BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
DƯƠNG BÍCH TUYỀN
ĐỊNH TỘI DANH
TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
ĐỊNH TỘI DANH
TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chun ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Định hướng ứng dụng
Mã số: 60380104
Người hướng dẫn khoa học : TS. Lê Tường Vy
Học viên
: Dương Bích Tuyền
Lớp
: Cao học Luật An Giang – Khóa 2
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn “Định tội danh Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
theo Luật hình sự Việt Nam” là cơng trình nghiên cứu khoa học do chính tơi thực
hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Tường Vy. Các nội dung, thông tin
được trình bày trong luận văn là chính xác và trung thực.
Tơi xin chịu hồn tồn trách nhiệm về lời cam đoan trên của mình.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2022
Tác giả
Dương Bích Tuyền
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Từ viết tắt
Viết tắt
1
Bộ Luật Hình sự
BLHS
2
Bộ Luật Tố tụng Hình sự
BLTTHS
3
Chứng minh nhân dân
CMND
4
Cơ quan cảnh sát điều tra
CQCSĐT
5
Cơ quan điều tra
CQĐT
6
Cơ quan tiến hành tố tụng
CQTHTT
7
Hội đồng thẩm phán
HĐTP
8
Hội đồng xét xử
HĐXX
9
Hình sự phúc thẩm
HSPT
10
Hình sự sơ thẩm
HSST
11
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
LĐCĐTS
12
Tịa án nhân dân
TAND
13
Tịa án nhân dân tối cao
TANDTC
14
Trách nhiệm hình sự
TNHS
15
Thành phố
TP
16
Thành phố Hồ Chí Minh
TP.HCM
17
Thơng tư liên tịch
TTLT
18
Viện kiểm sát nhân dân
VKSND
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU...................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. ĐỊNH TỘI DANH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
THEO HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN......................................................... 6
1.1. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về hành vi chiếm đoạt tài sản
của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản...................................................................... 6
1.2. Một số vướng mắc trong thực tiễn định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt
tài sản theo hành vi chiếm đoạt tài sản.............................................................. 7
1.3. Một số kiến nghị hoàn thiện...................................................................... 18
Kết luận Chương 1................................................................................................ 21
CHƯƠNG 2. ĐỊNH TỘI DANH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
THEO THỦ ĐOẠN GIAN DỐI........................................................................... 22
2.1. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về thủ đoạn gian dối trong tội
lừa đảo chiếm đoạt tài sản................................................................................ 22
2.2. Một số vướng mắc trong thực tiễn định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt
tài sản theo thủ đoạn gian dối.......................................................................... 23
2.3. Một số kiến nghị hoàn thiện...................................................................... 39
Kết luận Chương 2................................................................................................ 42
KẾT LUẬN............................................................................................................ 43
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong cơng cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, bên cạnh những thành
tựu quan trọng mà nước ta đã đạt được trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội,
thì mặt trái của nền kinh thị trường mang lại, đó là tình hình tội phạm diễn biến ngày
càng phức tạp, tinh vi và nguy hiểm hơn. Trong đó, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là
một trong các tội xâm phạm sở hữu có diễn biến theo chiều hướng ngày càng gia tăng
cả về số lượng và tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Mặc dù BLHS
năm 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung nhất định so với quy định của BLHS năm 1999
nhưng thực tiễn xét xử cho thấy, việc định tội danh đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản (Điều 174 BLHS năm 2015) hiện nay vẫn còn nhiều vướng mắc trong quy định của
pháp luật cũng như trong thực tiễn áp dụng như sau:
Thứ nhất, quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt
tài sản cịn có một số hạn chế như chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể thế nào là hành
vi chiếm đoạt tài sản và thế nào là thủ đoạn gian dối của tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản; hành vi chiếm đoạt tài sản khác gì so với các hành vi xâm phạm sở hữu nhưng
khơng có tính chất chiếm đoạt và các quan hệ pháp luật dân sự, kinh tế; thủ đoạn
gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khác biệt như thế nào so với thủ đoạn
gian dối trong các tội xâm phạm sở hữu khác; có thể có trường hợp chuyển hóa từ
hình thức chiếm đoạt ban đầu là lừa đảo chiếm đoạt tài sản sang tội cướp tài sản hay
không…
Thứ hai, thực tiễn định tội danh đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cho
thấy do khơng có văn bản hướng dẫn cụ thể về hành vi khách quan của tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản cùng với năng lực, trình độ chun mơn nghiệp vụ của người tiến
hành tố tụng khác nhau nên trong một số trường hợp, các cơ quan tiến hành tố tụng
chưa có sự thống nhất trong việc xác định tội danh đối với người phạm tội. Ví dụ,
cùng một hành vi nhưng có cơ quan tiến hành tố tụng thì điều tra, truy tố, xét xử về
tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS năm 2015), có cơ quan tiến hành tố
tụng thì điều tra, truy tố, xét xử về tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 177 BLHS
năm 2015); hoặc cùng một hành vi nhưng có cơ quan tiến hành tố tụng thì điều tra,
truy tố, xét xử về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS năm 2015), có cơ
quan tiến hành tố tụng thì điều tra, truy tố, xét xử về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản (Điều 175 BLHS năm 2015) hoặc có nơi thì kết luận là khơng phạm
2
tội…Chính vì sự nhận thức và áp dụng khơng thống nhất quy định về tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản như vậy nên trong một số trường hợp, các cơ quan tiến hành tố
tụng có thể truy cứu trách nhiệm hình sự khơng đúng đối với người có hành vi vi
phạm, hoặc kết án oan người vô tội hoặc cũng có thể bỏ lọt tội phạm.
Xuất phát từ những vướng mắc, bất cập nêu trên cho nên việc nghiên cứu để
khắc phục các hạn chế, từ đó đưa ra kiến nghị nhằm hồn thiện quy định của pháp
luật hình sự Việt Nam về tội danh này là điều mang tính cấp thiết. Vì vậy, tác giả
chọn vấn đề “Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Luật Hình sự Việt
Nam” làm đề tài Luận văn tốt nghiệp Cao học luật của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến đề tài “Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Luật
Hình sự Việt Nam”, có các cơng trình nghiên cứu như sau:
1) Các giáo trình, sách chuyên khảo: Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
(2021), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần Các tội phạm – Quyển 1, Quyển 2),
(Tái bản lần thứ nhất, có sửa chữa, bổ sung), NXB Hồng Đức; Trường Đại học
Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần Các tội phạm, NXB
Công an nhân dân, Hà Nội; Trường Đại học quốc gia Hà Nội – Khoa luật (2007),
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm, NXB Đại học quốc gia Hà
Nội; Võ Khánh Vinh (Chủ biên) (2012), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần
Các tội phạm, NXB Công an nhân dân, Hà Nội; PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Hoa
– TS. Phan Anh Tuấn – Đồng chủ biên (2017), Bình luận khoa học những điểm mới
của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), NXB Hồng Đức; Nguyễn Ngọc
Hịa (Chủ biên) (2018), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa
đổi, bổ sung năm 2017, Quyển 2, Phần Các tội phạm, NXB Tư pháp, Hà Nội; Trần
Văn Biên – Đinh Thế Hưng (2017), Bình luận khoa học Bộ Luật Hình sự năm 2015
(sửa đổi, bổ sung năm 2017), NXB Thế giới, Hà Nội; …
Trong nội dung của các giáo trình, sách chuyên khảo này đã nêu ra định
nghĩa và phân tích về các dấu hiệu pháp lý (trong đó có dấu hiệu hành vi khách
quan), dấu hiệu định khung tăng nặng, hình phạt và những điểm mới của Tội lừa
đảo chiếm đoạt tài sản.
2) Các Luận án, Luận văn Thạc sỹ:
Nguyễn Ngọc Chí (2001), Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở
hữu, Luận án tiến sĩ Luật học, Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật. Nội dung
Luận án nghiên cứu về các tội xâm phạm sở hữu, trong đó, có tội lừa đảo chiếm
3
đoạt tài sản một cách tồn diện, có hệ thống trên cả hai phương diện, bao gồm luật
hình sự và tội phạm học.
Đặng Thị Thanh Huyền (2016), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong pháp luật
hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật, Trường Đại học Luật Hà Nội; Trần Thị
Phương Hiền (2007), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản – Những vấn đề lý luận và thực
tiễn, Luận văn Thạc sĩ, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Thị Thu Thủy
(2020), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Luật Hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ,
Trường Đại học Luật TP.HCM… Nội dung của các luận văn thạc sỹ Luật nêu trên đã
phân tích những vấn đề lý luận về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như khái niệm, các dấu
hiệu pháp lý, các dấu hiệu định khung tăng nặng, hình phạt theo quy định của pháp luật
hình sự Việt Nam và quy định của pháp luật hình sự một số nước trên thế giới. Đồng
thời, các Luận văn cũng phân tích thực trạng áp dụng quy định của pháp luật và những
hạn chế, bất cập còn tồn tại; trên cơ sở đó, đưa ra kiến nghị hồn thiện quy định của
pháp luật hình sự Việt Nam và một số giải pháp nâng cao.
3) Các bài viết đăng trên các Tạp chí chuyên ngành như: Lê Đăng Doanh
(2004), “Tội lừa dối khách hàng (Điều 162 BLHS) trong mối quan hệ với tội lừa
đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 BLHS), Tòa án nhân dân, Số 22, tr.27-29; Lê
Đăng Doanh (2005), “Sự khác nhau giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139
BLHS) với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140 BLHS)”, Tòa án
nhân dân, Số 24, tr.06-10; Trần Công Phàn (2006), “Phân biệt tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong các trường hợp có
liên quan đến vi phạm hợp đồng”, Kiểm sát, Số 20, tr.3-8; Mai Bộ (2007), “Tội lừa
đảo chiếm đoạt tài sản”, Tòa án nhân dân, Số 12, tr.6-12; Nguyễn Thị Phương Thảo
(2012), “Bàn về yếu tố chiếm đoạt tài sản trong các tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, Kiểm sát, Số 9, tr.52-54; Phạm Thị
Hồng Đào (2015), “Nguyễn Văn V chỉ phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy
định tại điểm e khoản 2 Điều 139 BLHS”, Tòa án nhân dân, Số 16, tr.40-43; Lê
Quang Thắng (2018), “Bình luận về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều
174 Bộ luật Hình sự năm 2015”, Kiểm sát, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Số 11,
tr.47-51; Võ Hải Phương (2015), “Một số ý kiến nhằm nâng cao chất lượng, hiệu
quả cơng tác đấu tranh phịng chống tội phạm liên quan đến nhóm tội “Lừa đảo
chiếm đoạt tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” trên địa bàn tỉnh
Tiền Giang”, Kiểm sát, Số 19, tr.14-18;… Nội dung của các bài viết này đã phân
4
tích dấu hiệu định tội của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trên cơ sở đó, nêu ra các
hạn chế cịn tồn tại và đưa ra kiến nghị hồn thiện.
Tóm lại, các cơng trình nghiên cứu về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy
định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay là khá nhiều. Riêng với cơng trình
nghiên cứu này của tác giả, tác giả sẽ đi sâu vào nghiên cứu những vướng mắc, khó
khăn trong việc định tội danh đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên cơ sở thực tiễn
các vụ án hình sự mà Tịa án đã xét xử để trên cơ sở đó, phân tích những hạn chế cịn
tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế, từ đó, đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định
của pháp luật hình sự Việt Nam về vấn đề này. Do nghiên cứu theo định hướng ứng
dụng từ những vụ án điển hình trong thực tiễn xét xử để đưa ra kiến nghị hoàn thiện
cho nên đây là định hướng nghiên cứu mới trong Luận văn Thạc sĩ của tác giả.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là thông qua quy định của BLHS năm
2015 cũng như các bản án thực tế để phân tích những hạn chế, vướng mắc cịn tồn
tại trong lý luận và thực tiễn định tội danh đối với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
(Điều 174 BLHS năm 2015). Trên cơ sở đó, đưa ra kiến nghị hồn thiện quy định
của pháp luật hình sự Việt Nam về việc định tội danh đối với tội phạm này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, Luận văn xác định các nhiệm vụ:
- Phân tích quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các dấu hiệu định tội
của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam
về định tội danh Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trên cơ sở đó, phân tích những vướng
mắc, bất cập còn tồn tại trên thực tế và nguyên nhân của những vướng mắc đó.
- Đưa ra kiến nghị hồn thiện quy định của pháp luật hình sự Việt Nam trong
việc định tội danh đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là quy định của Điều 174 BLHS năm
2015 về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và thực tiễn áp dụng quy định của BLHS
năm 2015 về việc định tội danh đối với tội phạm này.
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn định tội danh tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản trên phạm vi cả nước
5
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu nội dung đề tài thơng qua một số bản án
điển hình của các Tòa án liên quan đến các vấn đề định tội danh đối với Tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản trong giai đoạn từ năm 2017 - 2021.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng xuyên suốt trong Luận văn
để phân tích các nội dung cần nghiên cứu và nhận thức một cách khái quát các nội
dung nghiên cứu, khái quát kết quả nghiên cứu của luận văn.
- Phương pháp nghiên cứu án điển hình được sử dụng để phân tích các vấn đề
thực tiễn khi định tội danh đối với các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản được áp
dụng trong một số vụ án hình sự cụ thể.
- Phương pháp so sánh được sử dụng để tìm hiểu điểm tương đồng và khác
biệt trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử giữa các bản án về dấu hiệu định tội của
tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Phương pháp tổng kết thực tiễn : Trên cơ sở thực tiễn, tổng kết, đánh giá
những kết quả, tài liệu thu thập được từ thực tiễn để chỉ ra những hạn chế, vướng
mắc còn tồn tại và nguyên nhân của các hạn chế, vướng mắc này.
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của Luận văn
Mặc dù cịn có nhiều hạn chế nhưng Luận văn sẽ là một nguồn tài liệu tham
khảo cho những người nghiên cứu, những người làm thực tiễn và những người có
quan tâm về vấn đề định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Luật Hình sự
Việt Nam.
Trong hoạt động lập pháp, nếu những kiến nghị nêu ra trong Luận văn được
tham khảo trong hoạt động lập pháp thì có thể góp phần nhỏ vào việc hồn thiện
quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về việc định tội danh đối với tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản.
Trong hoạt động thực tiễn, Luận văn có thể góp phần vào việc nâng cao nhận
thức của những người tiến hành tố tụng khi định tội danh đối với tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
gồm 02 chương:
Chương 1. Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo hành vi chiếm
đoạt tài sản.
Chương 2. Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo thủ đoạn gian dối.
6
CHƯƠNG 1
ĐỊNH TỘI DANH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
THEO HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
1.1. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về hành vi chiếm đoạt tài
sản của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Điều 174 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (BLHS năm 2015)
quy định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (LĐCĐTS) như sau: “Người nào bằng thủ
đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác…”.
Như vậy, hành vi khách quan của tội LĐCĐTS là hành vi chiếm đoạt tài sản
của người khác bằng thủ đoạn gian dối. Hành vi khách quan của tội phạm này bao
gồm hai hành vi là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác và hành vi lừa dối
(thủ đoạn gian dối). Trong nội dung chương này của Luận văn, tác giả chỉ đi vào
phân tích và xác định hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội LĐCĐTS.
Hành vi chiếm đoạt tài sản của tội LĐCĐTS không được hướng dẫn cụ thể.
Tuy nhiên, hành vi chiếm đoạt của tội LĐCĐTS (Điều 174 BLHS năm 2015) cũng
là một trong các hành vi chiếm đoạt tài sản trong các tội phạm xâm phạm sở hữu có
1
tính chất chiếm đoạt. Mặc dù khơng được hướng dẫn cụ thể, tuy nhiên, xuất phát từ
lý luận về hành vi chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự, đặc biệt là thơng qua các
giáo trình Luật hình sự hiện nay ở Việt Nam, có thể hiểu hành vi chiếm đoạt tài sản
trong các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt nói chung và trong tội
LĐCĐTS nói riêng là hành vi cố ý chuyển biến trái pháp luật tài sản của người khác
thành tài sản của mình.
2
Từ khái niệm nêu trên, hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội LĐCĐTS có các
đặc điểm sau:
- Hành vi chiếm đoạt tài sản là hành vi làm cho chủ sở hữu tài sản, người
quản lý tài sản mất khả năng thực tế thực hiện các quyền của chủ sở hữu đối với tài
sản, đồng thời, tạo cho người chiếm đoạt có thể thực hiện được các quyền này. Xét
về mặt thực tế, chiếm đoạt tài sản là hành vi vừa làm cho người quản lý tài sản mất
khả năng thực tế thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt
1 Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt bao gồm: Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS), tội bắt cóc
nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169 BLHS), tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 BLHS), tội cướp giật tài sản
(Điều 171 BLHS), tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172 BLHS), tội trộm cắp tài sản (Điều 173
BLHS), tội LĐCĐTS (Điều 174 BLHS) và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS).
2 Trường Đại học Luật TP.HCM (2019), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần Các tội phạm – Quyển 1)
(Tái bản lần thứ nhất, có sửa chữa, bổ sung), NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.179.
7
đối với tài sản của mình; vừa tạo cho người chiếm đoạt có thể thực hiện được các
quyền đó. Tuy nhiên, xét về mặt pháp lý, hành vi chiếm đoạt tài sản là hành vi trái
pháp luật nên không làm cho chủ sở hữu mất quyền sở hữu đối với tài sản của mình
(tức là về mặt pháp lý, tài sản đó vẫn thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu tài sản);
đồng thời cũng không tạo cho người phạm tội có được quyền sở hữu đối với tài sản
đó.
- Tài sản là đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt tài sản phải đang có
người quản lý. Sự quản lý này có thể là sự quản lý hợp pháp (chủ sở hữu, người
được chủ sở hữu giao cho quản lý tài sản hoặc trường hợp người được quản lý tài
sản do pháp luật quy định) cũng có thể là sự quản lý bất hợp pháp. Nếu tài sản đã
thoát ly khỏi sự quản lý, chiếm hữu của người quản lý tài sản thì khơng phải là đối
tượng tác động của hành vi chiếm đoạt tài sản.
- Xét về mặt chủ quan, người thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội
LĐCĐTS phải có lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội biết rõ tài sản bị chiếm đoạt
đang có người quản lý nhưng vẫn mong muốn chuyển dịch trái pháp luật tài sản đó
thành tài sản của mình.
Việc xác định đúng hành vi chiếm đoạt tài sản có ý nghĩa quan trọng trong
việc phân biệt các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt với các tội xâm phạm sở
hữu khơng có tính chiếm đoạt cùng nằm trong Chương các tội xâm phạm sở hữu
(Chương XVI BLHS năm 2015) và phân biệt được các tội xâm phạm sở hữu có tính
chiếm đoạt với các trường hợp không phải là tội phạm (quan hệ pháp luật dân sự,
kinh tế…).
1.2. Một số vướng mắc trong thực tiễn định tội danh tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản theo hành vi chiếm đoạt tài sản
Trong tội LĐCĐTS, khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người bị
hại, trước hết người phạm tội phải có ý định chiếm đoạt tài sản nên mới đưa ra
thông tin gian dối nhằm làm cho người khác tin đó là sự thật mà tự nguyện giao tài
sản. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy, việc xác định hành vi chiếm đoạt tài sản
trong tội LĐCĐTS vẫn cịn có một số hạn chế, vướng mắc nhất định. Để làm rõ
những vướng mắc này, tác giả đưa ra một vài vụ án điển hình để phân tích, chứng
minh và đưa ra nhận xét.
Thứ nhất, phân biệt giữa hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội LĐCĐTS (Điều
174 BLHS năm 2015) với hành vi sử dụng trái phép tài sản trong tội sử dụng trái
phép tài sản (Điều 177 BLHS năm 2015).
8
3
Vụ án thứ nhất:
Bản án hình sự phúc thẩm (HSPT) số 165/2019/HS-PT ngày 25/6/2019 của
Tòa án nhân dân (TAND) cấp cao tại Đà Nẵng.
Nội dung vụ án:
Khoảng tháng 3/2017, ông Hồ Đắc T, giám đốc Công ty C điều động M là
nhân viên của Cơng ty vào làm kế tốn kiêm thủ quỹ Phịng bán vé của Cơng ty C
tại Bến xe Miền Đơng, Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM). M có nhiệm vụ quản lý
tiền phát sinh trong hoạt động kinh doanh và làm dịch vụ chuyển tiền cho khách
hàng của Công ty C tại Bến xe Miền Đông. Trong thời gian này, D thường đến
Phòng bán vé của Công ty C chuyển tiền về thành phố T5 nên biết được nhiệm vụ
của M. D nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của Công ty C nên chủ động làm quen với
M. Để tạo lòng tin, D thường xuyên mua trái cây đến Phòng bán vé cho M và các
nhân viên ở đây, thường xuyên chuyển tiền về cho người thân ở thành phố T5. Sau
khi đã tạo được lòng tin, D nhiều lần điện thoại, nhắn tin mượn tiền của M để
chuyển cho người thân ở thành phố T5 và sau đó D trả tiền đầy đủ, đúng hẹn.
Ngày 25/01/2018, D điện thoại nhờ M chuyển 13.800.000 đồng cho Lưu Mạnh
D ở thành phố T5 và hứa sẽ trả cho M vào chiều cùng ngày, nhưng sau đó D không trả
mà tiếp tục nhờ M chuyển tiền nhiều lần cho nhiều người ở thành phố T5. Khi số tiền
lên đến khoảng hơn 60.000.000 đồng, M địi thì D nói số tiền mượn đã hùn vốn đóng
tàu với một người đàn ơng ở TP.HCM, nhưng hiện cịn đang thiếu vốn nên bảo M tiếp
tục lấy tiền đưa cho D mượn đầu tư đóng xong tàu, xuất hóa đơn bán sẽ có tiền trả lại
cho M. Để M tin tưởng, D nhiều lần đưa cho M từ 1.000.000 đồng đến 10.000.000
đồng và nói là tiền của ơng đóng tàu cho M, tổng cộng D đã đưa cho M
40.000.000 đồng. M không được chủ sở hữu tài sản là 04 thành viên góp vốn của
Cơng ty C cho phép, nhưng do tin tưởng và được D cho 40.000.000 đồng nên đã tự
ý lấy 1.430.000.000 đồng của Công ty C đưa cho D. M lấy tiền của Công ty C đưa
cho D bằng hai hình thức: Một là, lợi dụng nhiệm vụ được giao làm dịch vụ chuyển
tiền, M đã chuyển tiền về cho 9 người thân của D ở thành phố T5 để đưa lại hoặc trả
nợ cho D, tổng cộng 658.600.000 đồng. Hai là, M nhiều lần lấy tiền mặt của Công
ty C do M đang quản lý đưa cho D, tổng cộng 771.400.000 đồng. Với thủ đoạn trên,
trong thời gian từ ngày 25/01/2018 đến ngày 06/03/2018, D đã chiếm đoạt của Công
ty C 1.430.000.000 đồng để trả nợ và tiêu xài.
3Phụ lục số: 01.
9
Quan điểm của các cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) về việc xác định
tội danh đối với hành vi của D và M:
- Tại bản án hình sự sơ thẩm (HSST) số 02/2019/HS-ST ngày 15/01/2019,
TAND tỉnh Phú Yên tuyên phạt bị cáo D 16 năm tù về tội LĐCĐTS theo điểm a
khoản 4 Điều 174 BLHS năm 2015 và tuyên phạt bị cáo M 2 năm tù về tội sử dụng
trái phép tài sản theo điểm a khoản 2 Điều 177 BLHS năm 2015.
- Tại bản án HSPT số 165/2019/HS-PT ngày 25/6/2019, TAND cấp cao tại
Đà Nẵng quyết định giữ nguyên bản án HSST số 02/2019/HS-ST ngày 15/01/2019
của TAND tỉnh Phú tuyên phạt bị cáo M 2 năm tù về tội sử dụng trái phép tài sản
theo điểm a khoản 2 Điều 177 BLHS năm 2015.
Nhận xét, đánh giá và vướng mắc đặt ra từ vụ án:
Trong vụ án trên, mặc dù hành vi của D và M đều có cùng khách thể và đối
tượng tác động nhưng do tính chất của hành vi khách quan khác nhau nên D và M bị
xét xử về hai tội danh khác nhau là phù hợp với quy định của pháp luật. Cụ thể:
- Đối với D: Do D đã có ý định chiếm đoạt tài sản của công ty C ngay từ đầu
nên D đã đưa ra thông tin gian dối đối với M. Theo đó, D nói với M là D mượn tiền
để hùn vốn đóng tàu với một người đàn ơng ở TP.HCM. Khi nào đầu tư đóng tàu
xong, xuất hóa đơn bán sẽ có tiền trả lại cho M. Tuy nhiên, thông tin này của D là
thông tin không đúng với sự thật nhằm làm cho M tin là thật để M lấy tiền của công
ty C trị giá 1.430.000.000 đồng đưa cho D. Do đó, hành vi của D là hành vi cố ý
đưa ra thông tin gian dối để M tin là thật và tự nguyện giao tài sản. D đã có hành vi
cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản của công ty C thành tài sản của mình. Vì thế,
hành vi của D có đầy đủ yếu tố cấu thành tội LĐCĐTS theo Điều 174 BLHS năm
2015.
- Đối với M: Do tin tưởng vào thông tin gian dối mà D đưa ra, với cương vị
là kế tốn kiêm thủ quỹ phịng bán vé của công ty C, trong thời gian từ ngày
25/1/2018 đến ngày 6/3/2018, mặc dù không được sự cho phép của chủ sở hữu tài
sản là 4 thành viên góp vốn của cơng ty C nhưng vì vụ lợi 40 triệu đồng do D bồi
dưỡng, M đã tự ý lấy 1.430.000.000 đồng – là tài sản của công ty C đưa cho D
mượn, dẫn đến khơng có khả năng trả lại tài sản. Như vậy, M đã vì vụ lợi 40 triệu
đồng mà có hành vi khai thác cơng dụng tài sản của cơng ty C (1.430.000.000 đồng)
mà khơng có sự đồng ý của chủ sở hữu. Khi đưa tài sản của cơng ty C
(1.430.000.000 đồng) cho D, M khơng có ý định chiếm đoạt số tiền này của công ty
C mà chỉ muốn sử dụng số tiền này để cho D mượn trong một khoảng thời gian nhất
10
định, rồi sau đó, khi D trả cho M thì M sẽ hồn trả lại cho cơng ty C. Do M khơng
có ý định chiếm đoạt số tiền 1.430.000 đồng của công ty C mà chỉ muốn khai thác
công dụng do số tiền này đưa lại trong một khoảng thời gian nhất định, đồng thời,
M đã tự ý sử dụng tài sản thuộc phạm vi quản lý của mình khơng đúng quy định nên
hành vi của M là hành vi sử dụng trái phép tài sản theo quy định tại Điều 177 BLHS
năm 2015.
Như vậy, để xác định đúng tội danh trong vụ án trên cần phải phân biệt rõ
ranh giới giữa hành vi LĐCĐTS của tội LĐCĐTS với hành vi sử dụng trái phép tài
sản trong tội sử dụng trái phép tài sản. Theo đó, chiếm đoạt tài sản là hành vi cố ý
chuyển dịch trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình. Cịn hành
vi sử dụng trái phép tài sản là hành vi vì vụ lợi, khai thác cơng dụng do tài sản đem
lại mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu, người quản lý tài sản trong một
khoảng thời gian nhất định. Hành vi sử dụng trái phép tài sản khơng làm cho chủ sở
hữu mất đi tài sản đó. Người phạm tội chỉ tự ý sử dụng tài sản của người khác trong
một khoảng thời gian nhất định, sau đó, trả về cho chủ sở hữu hoặc người phạm tội
tự ý sử dụng tài sản thuộc phạm vi quản lý của mình khơng đúng quy định. Chủ sở
hữu chỉ tạm thời mất khả năng chiếm hữu, sử dụng tài sản của mình trong một thời
4
gian nhất định, sau đó, họ có lại được tài sản. Do đó, hành vi sử dụng trái phép tài
sản cũng xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản nhưng hành vi này không xâm phạm
đến quyền định đoạt tài sản mà chỉ xâm phạm đến quyền sử dụng tài sản trong một
khoảng thời gian nhất định. Đây chính là điểm khác biệt cơ bản giữa hành vi sử
dụng trái phép tài sản với các hành vi phạm tội có tính chiếm đoạt, trong đó, có
5
hành vi chiếm đoạt tài sản của tội LĐCĐTS.
Từ vụ án này cho thấy vướng mắc đặt ra cần được giải quyết khi xác định
hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội LĐCĐTS (Điều 174 BLHS năm 2015) là cần có
văn bản hướng dẫn để phân biệt được hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội LĐCĐTS
với hành vi sử dụng trái phép tài sản trong tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 177
BLHS năm 2015).
Thứ hai, phân biệt giữa hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội LĐCĐTS (Điều
174 BLHS năm 2015) với các hành vi có liên quan đến hành vi tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có đã thực hiện trước đó của người phạm tội nhưng không
phải là tội phạm.
4 Trường Đại học Luật TP.HCM (2019), tlđd (2), tr.216-217.
5 Xem: Điều 177 BLHS năm 2015.
11
6
Vụ án thứ hai:
Bản án HSPT số 382/2020/HS-PT ngày 11/9/2020 của TAND TP.HCM.
Nội dung vụ án:
Ngày 5/3/2018, Đặng Huy C thông qua trang web www.chotot.vn mua xe gắn
máy nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 59V2-337.46 của một thanh niên chưa rõ lai
lịch với giá 20 triệu đồng. Khi mua, C biết rõ xe là do trộm cắp mà có và hẹn đối
tượng bán xe ngày hôm sau tại số 46/8C Quốc lộ 1A đưa giấy đăng ký xe cùng
CMND mang tên Huỳnh Văn Liêm thì đưa thêm 4 triệu đồng. Sau đó, thơng qua
trang web www.chotot.vn, vào ngày 16/3/2018, C bán chiếc xe gắn máy trên với giá
35 triệu đồng cho Nguyễn Tấn Phước tại quán cà phê Bảo Hân số B12/5D1 Trần
Đại Nghĩa. C đưa cho Phước giấy đăng ký xe cùng CMND mang tên Huỳnh Văn
Liêm và hẹn 05 ngày sau ra công chứng mua bán xe. Nhưng sau đó Phước khơng
liên lạc được với C, nghi ngờ là xe gian nên Phước tiếp tục đăng tin cần mua xe để
tìm C. Thấy việc mua bán xe do người khác phạm tội mà có thu lợi nhiều nên khi
thấy Phước đăng trên mạng tìm mua xe tiếp thì ngày 29/3/2018, C liên hệ với đối
tượng trên để mua xe thì được đối tượng này giới thiệu một đối tượng khác chưa rõ
lai lịch bán cho C một xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter biển số 83C1-25787 với giá
20 triệu đồng và đặt đối tượng bán xe làm giả giấy đăng ký xe máy mang tên Đặng
Huy C với giá 3 triệu đồng. Sau đó, C dùng số điện thoại khác liên lạc bán chiếc xe
gắn máy hiệu Yamaha Exciter biển số 83C1-25787 giá 35 triệu đồng cho Phước và
hẹn Phước khoảng 18 giờ ngày 30/3/2018 đến xem xe tại số 55D Kênh Tân Hóa. Do
sợ bị phát hiện, C đưa xe gắn máy Yamaha Exciter biển số 83C1-25787 cùng giấy
đăng ký xe giả mang tên Đặng Huy C cho Lê Duy An chạy đến điểm hẹn để bán
cho Phước thì bị Phước bắt giữ giao cho Cơng an.
Tại CQĐT, An khai khi đưa giấy đăng ký cùng xe máy trên đi bán nhìn vào
giấy đăng ký xe thấy không đúng năm sinh của C, An nghĩ l à giấy giả, xe do phạm
tội mà có nhưng vì C nói: “Tao xăm mình, sợ người mua xe khơng dám mua, mày
ra bán xe dùm tao”, nghĩ C là bạn học, có thời gian ở chung phịng trọ nên An mang
xe đến điểm hẹn bán dùm C và C cũng khơng nói cho An biết nguồn gốc của xe và
khơng hứa hẹn cho An tiền. Do đó, chưa đủ cơ sở xác định An là đồng phạm với C
nên CQĐT không xử lý An.
6Phụ lục số: 02.
12
Quan điểm của các CQTHTT về việc xác định tội danh đối với hành vi của
C:
- VKSND quận Tân Phú truy tố C về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm
tội mà có và tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức.
- Tại bản án HSST số 56/2020/HSST ngày 29/5/2020, TAND quận Tân Phú
tuyên phạt C 1 năm tù về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và 1 năm
tù về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Ngồi ra, Tịa án cấp sơ
thẩm còn kiến nghị TAND TP.HCM xem xét hành vi LĐCĐTS của bị cáo C và vai
trò đồng phạm của Lê Duy An.
- Ngày 27/6/2020, VKSND TP.HCM ra quyết định kháng nghị phúc thẩm số
28/QĐ-VKS-P7 kháng nghị toàn bộ bản án HSST của TAND quận Tân Phú, đề nghị
TAND TP.HCM xét xử phúc thẩm theo hướng hủy bản án sơ thẩm để điều tra, truy
tố, xét xử lại theo thủ tục chung do bị cáo C sử dụng giấy đăng ký xe mô tô gắn
máy, CMND giả để bán lại cho người khác là có dấu hiệu phạm thêm tội LĐCĐTS
nhưng cấp sơ thẩm chưa điều tra làm rõ hành vi này của bị cáo là có dấu hiệu bỏ lọt
tội phạm.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện VKSND TP.HCM cho rằng ngoài tội tiêu
thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ
quan, tổ chức; bị cáo C còn có dấu hiệu phạm thêm tội LĐCĐTS nhưng cấp sơ thẩm
chưa điều tra làm rõ là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm. Do đó, đề nghị HĐXX
chấp nhận kháng nghị số 28/QĐ-VKS-P7 ngày 27/6/2020 của V K S N D T P . H C
M , hủy bản án sơ thẩm để điều tra, truy tố, xét xử lại theo thủ tục chung.
- Tại bản án HSPT số 382/2020/HS-PT ngày 11/9/2020, TAND TP.HCM
không chấp nhận kháng nghị số 28/QĐ-VKS-P7 ngày 27/6/2020 của VKSND
TP.HCM, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 56/2020/HSST ngày 29/5/2020 của TAND
quận Tân Phú; tuyên bị cáo C phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà
có và tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức.
Nhận xét, đánh giá và vướng mắc đặt ra từ vụ án:
Trong vụ án này có hai quan điểm khác nhau liên quan đến việc xác định tội
danh đối với hành vi của C như sau:
- Tòa án cấp sơ thẩm và VKSND TP.HCM cho rằng ngoài tội tiêu thụ tài sản
do người khác phạm tội mà có và tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức;
C còn phạm thêm tội LĐCĐTS vì C có hành vi sử dụng giấy đăng ký xe mô tô gắn
máy, CMND giả để bán lại xe gắn máy cho người khác nhằm chiếm đoạt tài sản.
13
- VKSND quận Tân Phú và TAND TP.HCM đều cho rằng hành vi của C
không phải là hành vi gian dối để chiếm đoạt tài sản, C khơng có hành vi chiếm
đoạt tài sản nên C chỉ phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và tội
làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức mà khơng phạm tội LĐCĐTS.
Tác giả đồng tình với quan điểm của VKSND quận Tân Phú và TAND
TP.HCM khi cho rằng hành vi của C không phạm tội LĐCĐTS. Trong vụ án này, để
xác định C có phạm tội LĐCĐTS hay khơng thì cần phải xác định được C có hành
vi chiếm đoạt tài sản của anh Phước hay không, hay C chỉ muốn bán chiếc xe cho
anh Phước (tiêu thụ tài sản) để hưởng khoản tiền chênh lệch.
Hồ sơ vụ án cho thấy, khi bán xe chiếc xe Exciter biển số 59V2-33746, C đã cho
Phước xem giấy tờ xe mang tên Huỳnh Văn Liêm. Bản thân Phước biết xe không phải
mang tên Đặng Huy C, Phước không biết địa chỉ của C ở đâu và Phước cũng biết có thể
C sẽ khơng dẫn Liêm đi cơng chứng. Biết tình trạng xe như trên lẽ ra Phước phải từ
chối mua xe do khơng mua từ chính chủ sở hữu nhưng vì tham rẻ nên Phước vẫn đồng
ý mua và chấp nhận rủi ro. Khi mua bán, C đã giao xe (tài sản) và nhận tiền từ Phước, ý
chí của cả hai bên là thuận mua vừa bán, không ai bị ép buộc. Bản thân C chỉ muốn bán
được chiếc xe mà biết rõ là do phạm tội mà có nhằm hưởng khoản tiền chênh lệch (11
triệu đồng), thu lợi bất chính chứ hồn tồn khơng có ý định gian dối nhằm chiếm đoạt
tiền của Phước. Khi Phước đưa 35 triệu đồng cho C là để nhận lại chiếc xe máy và giấy
tờ xe đứng tên Huỳnh Văn Liêm. Hơn nữa, nếu cho rằng C chiếm đoạt 35 triệu đồng
của Phước là khơng hợp lý vì C đã bỏ ra 24 triệu đồng để mua chiếc xe này và thực tế,
C đã giao xe và giấy tờ xe cho Phước.
Tương tự với lần thứ hai, C nhờ An bán xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter
biển số 83C1-25787 cho Phước với giá 35 triệu đồng nhưng chưa kịp nhận tiền thì
bị bắt giữ cùng vật chứng. Hành vi của C trong lần thứ hai này cũng chỉ là để bán
được xe với giá cao hơn nhằm tiêu thụ được xe và hưởng lợi bất chính qua khoản
tiền chênh lệch thu được. Chỉ với hai hành vi mua xe và làm giả giấy tờ tài liệu
nhằm bán xe với giá cao hơn để thu lợi bất chính thì việc cấp sơ thẩm điều tra, truy
tố và xét xử C về hai tội danh tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và tội
làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức mà không xử lý về tội LĐCĐTS là phù
hợp. Vì C khơng có hành vi chiếm đoạt tài sản.
Với vụ án trên, để xác định đúng tội danh đối với hành vi của C thì cần phải
phân định rõ ranh giới giữa hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội LĐCĐTS (Điều 174
BLHS năm 2015) với hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong
14
tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Điều 323 BLHS năm 2015) và
các hành vi có liên quan đến hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
nhưng khơng phải là hành vi chiếm đoạt tài sản – tức không phải là tội phạm. Theo
đó, chiếm đoạt tài sản là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản của người
khác thành tài sản của mình. Cịn tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là
hành vi của người không hứa hẹn trước mà thực hiện một trong các hành vi tiêu thụ
tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có như: mua, bán, thuê, cho thuê, trao
đổi, cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký gửi, cho, tặng, nhận tài sản hoặc giúp cho việc
7
thực hiện các hành vi đó. Hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
khơng có hành vi chiếm đoạt và khơng xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu tài
sản. Hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có chỉ xâm phạm đến trật tự
công cộng, trật tự trị an xã hội và xâm phạm đến hoạt động của các cơ quan tư pháp
trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự.
Như vậy, nếu chiếm đoạt tài sản là hành vi làm cho chủ sở hữu tài sản mất
khả năng thực tế thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản, đồng thời, tạo cho người
chiếm đoạt có thể thực hiện được các quyền này và xâm phạm đến khách thể là
quyền sở hữu tài sản thì tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có khơng có các
đặc trưng này. Đây là điểm khác biệt cơ bản nhất giữa hành vi chiếm đoạt tài sản
với hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Do đó, trong vụ án trên, để xác định C có hành vi chiếm đoạt tài sản và cấu
thành tội LĐCĐTS hay khơng thì cần phải chứng minh được C có hành vi cố ý chuyển
dịch trái pháp luật tài sản đang nằm trong sự quản lý của anh Phước (35 triệu đồng)
thành tài sản của mình bằng thủ đoạn gian dối. Tức là C đã thực hiện hành vi xâm
phạm đến quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt 35 triệu đồng của anh Phước chứ
không phải là muốn bán được chiếc xe mà biết rõ là do phạm tội mà có với giá cao hơn
nhằm tiêu thụ được xe và hưởng lợi bất chính qua khoản tiền chênh lệch.
Từ vụ án này cho thấy vướng mắc được đặt ra là cần có văn bản hướng dẫn
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xác định được thế nào là hành vi chiếm
đoạt tài sản và từ đó, phân biệt được hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội LĐCĐTS
với các hành vi có liên quan đến hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà
có đã được thực hiện trước đó của người phạm tội nhưng khơng phải là hành vi
chiếm đoạt tài sản và không phải là tội phạm.
7 Khoản 2 Điều 2 Thông tư liên tịch số 09/2011/TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC
ngày 30/11/2011 hướng dẫn áp dụng quy định của BLHS về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác
phạm tội mà có và tội rửa tiền.
15
Thứ ba, phân biệt giữa hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội LĐCĐTS (Điều
174 BLHS năm 2015) với các trường hợp khơng phải là tội phạm (khơng có hành vi
chiếm đoạt tài sản và không phạm tội).
8
Vụ án thứ ba:
Quyết định Giám đốc thẩm số 12/2021/HS-GĐT ngày 6/4/2021 của TAND
cấp cao tại Đà Nẵng về vụ án “Trộm cắp tài sản” đối với bị cáo Nguyễn Văn H, sinh
năm 1987.
Nội dung vụ án:
Nguyễn Văn H là cháu của chị L. H đã nhiều lần mượn xe mô tô hiệu
AirBlade biển số 92C1-090.06 của chị L. Lợi dụng việc mượn xe mơ tơ, H đã đánh
thêm 1 chìa khóa và cất giữ với mục đích khi nào chị L đi vắng mà để xe ở nhà thì
H sẽ lấy đi.
Khoảng 08 giờ ngày 16/1/2018, chị L điều khiển xe mô tơ nói trên đến để ở
bãi giữ xe chợ Đ (không gửi xe) rồi vào chợ bán vải. H đi đến bãi xe, dùng chìa
khóa đã đánh từ trước, mở khóa điều khiển xe của chị L về gửi tại nhà xe của
Trường Cao đẳng M. Sau đó, từ ngày 17 đến ngày 19/1/2018, H mang xe mô tô trên
đi bán nhiều nơi nhưng khơng ai mua vì khơng có giấy tờ. Đến ngày 20/1/2018, H
nói với chị L là muốn tìm được xe thì thuê người quen của H tìm xe cho, đưa trước
4 triệu đồng, tìm được xe thì đưa tiếp 15 triệu đồng. Chị L nói lại là nếu tìm được
xe, thấy xe thì đưa tiền chứ không đưa tiền trước. Nghe vậy, H mang xe đến bãi xe
Bệnh viện T để gửi xe. Đến khoảng 2 giờ ngày 21/1/2018, H mượn điện thoại của
người khác, nhắn tin cho chị L với nội dung xe mô tô đang để ở bãi xe của Bệnh
viện T, phiếu gửi xe để trong cốp xe, dì xuống lấy xe thì 11 giờ trưa mang tiền đến
quán cà phê “TT” để gửi cho họ.
Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, H đến chợ Đ để chở chị L đi lấy xe, đến
nơi, H biết chị L đã trình báo Cơng an. Khi H chuẩn bị bỏ trốn thì bị Cơng an mời
làm việc. Q trình làm việc tại cơ quan Cơng an, H khai nhận toàn bộ hành vi
phạm tội của mình.
Quan điểm của các CQTHTT về việc xác định tội danh đối với hành vi của
H:
- Tại Kết luận điều tra số 27/KL-ĐTHS ngày 28/5/2018, Cơ quan cảnh sát
điều tra (CQCSĐT) Công an thành phố (TP) H đề nghị truy tố H về tội “Trộm cắp
tài sản”.
8Phụ lục số: 03.
16
- Tại Cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 10/6/2018, Viện trưởng VKSND TP.H
truy tố H về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 21/7/2018, HĐXX sơ thẩm TAND TP.H quyết định trả hồ sơ để điều
tra, truy tố bổ sung H về hành vi LĐCĐTS với lý do: Ngoài hành vi trộm cắp tài sản
là chiếc xe mô tô của chị L, H còn LĐCĐTS của chị L số tiền 19 triệu đồng để
chuộc xe mô tô.
- Ngày 30/7/2018, Viện trưởng VKSND TP . H có Văn bản số 293/CV-KSĐT
gửi TAND TP.H với nội dung: Toàn bộ tài liệu chứng cứ tại hồ sơ vụ án cho thấy
hành vi của H chỉ cấu thành tội trộm cắp tài sản chứ khơng có căn cứ để khởi tố,
điều tra, truy tố thêm về tội phạm khác.
- Tại Bản án H S S T số 28/2018/HSST ngày 18/8/2018, T A N D T P . H xử
phạt L 9 tháng tù về tội trộm cắp tài sản nhưng cho hưởng án treo. Đồng thời,
HĐXX sơ thẩm ban hành Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 01/2018/HSST-QĐ
ngày 18/8/2018 đối với H về tội LĐCĐTS.
- Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/KNPT-HS ngày 20/8/2019, Viện
trưởng VKSND TP. H đề nghị TAND tỉnh Quảng Nam hủy Quyết định khởi tố vụ án
hình sự 01/2018/HSST-QĐ ngày 18/8/2018 của HĐXX sơ thẩm – TAND TP. H.
- Tại Quyết định giải quyết kháng nghị số 232/2018/HSPT-QĐ ngày
29/10/2018, TAND tỉnh Quảng Nam không chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc
thẩm, giữ nguyên Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 01/2018/HSST-QĐ ngày
18/8/2018 của HĐXX sơ thẩm – TAND TP. H.
- Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 17/QĐ-VC2 ngày 17/01/2021,
Viện trưởng VKSND cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán TAND cấp
cao tại Đà Nẵng xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, hủy các Quyết định khởi tố vụ
án hình sự, Quyết định giải quyết kháng nghị nêu trên và đình chỉ vụ án.
- Tại phiên tịa giám đốc thẩm, Đại diện VKSND cấp cao tại Đà Nẵng đề
nghị Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận kháng nghị giám
đốc thẩm số 17/QĐ-VC2 ngày 17/01/2021 của Viện trưởng VKSND cấp cao tại Đà
Nẵng, hủy các Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định giải quyết kháng nghị
nêu trên và đình chỉ vụ án.
- Tại Quyết định Giám đốc thẩm số 12/2021/HS-GĐT ngày 6/4/2021, TAND
cấp cao tại Đà Nẵng đã hủy Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 01/2018/HSST-QĐ
ngày 18/8/2018 của HĐXX sơ thẩm – TAND TP. H và Quyết định giải quyết kháng
nghị số 232/2018/HSPT-QĐ ngày 29/10/2018 của TAND tỉnh Quảng Nam; đình
17
chỉ giải quyết vụ án hình sự đối với Nguyễn Văn H về hành vi LĐCĐTS do HĐXX
sơ thẩm TAND TP. H khởi tố vụ án tại Quyết định khởi tố vụ án hình sự số
01/2018/HSST-QĐ ngày 18/8/2018.
Nhận xét, đánh giá và vướng mắc đặt ra từ vụ án:
Trong vụ án này có hai quan điểm khác nhau liên quan đến việc xác định tội
danh đối với hành vi của H khi H đưa ra thông tin gian dối là thuê người quen của
H để tìm xe cho chị L, nếu tìm được xe thì chị L phải trả 19 triệu đồng như sau:
- CQCSĐT TP.H, VKSND TP.H, VKSND cấp cao tại Đà Nẵng và TAND cấp
cao tại Đà Nẵng cho rằng hành vi của H đưa ra thông tin gian dối là thuê người
quen của H để tìm xe cho chị L, nếu tìm được xe thì chị L phải đưa cho người đó 19
triệu đồng chỉ là thỏa thuận dân sự với mục đích nhằm che giấu hành vi trộm cắp tài
sản và nhằm tiêu thụ tài sản do H trộm cắp được chứ không phải là hành vi chiếm
đoạt tài sản. Do đó, H khơng phạm tội LĐCĐTS.
- TAND TP. H và TAND tỉnh Quảng Nam cho rằng “...Sau khi chiếm đoạt tài
sản của chị L, H đem xe đi cầm nhưng khơng thực hiện được vì khơng có giấy tờ xe
nên bị cáo đã nói dối với chị L thuê giang hồ đi tìm để chiếm đoạt tiền. Thủ đoạn
gian dối này của bị cáo là một hành vi hoàn toàn độc lập với hành vi lén lút chiếm
đoạt tài sản; hơn nữa đối tượng bị cáo chiếm đoạt là số tiền 19 triệu đồng chứ
không phải là xe máy Air Blade...”. Do đó, hành vi này của H phạm tội LĐCĐTS
(Điều 174 BLHS năm 2015).
Tác giả đồng tình với quan điểm của CQCSĐT TP.H, VKSND TP.H, VKSND
cấp cao tại Đà Nẵng và TAND cấp cao tại Đà Nẵng khi cho rằng hành vi của H đưa
ra thông tin gian dối là thuê người quen của H để tìm xe cho chị L, nếu tìm được xe
thì chị L phải đưa cho người đó 19 triệu đồng chỉ là thỏa thuận dân sự mà không
phải là hành vi chiếm đoạt tài sản. Do đó, H khơng phạm tội LĐCĐTS.
Trong vụ án này, để xác định H có phạm tội LĐCĐTS (Điều 174 BLHS năm 2015)
hay khơng thì cần phải xác định được khi H đưa ra thơng tin gian dối đối với chị L,
H có hành vi chiếm đoạt tài sản (là 19 triệu đồng của chị L) hay không.
Nội dung vụ án cho thấy, khi H lấy được chiếc xe máy của chị L ra khỏi bãi giữ
xe chợ Đ thì hành vi trộm cắp tài sản của H đã hoàn thành. Sau khi hành vi trộm cắp tài
sản đã hoàn thành, H lại tiếp tục có hành vi độc lập khác là đưa ra thông tin không đúng
sự thật để lừa dối chị L. Đó là, H nói với chị L nếu muốn tìm được xe thì thuê người
quen của H tìm xe cho, đưa trước 4 triệu đồng, tìm được xe thì đưa tiếp thêm 15 triệu
đồng. Như vậy, giữa H và chị L đã thỏa thuận về việc tìm kiếm xe, nếu
18
H thuê người tìm được xe thì chị L trả cho H 19 triệu đồng. Như vậy, bản chất sự
việc ở đây là sự thỏa thuận giữa chị L và H để H tìm kiếm giúp xe mơ tơ đã bị mất
trộm, nếu H tìm được thì chị L chuộc lại. Hơn nữa, với các tình tiết của vụ án có thể
thấy, H đưa ra thơng tin gian dối này là nhằm mục đích che giấu hành vi trộm cắp
tài sản đã thực hiện trước đó của mình và nhằm tiêu thụ tài sản do H trộm cắp được
trước đó chứ H hồn tồn khơng có ý thức lừa đảo chị L để chiếm đoạt số tiền 19
triệu đồng. Bởi chiếm đoạt tài sản là hành vi cố ý chuyển biến trái pháp luật tài sản
của người khác thành tài sản của mình. Ở đây đơn thuần là thỏa thuận dân sự, nếu
người của H tìm được xe thì chị L sẽ chuộc lại chiếc xe đó 19 triệu đồng.
Nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt trong quan điểm của các CQTHTT khi xác
định tội danh đối với hành vi của H trong vụ án này là xuất phát từ việc xác định khi
H đưa ra thông tin gian dối đối với chị L, thì đây là hành vi nhằm chiếm đoạt số tiền
19 triệu đồng của chị L hay đây chỉ là một thỏa thuận dân sự nhằm che giấu hành vi
trộm cắp tài sản trước đó của mình và nhằm tiêu thụ tài sản do H trộm cắp được
trước đó.
Như vậy, vướng mắc đặt ra từ vụ án này là cần phân biệt rõ giữa hành vi
chiếm đoạt tài sản với các thỏa thuận dân sự thông thường – không phải là hành vi
chiếm đoạt tài sản để xác định được hành vi của một người có phải là hành vi phạm
tội LĐCĐTS hay là không phạm tội.
1.3. Một số kiến nghị hồn thiện
Như đã phân tích tại mục 1.2 của Luận văn, thực tiễn định tội danh tội LĐCĐTS
theo hành vi chiếm đoạt tài sản vẫn còn tồn tại một số hạn chế, vướng mắc. Đó là các
CQTHTT chưa xác định rõ được hành vi chiếm đoạt tài sản nên trong một số trường
hợp cịn có sự nhầm lẫn trong việc xác định giữa hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội
LĐCĐTS với hành vi sử dụng trái phép tài sản trong tội sử dụng trái phép tài sản; hoặc
với các hành vi có liên quan đến hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
đã thực hiện trước đó nhưng khơng phải là tội phạm; hoặc phân biệt giữa hành vi chiếm
đoạt tài sản trong tội LĐCĐTS với các trường hợp không phải là tội phạm (khơng có
hành vi chiếm đoạt tài sản và không phạm tội).
Thực tiễn cho thấy, các vướng mắc trong việc định tội danh tội LĐCĐTS
theo hành vi chiếm đoạt tài sản nêu trên chủ yếu xuất phát từ các lý do sau đây:
- Hiện nay, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa ban hành văn bản hướng
dẫn cụ thể về hành vi chiếm đoạt tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chất
chiếm đoạt nói chung và hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội LĐCĐTS nói riêng.
19
- Chính vì khơng có văn bản hướng dẫn về hành vi chiếm đoạt tài sản cùng
với những biểu hiện phong phú, đa dạng của các hành vi được thực hiện trên thực tế
(có thể là hành vi chiếm đoạt tài sản và phạm tội hoặc cũng có thể khơng phải là
hành vi chiếm đoạt tài sản, không phạm tội hoặc phạm một tội khác) nên các
CQTHTT, người tiến hành tố tụng có thể hiểu hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội
LĐCĐTS theo nhiều cách khác nhau dẫn đến việc nhận thức và áp dụng pháp luật
chưa thống nhất.
Trên cơ sở các vướng mắc và nguyên nhân của các vướng mắc nêu trên, tác
giả đề xuất một số kiến nghị nhằm hồn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong việc
nhận thức và áp dụng hành vi chiếm đoạt tài sản của tội LĐCĐTS (Điều 174
BLHS năm 2015) như sau:
Thứ nhất, tác giả kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần ban hành
văn bản hướng dẫn cụ thể về hành vi chiếm đoạt tài sản để có thể phân biệt được rõ
ràng giữa các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt nói chung và tội LĐCĐTS
(Điều 174 BLHS năm 2015) nói riêng với các tội phạm khơng có tính chất chiếm
đoạt cũng như để phân biệt với các trường hợp không phải là tội phạm với nội dung:
“Hành vi chiếm đoạt tài sản quy định trong các điều luật từ Điều 168 đến
Điều 175 BLHS năm 2015 là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang
thuộc sự quản lý của người khác thành tài sản của mình.
Hành vi chiếm đoạt tài sản phải có đủ các đặc điểm sau đây:
- Hành vi chiếm đoạt tài sản phải là hành vi làm cho chủ sở hữu tài sản mất
khả năng thực tế thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản, đồng thời, tạo cho người
chiếm đoạt có thể thực hiện được các quyền này. Quyền sở hữu đối với tài sản
được hiểu theo quy định tại Điều 158 BLDS năm 2015, bao gồm quyền chiếm hữu,
quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật.
Nếu một hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác nhưng không
xâm phạm đến quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu thì không phải là hành vi
chiếm đoạt tài sản quy định trong các điều luật từ Điều 168 đến Điều 175 BLHS
năm 2015 (ví dụ như hành vi sử dụng trái phép tài sản quy định tại Điều 177 BLHS
năm 2015).
- Tài sản là đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt tài sản phải đang có
người quản lý. Sự quản lý này có thể là sự quản lý hợp pháp hoặc cũng có thể là sự
quản lý bất hợp pháp. Nếu tài sản đã thoát ly khỏi sự quản lý, chiếm hữu của người
quản lý tài sản thì khơng phải là đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt tài sản.
20
- Người thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản phải có lỗi cố ý trực tiếp. Người
phạm tội biết rõ tài sản bị chiếm đoạt đang có người quản lý nhưng vẫn mong
muốn chuyển biến trái pháp luật tài sản đó thành tài sản của mình”.
Thứ hai, tác giả kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần ban hành văn
bản hướng dẫn để phân biệt hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội LĐCĐTS với các
hành vi gian dối có liên quan đến các hành vi phạm tội đã thực hiện trước đó của
người phạm tội nhưng không phải là hành vi chiếm đoạt tài sản với nội dung:
“Trong trường hợp người phạm tội có hành vi đưa ra thông tin gian dối nhưng việc
đưa ra thông tin gian dối này khơng nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản (tức không
phải là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản
của mình) như chỉ nhằm che giấu hành vi phạm tội đã thực hiện trước đó của mình
hoặc chỉ nhằm tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, hoặc chỉ nhằm tiêu
thụ tài sản do người phạm tội đã chiếm đoạt được trước đó …thì khơng phải là
hành vi chiếm đoạt tài sản và không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội
LĐCĐTS (Điều 174 BLHS năm 2015)”.
Thứ ba, thực tiễn cho thấy hành vi chiếm đoạt tài sản rất đa dạng, phong phú
và phức tạp. Tùy vào mỗi điều kiện, hồn cảnh, tình huống, chủ thể, đối tượng tác
động, thủ đoạn khác nhau… mà có các hành vi chiếm đoạt tài sản khác nhau. Do
đó, để việc áp dụng pháp luật được thống nhất, tác giả kiến nghị TANDTC cần xây
dựng hệ thống án lệ để giúp phân biệt rõ giữa hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội
LĐCĐTS với hành vi của các tội phạm khơng có tính chiếm đoạt và với các hành vi
không phải là tội phạm (quan hệ dân sự, kinh tế…).