vào lớp. Ngồi ra, phụ huynh có thể tham gia vào việc
thành lập trường tư, tham gia đóng góp hỗ trợ chính quyền trong việc xây dựng trường học,
cấp học bổng cho học sinh.
3.3.2. Ứng xử giữa giáo viên với giáo viên, giáo viên với học sinh và học sinh với
học sinh trong trường học thời Pháp thuộc
3.3.2.1. Ứng xử giữa giáo viên với giáo viên
Ứng xử giữa Giáo viên với giáo viên trong trường Pháp – Việt là mối quan hệ dân chủ,
bình đẳng, tơn trọng và tương hỗ với nhau trong giảng dạy và cuộc sống. Họ vẫn ứng xử tình
cảm và tơn trọng sự tự do cá nhân của mỗi người. Giữa những giáo viên giảng dạy trong
trường có sự trao đổi tham khảo về kiến thức chuyên môn và phương pháp giảng dạy. Mỗi
kỳ nhất định trong năm giáo viên sẽ bị Thanh tra kiểm tra về nội dung giảng dạy, việc sử
dụng sách giáo khoa trong trường học hay được dự giờ và đánh giá chất lượng giảng dạy của
giáo viên khác.
3.3.2.2. Ứng xử giữa thầy giáo với học sinh
Mối quan hệ giữa thầy và trò trong trường học Pháp – Việt là mối quan hệ bình đẳng
và dân chủ. Người thầy trong trường học thời cận đại được đào tạo để làm nghề dạy học,
thầy phải đạt chuẩn nào đó theo quy định thì mới được hành nghề. Học sinh khơng chỉ học
19
một thầy mà học với nhiều thầy với nhiều môn học khác nhau. Người thầy với thiên chức
truyền thụ kiến thức cho học sinh trong nhà trường cần có một kiến thức un bác hơn học
trị nhiều lần, có những kiến thức về giáo dục, sư phạm thì mới đảm nhiệm được vai trị của
mình. Học sinh vẫn kính trọng thầy như xưa, nhưng với cách truyền thụ kiến thức mới, học
sinh được “dân chủ” hơn trong tiến trình tiếp nhận tri thức từ người thầy, có thể hỏi, tranh
luận những vấn đề liên quan đến tri thức mà thầy cung cấp. Thầy và học sinh có thể cùng
đồng hành trong quá trình khám phá tri thức mới, do vậy mối quan hệ thầy trò cứ tưởng là xa
cách nhưng lại rất gần gủi trong quá trình dạy – học ở nhà trường Pháp – Việt.
3.3.2.3. Ứng xử giữa học sinh với học sinh
Trong trường học cận đại, mối quan hệ giữa học trò với nhau là mối quan hệ bạn bè,
đồng môn cùng trang lứa. Học sinh cùng lớp là những học sinh cùng lứa tuổi, giống nhau về
tâm sinh lý, cùng trình độ, khơng phân biệt giới tính và địa vị cùng được thụ hưởng một
chương trình giáo dục như nhau, cho nên có thể nói, họ cùng bình đẳng trong quá trình tiếp
thụ nền giáo dục, những sinh hoạt trong trường học và các hoạt động khác liên quan đế giáo
dục. Chính vì cùng chung về lứa tuổi và tâm sinh lý nên mối quan hệ giữa học sinh với học
sinh trở nên gần gủi và thân thiết hơn. Mối quan hệ đồng môn thời Pháp được thể hiện qua
việc họp lớp hay thành lập Hội cựu học sinh của trường.
Tiểu kết chương 3
Sau khi làm chủ được toàn bộ Nam Kỳ, việc thiết lập một mạng lưới trường học mới
được Pháp tiến hành một cách chính thức và bài bản. Pháp chủ trương xoá bỏ nền Nho học cũ
ở Việt Nam, thay thế vào đó bằng nền Pháp – Việt để đào tạo nên tầng lớp trí thức tây học
phục vụ cho sự vận hành của guồng máy thống trị của Pháp ở Đông Dương. Giáo dục Nam
Kỳ thời Pháp thuộc đã mang lại những hệ quả khách quan tích cực, mở ra một mơi trường văn
hóa giáo dục mới, chưa từng có trong tiền lệ văn hóa giáo dục ở Việt Nam từ cơ cấu tổ chức,
quá trình vận hành cũng như nội dung giáo dục, làm thay đổi về nhận thức, ứng xử trong các
mối quan hệ có sự khác biệt so với văn hố truyền thống. Nền văn hóa giáo dục mới này đã
góp phần khơng nhỏ làm thay đổi nền giáo dục trì trệ của Triều Nguyễn, mở ra một giai đoạn
mới cho giáo dục Nam Kỳ nói riêng và giáo dục Việt Nam nói chung.
Khi tiếp xúc với nền giáo dục mới, người dân vẫn giữ được những mặt tích cực trong
nền giáo dục truyền thống, tiếp nhận và học hỏi những mặt tích cực của nền giáo dục Pháp
phù hợp với văn hoá dân tộc. Nền giáo dục tân học đã từng bước khẳng định vai trị tić h cực
đớ i với một bộ phận ho ̣c sinh bấ y giờ bằ ng lố i da ̣y ho ̣c mới mẽ, nộ i dung ho ̣c tập phong phú
với nhiề u môn ho ̣c khác nhau về khoa ho ̣c tự nhiên, khoa ho ̣c xã hộ i và ngoa ̣i ngữ, việc thi cử
và hệ thố ng bằ ng cấ p quy củ, đa da ̣ng, nhiề u loa ̣i hiǹ h lớp ho ̣c, cấ p ho ̣c có hệ thố ng chặt chẽ
và đươ ̣c tổ chức rộng khắ p... Nền giáo dục này đã đào tạo được một đội ngũ trí thức Tây học
vừa có sự am hiểu về ngơn ngữ và văn hố Pháp, vừa có một nền tảng giáo dục truyền thống
20
rất vững chắc. Họ đã trực tiếp truyền bá khoa học công nghệ tiên tiến và tư tưởng dân chủ
phương Tây cho người dân Việt Nam thông qua những chuyến đi du học và từ nguồn sách vở
và báo chí từ nước ngoài. Chương triǹ h ho ̣c của nề n giáo du ̣c mới đã dầ n dầ n thay thế những
tư tưởng và nguyên lí Nho giáo lạc hậu, tách nề n giáo du ̣c Việt Nam khỏ i ảnh hưởng của văn
hoá Trung Hoa, đặt nề n móng xây dựng nề n giáo du ̣c theo hướng hiện đa ̣i, một nề n giáo du ̣c
chú tro ̣ng thực hành, chú trọng khoa học kỹ thuật, phù hợp với sự phát triển của xã hội.
CHƯƠNG 4
ĐẶC ĐIỂM VÀ BÀN LUẬN VỀ VĂN HOÁ
GIÁO DỤC VIỆT – PHÁP Ở NAM KỲ
4.1. Đặc điểm của nền văn hoá giáo dục Pháp – Việt ở Nam Kỳ thời thuộc Pháp
4.1.1. Nền văn hóa giáo dục Pháp – Việt ở Nam Kỳ thời thuộc Pháp là một nền văn
hóa giáo dục vừa bị áp đặt vừa tự nguyện
4.1.2. Quá trình tiếp nhận văn hóa giáo dục Pháp - Việt ở Nam Kỳ diễn ra khá thuận
lợi do ở đây ít chịu ảnh hưởng giáo dục Nho giáo như các vùng miền khác
4.1.3. Nền văn hóa giáo dục Nam Kỳ thời thuộc Pháp dựa trên cơ sở nội sinh (nội lực)
mạnh, tiếp nhận, kế thừa có chọn lọc những yếu tố văn hóa giáo dục ngoại sinh (ngoại lực) để
định hình một nền văn hóa giáo dục mới vừa truyền thống vừa hiện đại
4.1.4. Nền văn hóa giáo dục Pháp - Việt ở Nam Kỳ tạo ra sự giao thoa văn (tiếp xúc)
văn hố Việt – Pháp và văn hóa Phương Đơng - Phương Tây
4.2. Những hệ quả tích cực và tiêu cực của nền giáo dục Pháp – Việt ở Nam Kỳ
thời thuộc Pháp
4.2.1. Những hệ quả tích cực của nền giáo dục Pháp – Việt
Nền giáo dục Pháp – Việt được áp đặt vào Nam Kỳ, mặc dù không nằm trong chủ
trương của chính quyền Pháp nhưng đã để lại những giá trị lịch sử rất to lớn trong sự phát
triển của giáo dục Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc nền giáo dục Nho học được
khép lại để tiếp nhận một nền giáo dục mới của phương Tây vào Việt Nam, đó là hệ thống
giáo dục Pháp – Việt. Trong suốt thời gian cai trị, người Pháp đã tiến hành nhiều chính sách
cải cách giáo dục đã làm thay đổi căn bản nền giáo dục Việt Nam nói chung và Nam Kỳ nói
riêng. Nền giáo dục này đã có những đóng góp tích cực nhất định cho sự phát triển của giáo
dục Việt Nam.
Sự áp đặt mơ hình giáo dục Pháp vào Nam Kỳ đã mang lại một nền giáo dục mới, có
nhiều yếu tố tích cực, trong bối cảnh nền giáo dục Nho giáo đang suy tàn với một lối dạy học
lạc hậu, nội dung phiến diện không đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân tài cho đất nước. Một nền
giáo dục được xây dựng trên nền tảng tiếp nhận văn hóa giáo dục Pháp đã tạo ra bước chyển
biến quan trong của nền giáo dục Việt Nam, hội nhập với nền giáo dục thế giới hiện đại với
nhiều đổi mới về nhận thức, hình thức tổ chức hệ thống trường lớp; nội dung, phương pháp
21
giảng dạy, thi cử, ngôn ngữ, cơ sở vật chất mang đậm nét những dấu ấn của văn hoá phương
Tây.
4.2.2. Những hạn chế của nền giáo dục Pháp – Việt
Bên cạnh những mặt tích của của nền giáo dục Việt - Pháp như trình bày ở trên thì nền
giáo dục Việt - Pháp cũng bộc lộ ra những mặt hạn chế sau:
Trường Pháp – Việt Pháp thành lập để thực hiện mục tiêu đào tạo một đội ngũ trí thức
phục vụ trong quá trình khai thác thuộc địa, vì thế nội dung và phương pháp học do chính
quyền Pháp thiết kế đã tác động mạnh đến một bộ phận giới trẻ Việt Nam đam mê đi tìm
hiểu và khám phá cái mới của phương Tây mà quên mất những giá trị văn hoá truyền thống
của dân tộc Việt Nam qua nhiều thế kỷ. Trường học Pháp chủ yếu chỉ tập trung phát triển
bậc sơ đẳng tiểu học, hạn chế sự phát triển của các bậc trung học, cao đẳng và đại học. Hệ
thống trường học cũng bộc lộ nhiều hạn chế về công tác quy hoạch phát triển giáo dục, sắ p
xế p ma ̣ng lưới các trường, lớp ho ̣c trong hệ thống giáo dục Pháp - Việt còn chưa phù hơ ̣p ở
một số điạ phương; chưa quan tâm đế n yế u tố đảm bảo chấ t lươṇ g dẫn đến trường học chỉ tập
trung ở các trung tâm lớn, thiế u trường, lớp ở các khu vực vùng sâu, vùng xa. Trong trường
học Pháp - Việt, tình trạng thiếu giáo viên vẫn cịn phổ biến, nhiều giáo viên người Pháp,
người Việt được đào tạo chắp vá. Ngồi ra, chính sách phân biệt đối xử của chính quyền
thực dân với giáo viên ngoại quốc và giáo viên người Việt. Chương trình Tiểu học và Trung
học trường Pháp - Việt quá dài với thời gian học sinh phải theo học ở trường là 13 năm, đã
tạo nên áp lực và tâm lý nặng nề cho người học.
4.3. Những bài học kinh nghiệm cho giáo dục Việt Nam hiện nay
Qua nghiên cứu tiế p xúc văn hóa giáo dục Pháp - Việt giai đoa ̣n 1861 -–1945, trên cơ sở
tinh thần đó, chúng ta có thể rút ra những bài học kinh nghiệm cho giáo dục Việt Nam hiện
nay như sau: Thứ nhất, việc xác định một quan điểm/triết lý và mục tiêu rõ ràng cho nền giáo
dục. Thứ hai, tổ chức hợp lý, hoàn thiện hệ thống quản lý giáo dục đào tạo. Thứ ba, đẩy
mạnh xã hội hố giáo dục. Thứ tư, nâng cao vai trị của các chủ thể giáo dục và chú trọng chất
lượng nền giáo dục. Thứ năm, áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực trong giáo dục.
Thứ sáu, đề cao phát triển giáo dục nghề nghiệp. Thứ bảy, phát huy vai trị văn hố truyền
thống của dân tộc.
Tiểu kết chương 4
Tiế p xúc văn hóa Việt Nam với Pháp giai đoa ̣n 1858 - 1945 có nhiề u ý nghiã với nề n
giáo du ̣c Việt Nam nó i riêng và văn hóa Việt Nam nó i chung. Trên cơ sở kế thừa và phát huy
những ưu điểm của nền giáo dục truyền thống, loại bỏ những yếu tố khơng cịn phù hợp,
đồng thời tiếp nhận những điểm tích cực của văn hóa giáo dục phương Tây, cụ thể là Pháp,
làm cho nền giáo dục Việt Nam bước sang một giai đoạn mới. Đặc biệt, người Việt Nam đã
biế n công cu ̣ đồ ng hóa, nô dich
̣ của người Pháp thành phương tiện của lich
̣ sử để chống lại
Pháp và giành la ̣i độc lập cho đân tộc.
Từ những hệ quả của q trình tiếp xúc văn hố giáo dục Pháp – Việt giai đoa ̣n 1858 1945, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm cho giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện
22
nay. Đó là có sự tiếp thu chọn lọc những đặc điểm văn hoá phù hợp với văn hoá dân tộc và
với bối cảnh văn hoá mới. Trên cơ sở tiếp thu những yếu tố văn hoá tiến bộ để khắc phục
những ha ̣n chế của nền giáo dục truyền thống và xây dựng nền giáo dục hiện đại hoà nhập
với nền giáo dục tiên tiến trên thế giới. Muốn làm được điều đó, việc đổi mới giáo dục để
đào tạo và phát huy nguồn lực con người hiện đại là yêu cầu cần thiết. Cần xây dựng triế t lý
và mục tiêu giáo dục cụ thể mang tích nhân văn, nhân bản, khoa ho ̣c phù hợp với nhu cầu xã
hội. Xác đinh
̣ mu ̣c tiêu giáo du ̣c gắ n liề n với mu ̣c tiêu xây dựng con người mới và văn hóa,
đó là những con người sẵ n sàng tiế p nhận, tiế p thu tri thức hiện đa ̣i, thiế t thực để phát triể n
bản thân và góp phầ n kiến tạo xã hộ i. Những trí thức mới đươ ̣c giáo du ̣c một cách toàn diện,
vừa có đa ̣o đức, vừa có trí tuệ, kỹ năng, trở thành lực lượng tiên phong trong quá trình hội
nhập phát triển đất nước.
KẾT LUẬN
Việt Nam là đất nước có bề dày lịch sử văn hóa lâu đời, trong đó văn hóa giáo dục là
được xem là nền tảng để vun đắp và giữ gìn những nền tảng văn hố truyền thống đó. Trong
suốt thời kỳ phong kiến, giáo dục Việt Nam nói chung và Nam Kỳ nói riêng chỉ có các trường
học ở các địa phương, giáo dục chủ yếu diễn ra mang tính chất gia đình và sau đó mới ra đời
các trường học do nhà nước tổ chức. Giáo dục phong kiến đã đào tạo được nhiều hiền tài cho
đất nước, hun đúc tinh thần yêu nước, bảo vệ độc lập dân tộc, góp phần giữ gìn và phát huy
truyền thống văn hố của dân tộc. Tuy nhiên, nền giáo dục vẫn có những mặt hạn chế cần phải
thay đổi như: mục tiêu giáo dục chủ yếu đào tạo những người ra làm quan, nội dung giáo dục
chú trọng dạy về lễ nghĩa, phép tắc và nghệ thuật quản lý con người là chính. Những kiến thức
về khoa học tự nhiên, kỹ thuật hầu như không được dạy trong trường. Cách tổ chức quản lý
trường học cũng nặng tính chất gia đình, phương pháp dạy học lạc hậu, khơng phát huy được
tính sáng tạo, phát triển tính tích cực, chủ động cho học sinh. Có thể nói trước khi thực dân
Pháp xâm lược, nền giáo dục triều Nguyễn rập khuôn theo giáo dục Nho giáo Trung Hoa, là
một nền giáo dục rất cũ kỷ và lạc hậu.
Q trình tiếp xúc văn hóa Việt - Pháp và văn hóa giáo dục đã diễn ra từ các thế kỷ thứ
XVI, XVII, tuy nhiên phải đến khi khi thực dân Pháp xâm lược và thống trị Việt Nam thì q
trình tiếp xúc, giao lưu văn hóa giáo dục Việt – Pháp mới diễn ra một cách mạnh mẽ. Sau khi
làm chủ toàn bộ Nam Kỳ, Pháp đã cho thiết lập một mạng lưới giáo dục mới một cách chính
thức và bài bản. Pháp đã triển khai và tổ chức giáo dục trên các phương diện từ việc thành lập
hệ thống trường học, quản lý giáo dục các cấp, tổ chức chương trình và nội dung giáo dục,
thay đổi về mục tiêu giáo dục… Việc thành lập các trường học Pháp – Việt và các trường thực
nghiệp giai đoạn này nhằm thực hiện mục đích của Pháp là xoá bỏ nền Nho học ở Việt Nam
thay bằng nền “Pháp học” để đào tạo nên đội ngũ viên chức mẫn cán “Tây học” phục vụ cho
sự vận hành của guồng máy thống trị của Pháp ở Đông Dương. Thông qua nội dung giáo dục
để tạo cho người học tâm lý nể phục, ngưỡng mộ nền văn minh mà Pháp đem lại cho Việt
Nam. Quá trình áp dụng văn hóa giáo dục mới đã làm chuyển biến giáo dục truyền thống của